Hôm nay, căn phòng nổi tiếng Crystal Gallery trong dinh thự Moss Manor có sức chứa ba trăm người chưa thể gọi là chật cứng. Vào thập niên sáu mươi của thế kỷ mười chín, nhà triệu phú người Ailen, chủ nhân dinh thự, đã trao cho kiến trúc sư một bức tranh minh họa vẽ Cung điện Pha lê ở Luân Đôn xé từ cuốn tạp chí và bảo ông xây giống như tranh. Kết quả là một công trình kiến trúc to lớn, xấu xí làm từ sắt và kính (giống hệt mắt con côn trùng khổng lồ) gắn vào cạnh bên của tòa nhà, trông ra vịnh Massachusetts, ngó tới thị trấn Province. Bên trong, phòng lớn được sưởi ấm bằng mạng lưới đường ống nước nóng chằng chịt dưới nền nhà, những hàng cọ sum suê chen lẫn hàng chục loài phong lan, và cả những giống dây leo xanh thẫm không rõ tên tuổi uốn quanh cột thép được đúc theo hình thân cây mảnh dẻ “mọc” lên cao vút với những chiếc lá bằng sắt hình răng lược xòe rộng đỡ mái nhà bằng kính cách mặt đất hơn ba chục mét.
Hôm nay, người ta kê chiếc bàn có chân mễ rộng mênh mông dưới tán cọ để bày la liệt đồ ăn ngày hội: nào gà tây chặt miếng, thịt viên nướng và thịt ngỗng quay, nào salad khoai tây trộn trong những thố lớn, nào bánh bông lan hoa quả và bánh ngọt hương mận bày trong đĩa bầu dục to tướng, trông như vỏ trái bom của bè lũ vô chính phủ. Xen giữa đồ ăn là những tô thủy tinh đựng rượu pân và bia xếp thành hàng sẵn sàng phục vụ các quý ông. Trên sân khấu sát một bên tường, ban nhạc mặc lễ phục màu trắng chơi ồn ã vài bản nhạc phổ biến. Len lỏi giữa mấy dãy bàn ăn chỉ có vài cặp nam nữ dè dặt khiêu vũ. Vô số cành nhựa ruồi bằng chất dẻo là biểu tượng thiêng cắm xen vào giữa các tán cọ trông không hợp lý chút nào. Nôi giữa các thân cây và cột nhà là dây cờ đuôi nheo cắt bằng giấy kếp đủ màu sắc. Phía trên sân khấu có tấm băng rôn bằng satanh trắng mang dòng chữ in hoa màu đỏ cầu chúc mọi nhân viên của hãng Crawford Transport một Giáng sinh an lành. Bên ngoài, trời đã nhập nhoạng tối. Sương trắng dày đặc trên những mảnh vườn cắt tỉa cầu kỳ giờ chùn trong tuyết. Xa hơn nữa là đại dương đen thẫm trải dài mênh mông sau bờ cát phủ sương tim tím. Thi thoảng, những mảng tuyết hình vuông cỡ tấm kính cửa sổ từ mái rơi xuống, vỡ thành đám bột trắng lặng lẽ trượt trên bức tường bằng kính một cách ma quái trước khi hòa mình vào những đụn tuyết có sẵn bên lề bãi cỏ tự bao giờ.
Tiệc chỉ mới bắt đầu chừng một tiếng đồng hồ nhưng Andy Stafford đã nốc rất nhiều bia chai. Như mọi khi, Claire thích ngồi bàn trên cùng để theo dõi không sót một chi tiết nào của diễn tiến buổi họp mặt nhưng chồng cô khăng khăng đòi ngồi phía dưới, tránh xa ban nhạc mà hắn cho là già nua và lạc hậu. Lúc này, Andy đang ngồi một mình, hằn học nhìn vợ khiêu vũ với gã Joe Lanigan đáng ghét. Đứa bé nằm trong nôi dưới chân Andy. Hắn không thể hiểu vì sao xung quanh ồn ã như vậy mà nó vẫn ngủ ngon lành. Vợ hắn bảo lâu dần hắn sẽ quen với đứa nhỏ nhưng mấy tháng nối nhau qua đi, Andy vẫn cảm giác cuộc sống của hắn bị “thôn tính” đáng kể. Hoàn cảnh hiện nay sao giông hồi hắn còn bé, lúc anh họ Billy đến ở chung nhà. Chỉ được vài hôm, bố hắn đã lấy súng săn bắn toác đầu Billy trơ tráo. Giờ đứa nhỏ cũng khó ưa như ông anh họ Billy xuất xứ bần nông có đôi tay to bè, thô kệch và cặp mắt phủ lông mi màu rơm khô lúc nào cũng nhìn ngó, nghe ngóng và ghi xương khắc cốt mọi chuyện.
Joe Lanigan làm nghề lái xe tải như Andy. Gã Ailen ấy có khuôn mặt bèn bẹt đầy tàn nhang, đầu vuông chằn chặn và hai cánh tay dài như tay khỉ. Gã nhảy như thằng nhà quê: đầu gối giơ quá cao, hai tay nắm tay Claire vung xuống quá thấp, thiếu điều muốn chạm xuống nền nhà. Andy cay đắng nhìn cả hai. Vợ hắn nói không ngơi miệng (ả nói gì thế nhỉ?) và cười toe toét để lộ cả nướu hàm răng trên như thể vui lắm lắm. Khi nhạc sắp kết thúc, kèn trumpet ré lên nốt nhạc cuối, Lanigan lùi xuống, cúi gập chào rất điệu. Thấy thế, Claire áp hai bàn tay lên ngực, nghiêng đầu, mắt chớp chớp giống nhân vật nữ chính trong phim câm. Thế rồi, cả hai cùng cười ngặt nghẽo. Lanigan trở về bàn cùng tay phụ lái (Andy không nhớ tên gã này) béo ị, thấp lùn đang ngồi nói chuyện với hai con bé trông như dân bồi bàn chính hiệu. Gã vừa kéo ghế ngồi, vừa hất đầu về phía Claire đang mỉm cười đi về phía Andy, nói câu gì đó. Thằng béo cùng hai ả đĩ thõa kia cười sằng sặc. Đúng lúc ấy, gã béo nhìn về phía Andy với nụ cười thương hại.
về đến bàn, Claire than vãn:
- Chao ôi, chóng mặt quá thể.
Cô vung đầu gối, vắt chân chữ ngũ, tay chạm nhẹ vào tóc bắt chước điệu bộ của các nữ minh tinh. Nhìn dáng điệu vợ, Andy có thấy cô chóng mặt gì đâu. Hai nách áo sơmi của Claire ướt đẫm. Khi Andy đứng lên bảo sẽ đi lấy thêm bia, Claire nói khẽ khàng bằng giọng ngọt ngào rằng hắn nên vui vẻ với mọi người. Dù vợ vừa mỉm cười vừa khuyên như thế, Andy vẫn lừ mắt với cô. Claire đành thôi và nói trên đường đi lấy bia, hắn nhân tiện lấy cho cô ly rượu pân. Lúc hắn đi rồi, Claire háo hức cúi xuống nôi có mui bằng sợi mây và cười trông rất dở hơi. Lúc nào Andy cũng thấy vợ cười ngớ ngẩn hết chỗ nói.
Biết đáng lẽ nên tránh thì hơn nhưng lấy đồ uống xong, Andy vẫn đi vòng qua bàn Lanigan. Hắn dừng lại, cất tiếng chào. Thấy thế, Lanigan làm ra vẻ ngạc nhiên, quay cái đầu vuông vức lại, nhìn lên Andy và hỏi thăm hắn, thậm chí còn gọi hắn là “chiến hữu”.
Andy tỏ ra thân thiện, không quan trọng hóa vấn đề và trả lời ôn tồn. Ba người kia, hai cô gái và gã béo (đột nhiên hắn nhớ tên gã là Cuddy - tên gì nghe rợn tóc gáy) cũng giương mắt nhìn hắn. Hình như họ đang cố nén cười thì phải. Đôi môi cong tớn như đàn bà của Cuddy mím chặt.
Andy cố bình tĩnh, vờ vui vẻ hỏi:
- Này Cuddy, có gì vui thế?
Gã kia nhướng cặp lông mày rậm như kẻ bằng mực tàu lên. Andy gằn giọng nhắc lại:
- Tôi hỏi cậu có thấy gì ngộ nghĩnh không mà cười vui như vậy?
Sợ hé miệng sẽ cười sằng sặc, Cuddy quay sang nhìn Lanigan cầu cứu. Lanigan cười vui vẻ:
- Kìa Stafford, đừng nóng. Tinh thần lễ Giáng sinh của cậu đâu rồi?
Một trong hai cô ả cười khúc khích, tựa vai bạn. Ả vừa cười cợt to béo, nhếch nhác, hai chiếc răng bàn cuốc dính son đỏ choét. Á kia gầy nhom, trông như dân gốc Mỹ Latinh, cố tình phô cái ức xương xẩu bằng cách mặc áo kiểu có cổ chữ V khoét thật sâu, thật rộng.
Andy không thèm để ý đến hai ả:
- Tôi chỉ hỏi một câu: mấy người cười cái gì?
Thực khách ở mây bàn xung quanh ngoái đầu nhìn hắn. Ai cũng cười cười vì tưởng hắn đang kể chuyện tiếu lâm. Có tiếng người nói, Nhìn anh ta giống đại danh hài Murphy chưa kìa. Lập tức, có tiếng cười ré lên hưởng ứng.
Giọng Lanigan hơi lo lắng:
- Stafford, cậu nghe đây. Tụi này không muốn Giáng sinh có chuyện không vui, nhất là ở đây.
Andy vừa định hỏi: “Thế mày muốn ở đâu?” thì ai đó chạm khẽ cánh tay hắn. Andy cảnh giác quay phắt lại. Hóa ra là Claire vừa đến bên hắn mỉm cười. Cô nhí nhảnh, tươi cười bảo:
- Chờ anh về, chắc rượu pân của em hết lạnh rồi.
Hắn không biết phải làm gì. Thực khách ba bàn quanh đó đang dõi theo từng nhất cử nhất động của hắn, gã trai mặc áo sơmi trắng, quần jean, đi giày cao cổ kiểu cao bồi, cầm ly rượu màu hồng trên tay mà đầu óc phừng phừng, căng như sợi dây đàn. Lanigan xoay ngang người trên ghế, đưa mắt ra hiệu cho Claire “dắt” chồng về mà “đóng cửa” bảo nhau.
Vợ hắn thủ thỉ:
- Mình đi thôi anh.
Về đến bàn, đầu gối trái của Andy giật nảy lên, làm bàn ăn rung chuyển. Claire vờ như không thấy gì. Cô ngồi chống cằm ngắm mấy đôi khiêu vũ và thầm ngâm nga, hai vai nhún nhún theo tiếng nhạc. Hắn chỉ muốn giật ly rượu trên tay cô, đập miệng ly vào cạnh bàn và gí vào cái cổ trắng ngần kia. Ngày xưa, hắn từng làm như thế trong buổi dạ vũ do trường trung học phổ thông tổ chức. Hôm ấy, hắn rạch mặt nữ hoàng vũ hội của trường vì con bé dám cười hắn lúc hắn mời nó nhảy. Đó cũng là một trong nhiều lý do hắn không muốn trở về quê cũ.
***
Hôm nay, tâm trạng ông Josh Crawford có thể nói là phấn khởi. Ông thích tận hưởng thành quả của sự thành đạt. Còn nữa, hình ảnh nhân viên dưới quyền ông vui vẻ, thoải mái trong phòng kính khổng lồ dễ chịu có mái vòm này làm ông ấm lòng. Hồi này, ông phải chịu đựng quá nhiều. Ông biết đời mình sẽ không còn được chứng kiến nhiều cuộc vui như thế. Thậm chí, ông còn nghĩ đây là lần cuối. Với ông, từng ngày qua, bầu khí thở quanh ông lại loãng hơn. Ông cố hít hà trong nỗi kinh hoàng đến từ từ, giống người chìm dần xuống đáy nước với chỉ một ông thở ngày càng nhỏ dần. Trông nó giống ông thủy tinh hồi còn đi học, ông hay phải dùng đến. Ông không nhớ nổi người ta gọi đó là ống gì. Thật lạ là ông thấy vui vui khi chiêm nghiệm tiến trình phân hủy đang gia tăng tốc độ trong cơ thể mình: hai lá phổi sung huyết nặng khiến người ông phù nề và tím ngắt, trông giống một loài ếch ở Nam Mỹ. Da cẳng chân và bàn chân căng và trong suốt như bao cao su. Mỗi lúc được cô điều dưỡng cắt móng chân, ông Josh lại nói đùa: “Phải cẩn thận! Nếu mũi kéo đâm thủng “bóng”, cả hai đều rắc rối to”. Có ai ngờ lúc gần đất xa trời, ông lại đổi tính, vui vẻ đến thế?
Lúc này, ông đang gõ khẽ vào chỗ để tay của xe lăn, ra hiệu cho cô điều dưỡng ngừng đẩy xe để chăm sóc ông. Lúc cô gái đứng sau lưng cúi xuống gần và ghé sát mặt ông, ông ngửi thấy mùi hồ vải rất dễ chịu. Ngày xưa, bà cụ thân sinh ra ông cũng có mùi ấy. Ngày nay, quá nhiều thứ ông quan tâm đã thuộc về quá khứ bởi những gì tương lai dành tặng ông rất ít ỏi.
Ông hỏi bằng giọng khàn khàn:
- Loại lọ thủy tinh hình ống của các nhà hóa học gọi là gì nhỉ? Thứ ta có thể bịt ngón tay ở đầu giữ chất lỏng bên trong ấy?
Liếc xéo ông ngờ vực, cô gái thoáng mỉm cười vì nghĩ ông chọc ghẹo mình. Cô bảo:
- Gọi là ống thủy tinh?
Hết kiên nhẫn nổi, ông cụ Josh đập đập tay xuống thành ghế:
- Phải, biết thế. Nhưng cô là y tá, cô phải biết tên chuyên môn của nó chứ?
- Tiếc thật, tôi không biết!
Cô đứng thẳng người, biến ra sau ông và đẩy xe đi tiếp. Tuy thế, ông cụ không giận cô lâu. Ông thích những ai dám chống đối mình, dù ông tin cô điều dưỡng làm thế vì khờ dại, không phải vì dũng cảm. Hình như cô ta không biết ông nguy hiểm đến mức nào, lòng thù hận của ông ghê gớm đến đâu. Hoặc có thể cô biết, nhưng không thèm để ý. Ông biết chỉ bậc anh hùng mới làm cô khiếp sợ. Ngay hôm đầu tiên cô đến làm, ông đã đề nghị nếu cho ông xem ngực, ông sẽ cho cô một trăm đôla. Hãy tưởng tượng xem: một nhũ hoa đáng giá năm mươi đôla! Cô gái trố mắt nhìn ông rồi bật cười vì tưởng
ULIIUnriXIÌ DLMUÍX
ông nói đùa. Sau rồi cô cảm thấy mình bị xúc phạm và tiếp theo là, bối rối và lúng túng. Ông Josh cố tình quát tháo ầm ĩ, bảo rằng với nữ nhân viên nào ông cũng yêu cầu như vậy, rằng đó là phép thử: nếu ai từ chối, sẽ được nhận vào làm. Chính lúc ấy, ông được chiêm ngưỡng lần đầu nụ cười giễu cợt mơ hồ của cô:
- Ai bảo tôi từ chối nào. Tôi sẽ cho ông xem vô điều kiện, nếu ông hỏi xin đàng hoàng.
Nhưng từ đó trở đi, ông không bao giờ lặp lại đề nghị ấy, dù hùng hổ hay đàng hoàng. Cô gái cũng dường như quên câu mời mọc nọ.
Mấy cặp nam nữ đang rụt rè khiêu vũ ở mép sàn nhảy thấy ông vừa đến. Trong trang phục dạ hội bóng bẩy, họ dừng lại nhìn ông đến gần, mặt mũi bẽn lẽn như trẻ con vậy. Không như cô điều dưỡng, họ biết tiếng tăm của ông, biết những gì ông có thể làm và đã làm khi bị chọc tức. Một phụ nữ ngập ngừng vỗ tay trước, bạn nhảy của cò làm theo và kế đến là tất cả các đôi tham gia khiêu vũ. Chỉ giây lát sau, cả căn phòng kính rộng lớn rộ lên tiếng vỗ tay ồn ã. Ông cụ ghét âm thanh ấy; nó làm ông nhớ đến lũ chim cánh cụt, hay hải cẩu gì đó, ông không nhớ. Ông giơ bàn tay mềm oặt lên vẫy vẫy, gật đầu chào người này người nọ, bụng thầm mong họ đừng làm ồn thêm nữa. Khổ nỗi, ban nhạc cũng tham gia. Họ đứng cả lên, khua khoắng nhạc cụ nhại lại bài Hail to the Chief (Chào mừng thống soái) mà nghe mãi, ông Josh mới nhận ra. Rất lâu sau, khi kẻ gây cảm tình cuối cùng dừng tay, ông cụ ráng sức chúc mọi người nghỉ lễ vui vẻ, nhưng tất nhiên, lực bất tòng tâm: không ai nghe tiếng ông nói. Ông bắt đầu ho sặc sụa và cúi gập người, suýt nữa té nhào khỏi xe lăn. Ong thở hổn hển, toàn thân co giật. Đàm nhớt nhỏ tong tong xuồng tấm chăn đắp trên đầu gối. Cô điều dưỡng cuống quít mở van bình oxy treo dưới gầm xe lăn. Vừa lúc đó, một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên vai ông. Ông Josh nghe tiếng hỏi ngọt ngào:
- Mình gọi em đấy ư?
***
Bà Rose Crawford đẹp và khỏe mạnh. Bản thân bà biết rất rõ thế mạnh của mình. Dáng người cao, mảnh mai, vai nhỏ nhắn và vòng eo lý tưởng, bà có dáng đi uyển chuyển của loài báo. Cặp mắt đen của bà to tròn, sáng lấp lánh hợp với gò má cao (người ta đồn rằng tổ tiên của bà là người da đỏ) và bà công khai coi thường cả thiên hạ bằng thái độ cười cợt nhạo báng. Josh Crawford thường huênh hoang rằng bà là tài sản đáng giá nhất của ông và nói đùa rằng ông đã đổi một Rembrandt để có được bà (có người nghĩ đó không hẳn là câu nói đùa). Bà gần như bất ngờ đến với cuộc đời ông, hãnh diện khoe chiếc nhẫn cưới có hạt kim cương, theo nhiều người nói, to bằng bìu dái của ông Josh! Lúc ấy ông Josh đã có hai vợ - người vợ cả đã chết và đương kim phu nhân Crawford bị tông cổ vào nhà dưỡng lão. Đến giờ không ai còn nhớ mặt bà. Ký ức lụ mờ về bà bị vẻ đẹp lộng lẫy của bà Rose lấn át hoàn toàn. Chuyện vợ chồng họ giống cổ tích, hoặc giông trong Kinh thánh: sự kết hợp giữa người đàn bà cứng rắn nhưng xinh đẹp với ông chồng già xấu tính. Khoảnh khắc nhìn ông Crawford và người vợ trẻ hơn ông nhiều lần, người đời nhất thời cam chịu hoàn cảnh không thể giàu có bằng ông, càng không bao giờ xinh đẹp bằng bà.
Bà Rose giật mặt nạ oxy bằng nhựa trong tay cô điều dưỡng, chụp kín mũi và miệng chồng. Tiếng khí oxy chạy trong ống nhựa dẻo luôn khiến bà liên tưởng đến loài rắn. Bà thường âu yếm gọi ông là con hổ mang già. Còn hôm nay, cúi gập thân hình to lớn trên xe lăn và so vai rụt cổ nắm chặt mặt nạ oxy, trông ông giống con nai sừng tấm bị thương. Nhóm người khiêu vũ đang dở cuộc vui sợ hãi và lo âu nhìn ông chủ thở không ra hơi, tuy nhiên họ chỉ liếc nhanh bà chủ rồi vội vã xoay lưng lại. Bà Rose nghĩ thầm: Ông ấy là con tem thực phẩm của họ, nhưng tất nhiên, ông chẳng cho ai ăn quá no bao giờ.
Ông Josh giật mặt nạ, quẳng sang một bên và hổn hển gầm gừ:
- Đưa tôi đi mau!
Để người làm công ăn lương thấy cảnh vừa rồi, ông Josh tức cành hông. Cô điều dưỡng vừa định nắm tay cầm xe đẩy, ông đã quay đầu lại, vung nắm đấm lên:
- Không khiến cô!
Bọt mép ông sùi lên trắng xóa. Bà Rose điềm tĩnh cười trấn an cô y tá, đoạn quay đầu xe và đẩy vào gian chính của tòa nhà. Lúc này, ông cụ cào móng tay lên thành xe, lẩm bẩm từ gì đó nghe như “chùn sẻ đồng”. Bà Rose tự hỏi sao ông ấy nhắc đến chim chóc nhỉ? Từ khoang ngực phù nề của ông phát ra tiếng khùng khục.
Mãi bà vợ mới biết ông đang cười. Khi ông lên tiếng, bà ghé sát mặt ông giống cô điều dưỡng khi nãy. Ông kêu ré lên:
- Không phải chim!
Vậy là ông đọc được suy nghĩ của bà. Biệt tài của ông là thế. Trò ngoại cảm của chồng khiến bà vừa khâm phục, vừa cảnh giác:
- Ong pipette! Nhà hóa học dùng thứ ấy.
Bà thở dài:
- Mình nói phải.
***
Khi Claire lôi Andy ra sàn nhảy, hắn không thể khiêu vũ cho ra hồn vì đã xỉn “quắc cần câu”. Căn phòng quay tít và hễ nhìn vào đâu hắn cũng thấy những khuôn mặt đỏ tía, bóng nhẫy đang cười cợt. Thấy mắt chồng gườm gườm, chỉ sợ hắn gây sự nên Claire kéo tay hắn về bàn trong lúc vẫn phải tươi cười kẻo mọi người biết cảm xúc thật của cô. Bé Christine đã dậy và người phụ nữ ngồi bàn bên vừa ẵm vừa nói chuyện với bé. Christine mặc váy dài satanh trắng mặc trong lễ rửa tội. Một nữ tu ở trại mồ côi St Mary’s đã may tặng. Giờ váy đã hơi chật nhưng phần từ eo trở xuống dài và rũ xuống hai bên khiến Claire liên tưởng đến vệt sáng sau ngôi sao lạ. Cô bế Christine - ngôi sao băng tí hon, thiên thần bé nhỏ - và ngồi xuống ghế, hai tay đỡ đầu con gái đặt trên đầu gối mình. Cô cảm ơn chị phụ nữ đã chăm sóc bé giùm, bụng thầm thương hại vợ chồng chị vì chỉ nhìn qua ánh mắt, cô đoán họ không có con (Claire quá rành cảm giác ấy). Andy đứng sát bên cô. Cô đoán hắn đang trừng mắt nhìn con bé. Mỗi khi say xỉn, hắn thường làm thế. Chồng cô chộp cổ chai bia, ngửa cổ dốc tuột vào cái miệng đang há hoác. Nhìn chồng bây giờ, cô không nhớ lúc hai người ân ái. Cô chỉ nhớ ngày cô còn bé, cha cô nuôi một con lừa hay ngửa đầu kêu rống lên. Thấy thế, anh trai Matty thường liếc cô tinh quái mà rằng nó cô đơn, không có bạn tình nên mới kêu thế. Mấy năm sau, Matty chết trong một vụ tai nạn máy bay ở Triều Tiên. Claire nghĩ thầm: “Andy cũng tội nghiệp không kém. Trước khi có cô trong đời, Andy chưa từng được ai yêu thương”. Tuy nhiên, cô đã đến quá muộn!
Người quen của Andy cũng lái xe tải hứa cho hai người quá giang về thị trấn. Lúc vợ chồng họ đến, Claire ẵm đứa bé xăm xăm đi trước, Andy kéo xe nôi bằng mây sưng sỉa theo sau, vừa đi vừa ợ rõ to vừa làu bàu khó chịu. Muôn ra ngoài, họ phải qua cửa lớn nôi nhà kính với tiền sảnh xây bằng đá, trần cao có lò sưởi lớn trải da gấu phía trước và bôn bức tường treo tranh cổ màu nâu với đủ loại đầu dã thú, chiến tích của những cuộc đi săn. Trong sảnh đông đúc và ồn ào. Người ta đang mải mặc áo khoác đi trời tuyết và ủng cao su, đồng thời gọi nhau í ới, chúc nhau Giáng sinh vui vẻ. Lúc ngoái đầu xem chồng có theo sát mình chăng, Claire đụng mạnh vào một người đi giật lùi về phía mình. Cô sợ nhất là đánh rơi bé Christine và điều đó suýt xảy ra nếu người kia không giơ cánh tay vững chãi đỡ lấy cô. Claire nhận ra cô điều dưỡng của ngài Crawford. Khuôn mặt cô đích thực của người Ailen, vừa phúc hậu vừa thân thiện. Mái tóc đỏ của cô gái chải gọn ghẽ, ốp hai bên tai và cài chặt dưới viền mũ trắng. Cô đang trò chuyện với một tài xế xe tải trẻ măng. Có vẻ hai người tán tỉnh nhau vì gò má cô đỏ hồng và khi quay lại đỡ tay Claire theo bản năng, cô đang cười rất tươi. Cả hai cô đều đồng thanh: Xin lỗi!
Họ cùng nhìn xuống bé Christine hấp háy mắt nhìn ra từ mép chăn màu hồng quấn chặt và ủ ấm cho nó. Cô điều dưỡng vừa định nói thì Andy miệng sặc hơi bia sấn tới khiến chàng trai trẻ đồng nghiệp của hắn lùi hẳn xuống. Anh ta biết tiếng Andy từ lâu, đồng thời thấy rõ hắn đang say bí tỉ, đi lại nghênh ngang không cần biết đến ai. Claire cảm ơn cô y tá, hai người cười thân mật với nhau trước khi Andy nắm chặt khuỷu tay vợ lôi đi xềnh xệch.
Khi họ khuất dạng, Brenda Ruttledge, tên cô điều dưỡng, thoáng nhíu mày tư lự rồi quay sang anh tài xế trẻ nhưng anh ta đã biến mất.
***
Nếu không có tiếng khóc từ phòng trẻ vọng sang, Claire không biết mình ngủ gật. Trong mơ, cô vẫn đang dự tiệc và giấc mơ sống động đến nỗi cô tưởng mình vẫn ở đó, không phải ở nhà. Cô mở mắt khi nằm trên giường, trong căn nhà giữa không gian tĩnh mịch tuyết phủ trắng xóa. Xung quanh không một tiếng động nhỏ ngoại trừ tiếng nức nở quen thuộc của đứa trẻ. Lần nào nghe con bé khóc, tim Claire cũng đập nhanh hơn. Cô biết đáng lẽ hiện tượng ấy chỉ có nếu cô là mẹ đẻ của bé.
Chẳng lẽ tình yêu của mẹ đẻ dành cho con ruột lại có thể to lớn hơn tình cảm cô dành cho bé Christine? Quờ tay sang tìm chồng, cô chỉ thấy khoảng trống đang lạnh dần. Nhất định Andy nghe tiếng con bé khóc nên sang phòng trẻ xem thế nào. Cô nghe tiếng chồng “xuỵt, xuỵt” vọng tới. Chắc ngay sau đó, cô lại ngủ thiếp đi mất một phút. Ớ lần tỉnh sau, chính sự im lặng hàm chứa sự bất ổn đã đánh thức cô. Cô biết lẽ ra nên bật dậy ngay nhưng cô vẫn nằm bất động, đầu óc hoàn toàn tỉnh táo và cơ thể náo động. Sau này nghĩ lại, cô biết đúng lúc ấy, linh tính báo cô hay rằng kể từ nay, những khoảnh khắc vô tư an bình của đời cô ra đi mãi mãi.
Cô không biết mình đang chạy: hai chân cô không còn cảm giác, chỉ lướt đi như bay trong phòng khách và dừng ngay cửa phòng trẻ. Tuy đèn trong phòng không sáng, cô vẫn nhìn thấy toàn cảnh như trong ảnh chụp dưới ánh sáng chói gắt từ tạp chí điện ảnh. Andy nhắm mắt đứng bất động cạnh cũi em bé, vai thõng xuống, đầu gối hơi khom trông như người chết chuẩn bị hắt hơi để sống dậy. Hai tay hắn cầm thứ gì giống tấm chăn cuộn lại, nhưng tất nhiên, cô biết là không phải. Không hiểu sao họ cứ đứng như thế rất lâu trước khi Andy cảm thấy sự có mặt của vợ. Hắn mở bừng mắt, chớp liền hai ba cái giống người bị thôi miên bừng tỉnh, đoạn hối hận liếc trộm Claire, cặp lông mày cau lại như thể cố tìm lời giải thích.
Với thái độ điềm tĩnh lạ thường, Claire bước đến chỗ chồng và hắn dúi bọc chăn vào tay cô như tặng quà, hoặc bó hoa hắn cầm mỏi tay vì chờ người yêu đến quá lâu. Đứa bé mặc quần áo ngủ âm ấm và mềm oặt trong tay cô. Ôm đầu con trong lòng bàn tay, Claire xoa làn da mềm mượt như nhưng trên thóp của Christine.
Cô nói như thể Andy chứ không phải cô đang bồng đứa nhỏ:
- Trời ơi! Anh làm gì thế hả?
Hắn nói hắn nhỡ tay. “Chỉ vô ý thôi mà!” Hắn nhắc đi nhắc lại từ ấy như thể đã học thuộc lòng từ trước. Giờ họ đang ở trong phòng của mình, cùng ngồi bên mép giường. Lưng Claire thẳng dơ, với đứa bé nằm bất động vắt trên đầu gối cô. Đi tới đi lui trong phòng, chốc chốc Andy lại đưa tay vuốt ngược tóc từ trán ra sau gáy. Hắn vẫn mặc nguyên quần jean, áo ba lỗ và đi vớ trắng cao đến đầu gối. Lúc vừa về, hắn có thay đồ nhưng do say quá nên bỏ dở giữa chừng và đổ gục xuống giường. Trong chiếc áo lót và đôi tất ngắn cũn cỡn, trông Andy như thiếu niên mới lớn. Ngoảnh mặt đi, Claire mệt mỏi thầm ước giá cô không bao giờ phải thấy mặt hắn nữa. Hai mi mắt Christine nhắm chặt, ở giữa còn dính chút nước mắt lấp lánh. “Chết!” - Claire lẩm bẩm từ đó như thể nó là thứ ngôn ngữ xa lạ.
Andy huyên thuyên:
- Nó khóc dữ quá. Thấy nó khóc, anh lắc mạnh người nó.
Hắn tấm tức hạ giọng, chẳng phải nói với vợ cũng không phải nói một mình. Hắn giống diễn viên cố học thuộc lời thoại trước giờ sân khẩu mở màn, vì khi bước ra hắn sẽ phải nói một cách chân thành và đầy sức thuyết phục khiến cả nhà hát phải tin là thật.
- Là tai nạn, em ạ. Một tai nạn khủng khiếp!
Claire không còn kiên nhẫn được nữa:
- Gọi cho cô nhi viện St Mary’s ngay.
Dừng phắt lại, hắn sững sờ:
- Cái gì?
Đột nhiên, Claire mệt bã người:
- Gọi sơ Stephanus.
Dừng một lát, cô lại nói bằng giọng nhỏ nhẹ, rõ ràng như nói chuyện với trẻ con. Claire thầm nghĩ từ nay trở đi, chắc cô không bao giờ nói được lời nào với bất kỳ ai nữa.
- Ở St Mary’s ấy. Gọi cho sơ đi.
Andy nheo mắt ngờ vực, như thể nghi Claire chơi khăm hắn:
- Anh biết nói gì với bà ấy đây?
Claire nhún vai và vì thế, cánh tay bé Christine rơi thõng xuống bên đùi Claire. Lòng bàn tay mũm mĩm của bé ngửa lên như thể chính bé cũng muốn hỏi, yêu cầu được chỉ dẫn và xin giúp đỡ.
Đột nhiên, giọng Claire giống người mai mỉa chua cay:
- Nói rằng chuyện xảy ra chỉ là tai nạn.
Đột nhiên, có thứ gì sụp đổ trong người cô, giống một mẩu xương gãy, và Claire bật khóc.
Andy bỏ ra ngoài, bỏ mặc người vợ trẻ nước mắt giàn giụa mặc váy ngủ vải cotton ngồi trên giường ôm xác con. Ở cô có cái gì đó khiến hắn khiếp sợ. Trông cô giống tượng thờ của người da đỏ hoặc người Trung Hoa. Vắt áo khoác lên vai, Andy hối hả xuống cầu thang bên ngoài. Tuyết rơi dồn thành đống băng giá lạo xạo dưới chân hắn. Bão đã tan. Bầu trời trong, cao vời vợi lấp lánh muôn vì sao. Vẫn còn thức (hình như cô ta không bao giờ ngủ), Cora Bennett mở cửa hậu rước hắn vào. Trước khi Cora kịp lên tiếng, Andy bảo hắn cần dùng điện thoại. Tưởng hắn đến vì chuyện khác nhưng khi nhìn nét mặt, nghe giọng nói của hắn, cô ta chỉ gật đầu khoát tay chỉ chỗ đặt điện thoại ở hành lang phía trước. Andy ngần ngừ: cô hàng xóm chỉ mặc độc chiếc quần lót. Hắn thấy rõ cô ta đang nổi gai ốc vì lạnh. Cora hỏi:
- Có chuyện gì vậy?
Nghe hắn bảo hắn vừa gặp chuyện không may, Cora gật đầu. Andy tự hỏi cớ sao đàn bà có vẻ không ngạc nhiên khi gặp bất trắc? Vừa lúc ấy, thấy mắt Cora sáng lên như mắt đại bàng, Andy hiểu cô ta tưởng Claire ngoại tình nên anh chồng mới nóng nảy như thế.
Andy tìm tên trại trẻ mồ côi trong danh bạ điện thoại. Hóa ra có hàng chục nhà thờ, nhà tu kín, trường học trùng tên St Mary’s. Điện thoại nhà Cora kiểu cổ, có trục quay số, ống nghe và ống nói riêng. Andy lại ngần ngừ. Giờ đã nửa đêm, ai còn thức trả lời hắn? Thậm chí nếu có, liệu người ta có nối máy cho bà “Mẹ Bề Trên” đáng ghét đó không? Vừa quay được một số, hắn đã dừng tay giữa chừng, khoái chí thấy lỗ bàn quay gắn với lò xo níu lấy ngón tay mình. Cora lặng lẽ đến đứng cạnh hắn. Giờ hắn mới biết cô ta cao hơn mình. Hắn không khó chịu với đàn bà cao hơn mình. Ngược lại, hắn còn thích nữa. Nghe cô ta hỏi hắn định gọi cho ai, hắn không trả lời. Thấy áo khoác trượt khỏi vai hắn, Cora dịu dàng trả nó về chỗ cũ. Mấy ngón tay cô ta mơn man cổ hắn. Hắn nhắm mắt. Hắn không nhớ mình đã bế đứa bé trong cũi lên ra sao. Hắn biết mình lắc Christine không mạnh lắm, nhưng thế nào gọi là mạnh đây? Rõ ràng con bé không bình thường, đầu óc nó có vấn đề, không sớm thì muộn bệnh tình nó cũng lòi ra thôi. Xui cho hắn phải hứng chuyện không may. Hắn không có lỗi. Trả ống nghe về chỗ cũ, hắn không nói không rằng quay lại với Cora. Cô ta ôm ghì hắn, áp mặt hắn vào bầu ngực lạnh như nước đá.