Trong khoa Nghiên cứu bệnh học, màn đêm luôn ngự trị. Quirke thường cho rằng đó là thứ duy nhất ông thích ở công việc của mmh. Chẳng phải ông đặc biệt thích hoạt động về đêm. Có lần, trong quán rượu, ông cười tê tái, khẳng định với bạn nhậu rằng “Ông cũng chẳng bệnh hoạn gì hơn một bác sĩ pháp y bình thường”. Tuy nhiên, khi ở sâu dưới đất, cách mặt đường giữa nơi phố phường đông đúc những gần mười mét, ai cũng phải thấy an bình và dễ chịu. Thêm vào đó, nơi đây cho ta cảm giác vẫn còn tiếp diễn những hoạt động y khoa có từ thời xa xưa, những kỹ năng bí mật của một công việc quá tối ám đến độ không thể thực hiện dưới ánh sáng ban ngày.
Không hiểu sao Quirke lại giao việc khám nghiệm tử thi bà Moran cho Sinclair dù ông không hề khó chịu khi phải rạch dao mổ vào thi thể người có quen biết đôi chút. Sinclair tưởng mình chỉ phụ mổ, nhưng Quirke cứ ấn dao mổ vào tay anh và giục phải làm ngay. Lúc đầu chàng trai nghi ngại, tưởng sếp thử tài hoặc đẩy mình vào bẫy nghề nghiệp. Nhưng khi thấy Quirke vừa vào văn phòng vừa lẩm bẩm cố nhớ những việc cần làm cho xong, anh hăng hái bắt tay vào việc. Thực tế, Quirke tảng lờ đống giấy tờ đang chờ ông hoàn tất. Suốt một giờ liền, ông chỉ ngồi gác chân lên bàn hút thuốc và trầm tư trong lúc lắng nghe Sinclair miệt mài trong phòng mổ với dao và cưa các loại.
Do những lý do không muốn suy xét kỹ, Quirke quyết định rằng vụ thảm sát bà Dolly Moran không liên quan gì đến vụ Christine Falls. Quả đúng là đáng ngờ, chỉ vài giờ sau khi ông đến đường Crimea lần thứ hai, bà Moran bị sát hại. Liệu bà có biết tính mạng mình đang bị đe dọa? Có phải chính vì biết, bà mới không cho ông vào nhà? Trong những lời bà nói qua khe cửa, có cái gì cứ trườn khỏi tâm trí Quirke, hệt như con sâu bướng bỉnh. Nếu có láng giềng nào từ bên kia đường vén màn cửa ngó sang, chắc chắn họ sẽ coi ông là thằng hề khi cúi lom khom trước khe bỏ thư nói vọng vào (đúng là ông đã say sau chầu rượu ở quán Jammet’s), tức tối đòi phải kể về con của Christine Falls và tình hình hiện tại của nó. Bà Moran rít lên đáp trả “Tôi không nói gì hết. Lúc trước tôi trót dại nói quá nhiều rồi”. Giờ ngồi nghĩ lại, Quirke bàng hoàng vì tiếng bà ta khi đó như vẳng từ khe thông gió trên quan tài! Nhưng tối hôm trong quán rượu mịt mờ khói, bà đã nói những gì để sau này phải hối hận vì đã nói “quá nhiều”? Khi ghé sát miệng vào khe bỏ thư và tức tối hét ầm ĩ, ông có bị theo dõi không? Giờ những câu hỏi ấy cứ lơ lửng trong óc ông.
Không! Quirke tự nhủ: Chẳng có gì quan trọng. Chẳng qua ông khéo tưởng tượng và quá lập dị, thế thôi! Trong thế giới thượng lưu ông đang sống, người ta không bị rút móng tay, phần trong cánh tay họ không bị đầu thuốc đỏ lửa châm cháy sém. Những người ông quen không bị đánh bằng gậy gộc cho đến chết ngay trong bếp nhà mình. Vậy ông biết gì về Dolly Moran ngoài việc thức uống ưa thích của bà là rượu gin và ngày xưa bà từng giúp việc cho nhà Griffin?
Rời ghế đứng dậy, Quirke đi tới đi lui trong diện tích hẹp giữa bàn làm việc và tường nhà. So với ông, văn phòng này và mọi thứ bên trong đều quá bé. Nửa khôi hài, nửa chán nản, ông hay tưởng tượng thân hình hộ pháp của mình bị treo lên theo chiều thẳng đứng, bị xoay vòng, quăng quật không thương xót vào bàn ghế, tủ kệ trong phòng và cuối cùng bị ấn vào góc phòng nhỏ xíu. Thân hình cao lớn khác thường luôn là gánh nặng cho ông. Từ bé, người ông đã to lớn kềnh càng như chiếc xe buýt thô kệch nên sớm là mục tiêu thách đấu, đầu tiên là của đám bất trị trong cô nhi viện, rồi đến lũ nam sinh ngổ ngáo chuyên đi bắt nạt trong trường, đến thành viên đội bóng bầu dục trong các buổi dạ vũ và sau cùng là dân say xỉn trong các quán rượu trước giờ đóng cửa. Thế nhưng, ông chưa bao giờ tham gia vào vụ ẩu đả nghiêm trọng nào. Quirke chỉ có thể làm tử thi chảy máu trên bàn mổ mà thôi.
Có điều rất lạ là hình ảnh bà Moran chết trong bếp làm Quirke cực kỳ xúc động. Từ trước đến giờ, ông xử lý vô số xác chết, nhiều thi thể bầm dập ghê gớm hơn Moran nhiều, nhưng tính chất bi thảm của hiện trường gây cho ông ấn tượng mạnh. Hình ảnh nạn nhân nằm chỏng queo trên nền gạch, tay chân bị trói vào ghế, đầu nằm giữa vũng máu của chính mình làm dấy lên trong ông cơn thịnh nộ và nỗi đau đớn chưa thể nguôi ngoai. Nếu bắt được kẻ đã sát hại Moran dã man như thế, ông sẽ... ông sẽ... Đến đây, Quirke không nghĩ tiếp được nữa. Ông sẽ làm gì chứ? Ông không quen với ý tưởng trả thù. Dolly nói đúng: Phải, toàn người chết. Vậy có va chạm gì đâu mà sợ.
Đến bên cửa kính, Sinclair gõ nhẹ rồi bước vào. Anh luôn cẩn thận, tỉ mỉ khi làm việc. Một lao công từng quả quyết “Anh Sinclair mổ xác chậm như người ta ‘nhai’ đồ uống vậy”. Tạp dề bằng nhựa dẻo của anh rất ít vết bẩn, đôi ủng xanh lá cây chỉ đi trong phòng mổ vẫn sạch bong. Lôi từ một ngăn kéo của tủ hồ sơ chai whisky, Quirke rót một chút vào chiếc cốc vại. Đấy là thói quen ông có từ rất lâu và được coi là rượu mừng sau ca mổ. Hôm nay, tự nhiên khoảnh khắc ấy trang trọng khác thường. Ông trao cốc cho Sinclair:
- Tình hình thế nào?
Sinclair chờ sếp tự rót rượu cho mình nhưng Quirke không còn lòng dạ nào nhâm nhi ly rượu buồn tưởng nhớ Moran. Đứng từ đây, ông cố tránh không liếc về phía xác của bà tái nhợt nằm dài trên bàn sắt.
Sinclair nhún vai.
- Không có gì bất ngờ. Chấn thương sọ não, nội thương do bị đánh đập dã man. Hình như hung thủ không chủ tâm giết bà ta. Chẳng qua do ghế đổ nghiêng, nạn nhân đập đầu xuống nền nhà lát đá nên thiệt mạng.
Nhìn ly rượu còn nguyên trên tay, Sinclair nghi ngờ sự tiết độ bất thường của Quirke.
- Sếp quen bà ấy phải không ạ?
Quirke giật mình. Vì nhớ chưa từng thổ lộ với Sinclair chuyện ông điều tra Dolly Moran nên ông không biết phải trả lời ra sao. May thay, một bóng người cao lớn mặc áo khoác dài, đội mũ mềm xuất hiện ở ngưỡng cửa, ngay sau lưng Sinclair. Quirke vội ra đón. Thanh tra Hackett với nét mặt tươi tỉnh thường trực khép nép đi vào, trông như khán giả vào rạp chiếu phim trễ. Kềnh càng không kém Quirke, anh thấp hơn ông một cái đầu. Tuy nhiên, anh không lấy thế làm phiền. Quirke đã quen cảnh người bình thường hay điệu bộ khi đứng trước mặt ông: nào ngả người ra sau, nào nhô vai lên, vươn cổ ra... Hackett không bao giờ làm thế. Anh ngẩng lên nhìn Quirke bằng ánh mắt ngờ vực và ngầm đánh giá như thể không phải Quirke mà chính anh ta là người có lợi thế vượt trội, có quyền cao ngạo và sở hữu địa vị cao trọng. Đầu Hackett vuông chằn chặn, cặp môi mỏng hay mím chặt và cái mũi đầy sẹo rỗ trông như củ khoai tây mốc. Đôi mắt màu nâu nhạt của viên thanh tra giống cặp ống kính máy ảnh lia đi khắp nơi, ghi lại mọi thứ. Chạm phải ánh mắt của Hackett, Sinclair vội bỏ ly whisky uống dở xuống bàn, lẩm bẩm câu gì không rõ rồi bỏ ra ngoài. Hackett dõi mắt nhìn theo phụ tá của Quirke sang phòng mổ, cởi bỏ tạp dề và vừa sải bước vừa nhanh tay phủ mảnh vải nilon đậy xác Dolly Moran trước khi ra ngoài theo cửa bên.
Viên thanh tra quay sang Quirke.
- Ông giao cho anh ta xét nghiệm tử thi bà Moran à?
Bác sĩ pháp y lục ngăn kéo tìm thuốc lá.
- Sinclair cần làm nhiều cho quen tay.
Ngăn kéo không có thuốc. Hackett chìa bao thuốc ra và họ cùng châm lửa hút. Quirke kéo gạt tàn trên bàn lại gần. Ông cảm tưởng mình đang chơi một ván cờ trong đó ông vừa là người chơi vừa là một quân cờ. Thái độ dễ dãi và giọng nói kéo dài của người vùng Midlands của viên thanh tra không đánh lừa được ông: ông đã nhiều lần chứng kiến Hackett phá án nên biết rất rõ.
- Vậy ông quyết định thế nào?
Quirke thuật lại khám phá của Sinclair. Hackett gật gật và ngồi ghé lên mép bàn của Quirke. Anh ta vẫn đội nguyên mũ. Được một lát, Quirke cũng ngồi lên ghế xoay sau bàn làm việc. Hackett đăm đăm nhìn ly rượu mà Sinclair bỏ lại nơi góc bàn. Một tia sáng nhỏ như ngôi sao tí hon lung linh dưới đáy ly. Quirke mời:
- Cậu uống một ly nhé?
Hackett không đáp nhưng hỏi lại:
- Bà ta có bị quấy rối không?
Quirke bật cười:
- Nếu cậu định hỏi Moran có bị cưỡng dâm không thì câu trả lời là không. Không hề có chuyện đó.
Hackett lạnh lùng nhìn ông giây lát. Bầu không khí trong phòng như căng ra. Viên thanh tra không thích người khác cười vào mặt mình.
- Phải, ý tôi muốn hỏi như thế.
Ánh sáng từ cây đèn bàn chiếu hắt lên khiến khuôn mặt Hackett trông như mặt nạ: cằm chìa ra, hai cánh mũi rộng và hai hốc mắt sâu. Một lần nữa, cảnh hiện trường có nạn nhân nằm trên nền nhà, cánh tay đầy vết bỏng và vũng máu gần như đen thẫm dưới ánh đèn tròn treo trên trần nhà. Hackett kết luận:
- Vậy chúng không có ý định tiêu khiển.
Quirke nghiêm giọng hỏi:
- Thế cậu tưởng hung thủ muốn “vui vẻ” nên làm thế à? Sao cậu nói “chúng”? Vậy có bao nhiêu tên cả thảy?
- Hai. Cũng xin nói luôn là sau vườn có dấu chân. Tất nhiên, không ai quanh đó nghe hoặc nhìn thấy gì. Hoặc có thể họ thấy nhưng còn mải lo việc riêng nên không nhớ. Ngay cả bà Dolly đáng thương bên kia đường, người theo tôi có thể nghe cả tiếng quạ ho khẽ cũng không biết. Phải cần đến hai người để trói bà Moran vào ghế. Ta giả thiết rằng suốt thời gian đó nạn nhân vẫn tỉnh táo. Trói chân phụ nữ không dễ đâu. Họ khỏe hơn ta tưởng, thậm chí cả người đã luống tuổi như bà Dolly.
Quirke cố tìm hiểu cảm xúc sau “tấm mặt nạ” kia nhưng đành chịu. Hackett gần như tủm tỉm cười.
- Ông có biết bọn chúng tìm gì không? Nhất định có khả năng ấy vì đồ đạc trong nhà bị rạch và xé tan hết cả.
Quirke vừa rít hơi thuốc cuối cùng, Hackett đã chìa ngay bao thuốc. Sau một thoáng ngần ngừ, ông rút thêm một điếu. Khói tỏa từ đầu bàn trông như sương mù giữa biển tối đen. Tiếng bà Moran vang lên trong đầu ông: “Tôi ghi chép lại hết”. Ông ho khẽ.
- Tôi không biết chúng tìm gì.
Giọng ông đặc biệt lớn khiến chính ông cũng phải giật mình. Hackett lại nhìn xoáy vào ông. Chưa bao giờ mặt anh ta giống mặt nạ như lúc này. Trên đầu họ, từ mấy tầng trên của bệnh viện vẳng xuống tiếng đổ vỡ. Tự nhiên Quirke liên tưởng đến những tiếng động không thể giải thích được. Hackett coi đó là dấu hiệu để đứng dậy, đến tựa vào khung cửa nhìn xác bà Moran phủ vải nhựa. Ánh sáng từ mấy bóng đèn lớn trên trần hình như hơi run rẩy. Hackett trở lại đề tài cũ như thể họ chưa hề ngưng bàn bạc:
- Vậy bà Moran biết cô... cô gì nhỉ?
- Christine Falls.
Quirke thầm trách mình quá nhanh nhảu. Hackett gật gù nhưng không quay đầu lại.
- À phải. Nhưng xin ông cho biết ông có thường đưa số điện thoại của mình cho bạn của một người đã khuất không?
Quirke không biết phải trả lời thế nào, nhưng ông bắt buộc phải giải thích:
- Tôi quan tâm đến trường hợp Christine Falls.
Vẫn không quay đầu lại, Hackett chăm chú nhìn cửa kính như thể có cái gì đó rất thú vị trong căn phòng trống trải. Anh ta hỏi:
- Tại sao?
Dù biết Hackett không nhìn thấy mình, ông vẫn nhún vai:
- Do tò mò thôi. Bệnh nghề nghiệp ấy mà. Đôi khi tay mổ người chết nhưng đầu đoán già đoán non xem lúc sống họ thế nào.
Ông biết mình vừa nói quanh co nhưng không biết làm sao để thanh minh. Hackett quay sang cười vui vẻ. Quirke chỉ muốn bảo thẳng anh ta bỏ ngay mũ xuống.
- Sao cô ấy chết thế?
- Ai cơ?
- Cô gái họ Falls ấy.
- Tắc mạch phổi.
- Cô ta bao nhiêu tuổi?
- Trẻ. Nhưng người trẻ cũng có thể mắc chứng ấy.
Hackett nhìn kỹ đôi giày cao cổ dưới chân. Áo khoác mở phanh, anh đút tay vào túi áo vest màu xanh dương cài nút cẩn thận. Lát sau, anh ngẩng lên và đi ra cửa:
- Ông nói đúng. Tôi phải đi đây.
Bị bất ngờ, Quirke xô ghế đứng dậy. Ông gần như tuyệt vọng nói với theo:
- Này này, nếu bên cậu phát hiện điều gì, nhớ cho tôi biết với nhé?
- Đừng lo, ông Quirke. Chắc chắn chúng tôi sẽ phát hiện nhiều thứ lắm đấy.
Viên thanh tra cười tươi ngoái đầu nói dí dỏm rồi mở cửa đi ra và đóng ngay lại trước khi Quirke kịp ra khỏi bàn làm việc. Không cần biết mình đang ở đâu và làm gì, ông uống cạn ly rượu của Sinclair và lục tủ hồ sơ lấy chai rượu rót thêm một ly nữa. Ông căm tức nghĩ: “Này Mal Griffin, mi nợ ta nhiều lắm đấy”.