Khi Louise Brown, em bé đầu tiên được sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm chào đời năm 1978, công nghệ giúp thực hiện điều này đã bị nhiều giáo sĩ và nhà báo lên án, bởi họ nghĩ những người kia đang cả gan làm công việc của Chúa. Hiện tại, có hơn năm triệu em bé sinh ra từ ống nghiệm trên thế giới; vợ, chồng hoặc bạn thân của bạn có thể chính là một trong số đó.
Người ta đã quyết định ủng hộ phương pháp này, bất chấp những chỉ trích mạnh mẽ.
Tương tự, khi cừu Dolly, con vật nhân bản đầu tiên ra đời năm 1996, rất nhiều ý kiến lên án công nghệ này là vô đạo đức, thậm chí báng bổ Chúa. Hiện tại, nhân bản vô tính đã được chấp nhận rộng rãi. Tôi hỏi chuyên gia công nghệ sinh học Robert Lanza rằng khi nào ta mới nhân bản được người. Ông chỉ ra rằng tới động vật linh trưởng cũng chưa ai nhân bản được, chứ chưa nói đến nhân bản người. Nhưng ông nghĩ rồi ngày đó sẽ đến. Và kể cả khi thực hiện được nhân bản người, cũng chỉ có số ít quyết định nhân bản chính mình. (Nhiều khả năng đó là những người giàu có không có con hoặc có con nhưng họ không quan tâm. Họ nhân bản chính mình để tiếp tục hưởng thụ sự giàu có.)
Nhiều người còn chỉ trích “những đứa bé theo thiết kế”, tức những đứa con được cha mẹ biến đổi gen. Nhưng ngày nay, việc tạo một lúc vài phôi trong ống nghiệm, sau đó loại bỏ phôi có khả năng mắc bệnh chết người (như bệnh Tay-Sachs), đã trở nên phổ biến. Như vậy, chỉ trong vòng một thế hệ, chúng ta sẽ loại bỏ thành công những gen gây hại.
Khi điện thoại được ra mắt lần đầu tiên vào thế kỷ trước, nó cũng gặp phải nhiều phê phán. Họ cho rằng việc nói chuyện với một giọng nói vô hình, kỳ quái, thay vì nói chuyện mặt đối mặt với người thật, là điều trái tự nhiên; họ cũng sợ rằng ta sẽ dành quá nhiều thời gian để nói chuyện điện thoại thay vì trò chuyện cùng các con và bạn bè thân thiết. Đương nhiên những lời chỉ trích đó là đúng. Ta dành quá nhiều thời gian để nói chuyện với giọng nói lơ lửng trong không khí. Ta không trò chuyện đủ cùng con cái. Nhưng ta yêu điện thoại, đôi khi ta cũng dùng nó để nói chuyện với các con. Dân chúng sẽ tự quyết định mình có muốn sử dụng một công nghệ mới hay không, chứ không phải những người viết báo. Trong tương lai, khi công nghệ cao có thể nâng cấp nhân loại xuất hiện, người dân sẽ tự quyết nên dùng nó đến mức độ nào. Nếu công nghệ gây tranh cãi, tốt nhất nên bàn luận dân chủ trước khi đưa ra ứng dụng. (Hãy tưởng tượng một người từ thời Tòa án dị giáo tới thăm thế giới hiện đại. Quá quen với những chuyện thiêu sống phù thủy và tra tấn người dị giáo, người này sẽ kết tội toàn thể nền văn minh hiện đại là lũ báng bổ.) Điều có vẻ vô đạo đức hay trái đạo lý hôm nay, trong tương lai có thể là điều rất đỗi bình thường.
Dù thế nào, nếu muốn thám hiểm các hành tinh và các vì sao, ta sẽ phải biến đổi, nâng cấp bản thân để sống sót trong hành trình đó. Và, do việc chúng ta có thể cải tạo một hành tinh đến đâu là có giới hạn, nên ta cần thích nghi bản thân với các điều kiện khí quyển, nhiệt độ và trọng lực khác nhau. Do đó, nâng cấp về mặt di truyền và cơ học là cần thiết.
Tới đây, chúng ta chỉ mới bàn đến khả năng nâng cấp con người. Điều gì sẽ xảy ra nếu giữa quá trình khám phá không gian, ta chạm trán với một dạng sống thông minh hoàn toàn lạ lẫm? Hơn nữa, điều gì sẽ xảy ra nếu ta gặp gỡ những nền văn minh đi trước ta hàng triệu năm về công nghệ?
Và nếu ta không gặp gỡ nền văn minh tiến bộ nào, thì liệu chúng ta sẽ trở nên tiến bộ ra sao? Tuy không thể dự đoán trước các vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội của một nền văn minh tiên tiến, nhưng có một điều mà ngay cả các nền văn minh ngoài hành tinh cũng sẽ phải tuân thủ, đó là các định luật vật lý. Vậy vật lý sẽ cho ta biết điều gì về những nền văn minh tiên tiến như thế?