Lâu lắm rồi, Quirke không vào nhà nguyện của bệnh viện và hôm nay, ông cũng không hiểu tại sao mình đến đây. Hai cánh cửa mở ra hành lang dẫn xuống phòng chụp X-quang không thích hợp với chốn này: tay nắm cửa cầu kỳ, cửa bằng kính mờ. Chúng vốn là quà tặng của một mệnh phụ giàu có. Cách đây vài năm bà cho lắp chúng nhằm tưởng nhớ đứa con gái vắn số của mình. Bầu không khí ở đây luôn lạnh lẽo, một kiểu lạnh không có ở bất cứ đâu khiến Quirke liên tưởng đến bình hoa lily trên bàn thờ nhà nguyện trong cô nhi viện Carricklea mỗi độ hè về. Hồi bé, Quirke luôn tưởng họ chỉ cắm một bó duy nhất suốt mấy tháng ròng. Có một lần, cậu bé Quirke dám sờ vào cánh hoa để rồi không bao giờ quên cảm giác lạnh cóng, ẩm ướt giống da thịt người. Nhà nguyện trong bệnh viện Holy Family nhỏ, không có cột lớn hoặc hốc tường đặt tượng. Vì thế, người ta chỉ có thể ngắm ngọn đèn dầu nhỏ luôn cháy đỏ trước bàn thờ. Quirke thấy Mal chắp tay quỳ trước tượng thánh Joseph. Ông lặng lẽ đến bên, ngồi xuống ghế ngay cạnh chỗ Mal quỳ. Không quay đầu lại, Mal chỉ ra hiệu biết ông có đến. Hai phút sau, ông ta làm dấu thánh và ngồi tựa hẳn lưng vào ghế thở dài. Sau giây lát im lặng, Quirke chỉ bức tượng, đèn dầu và bàn thờ phủ khăn trắng thêu chỉ nhũ vàng và nói:
- Mal này, anh thực lòng tin vào những thứ này sao?
Mal ngẫm nghĩ giây lát:
- Tôi đang cố tin.
Đoạn ông quay sang nhìn em rể:
- Còn cậu? Cậu tin gì?
- Tôi tự chữa “bệnh cả tin” từ rất lâu rồi.
Mal cười nhạt.
- Chắc cậu thích ăn nói kiểu đó lắm phải không?
Ông ta tháo kính, lần lượt day hai mắt rồi thở dài:
- Quirke, cậu muốn gì đây?
Giờ đến lượt Quirke cân nhắc.
- Muốn anh nói thật về cái chết của Dolly Moran.
Mal không hề ngạc nhiên.
- E rằng tôi biết ít hơn cậu. Tôi không quen đi khắp nơi nhúng mũi vào những việc đáng lý không nên động vào.
Quirke cười khẩy:
- Anh đang dọa tôi đấy à?
Mal lạnh lùng nhìn trân khoảng không trước mặt:
- Cậu tưởng mình biết việc mình làm nhưng tin tôi đi, thực tế không như cậu nghĩ đâu.
Quirke bắt đầu rất nhẹ nhàng:
- Tồi biết Christine Falls không chết vì nghẽn phổi, như anh đã viết trong hồ sơ giả. Tôi biết cô ấy sinh con, không như anh bảo thai chết lưu. Chỉ có điều đứa bé biến mất không để lại dấu vết. Tôi biết hôm trước tôi vừa bảo với anh rằng Dolly Moran có viết nhật ký, thì hôm sau bà ấy bị tra tấn và bị đập vỡ sọ. Hãy nói những việc ấy không liên quan đến nhau! Hãy thề rằng những điều tôi nghi ngờ chỉ là vô căn cứ! Hãy đường hoàng bảo rằng anh không hề ngập đầu trong bể tai họa!
Quirke ngạc nhiên vì chính mình. Sao tự dưng ông tức tối thế nhỉ? Ông đang phản đối sự bất công nào đây? Bất công với Moran, với Christine Falls, với con của Christine Falls hay bất công với chính ông? Nhưng ai là người khiến ông đau lòng hoặc bắt ông phải chịu bất công? Ông không chết trên vũng máu giữa lúc lâm bồn, da thịt ông không bị đốt cháy, đầu ông cũng không nứt làm đôi. Rõ ràng, Mal không thèm để ý. Ông ta không trả lời, chỉ thoáng gật đầu như xác nhận rồi đứng lên. Đến lối đi, ông quay lại bàn thờ, quỳ gối trước khi đi ra. Tuy nhiên, đến giữa đường, ông dừng bước. Bộ vest cứng đờ trên người khiến ông ta trông hơi giống giáo sĩ. Thậm chí nơ đeo cổ màu đen cũng giống món trang phục trang trí cầu kỳ của các giáo sĩ cấp cao thuộc một dòng tu của nhà thờ Cơ Đốc giáo. Nét mặt ông ta lúc đáp trả Quirke vừa lạnh lùng, vừa khinh miệt:
- Tôi muốn khuyên cậu hãy tránh xa vụ này.
Vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, Quirke lắc đầu:
- Tôi không làm được. Cũng như anh, tôi đã dấn quá sâu vào vụ này rồi.
Mal đi khỏi. Giây lát sau, Quirke cũng đứng lên. Ngọn lửa nhỏ xíu trước bàn thờ lay động, giống người vừa nháy mắt. Quirke rùng mình nhớ câu hát ông nghe được ở đâu đó: “Thiên đường lạnh lẽo...”