Bạc Mệnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Quirke hẹn gặp Barney Boyle ở cầu Baggot Street. Họ tản bộ dọc con đường hôm trước ông đi với Sarah. Buổi sáng chủ nhật ấy dường như đã chùn vào dĩ vãng xa xôi nào. Hôm nay, mặt trời buổi sáng mờ mờ cố đưa ánh thái dương xuyên qua lớp sương mù tháng mười. Sự im lặng ma quái trùm lên vạn vật, như thể cả thành phố giờ chỉ còn mình họ. Barney mặc áo khoác dài gần tới gót chân. Không cài nút và thắt dây lưng, cái áo lắc lư quanh đôi chân mập mạp, trông như Barney mặc áo choàng không tay vậy. Giữa không gian rộng mở và tắm trong ánh sáng ban ngày, Barney như bị quáng mắt và hơi rụt rè. Ông ta bảo đã lâu lắm rồi chtra thấy cảnh thiên hạ vào buổi sáng. Thời gian say sưa nhậu nhẹt cũng chưa bớt chút nào. Thấy Barney ho sặc sụa, Quirke bảo:

- Nhiều không khí trong lành quá cũng khổ. Đây, hút điếu thuốc cho ấm người.

Ông bật diêm. Barney cúi xuống khum bàn tay mũm mĩm quanh ngọn lửa. Mấy đầu ngón tay khẽ chạm tay Quirke khiến ông giật mình trước cử chỉ quá thân mật vô cùng hiếm gặp giữa giới mày râu với nhau. Ông nhớ lại lời đồn đại rằng Barney đồng tính.

Ông ta thổi mạnh khói thuốc vào màn sương trắng:

- Lạy Chúa! Phải thế này mới được.

Dù chịu nhiều tai tiếng về thói đồng dục, trong đời thực Barney, nhà thơ và nhà soạn kịch chuyên phục vụ tầng lớp lao động, sống với người vợ nhẫn nhịn, một nữ họa sĩ vẽ tranh sơn dầu quý phái đài các trong căn nhà sơn trắng tại vùng Donnybrook bốn mùa cây cối tươi xanh. Tuy nhiên, ông ta vẫn duy trì mối quan hệ với thế giới không mấy tốt đẹp đã sản sinh ra mình. Quirke muốn thông tin, còn Barney đã chịu khó hỏi dò cho ông.

- Này, trong giới “bán hoa” không ai không biết Dolly Moran. (Quirke gật đầu). Mỗi khi gặp chuyện, họ đều đến gặp bà ấy.

- Đại loại như chuyện gì?

- Thì bụng phình ra ấy.

- Thế ra Moran “giải quyết” giùm họ. Chỉ một mình thôi ư?

- Họ bảo bà ấy mát tay lắm. Lại không lấy tiền nữa. Chỉ muốn lấy tiếng giúp người làm phúc thôi.

- Nếu thế, bà ấy sống bằng gì?

- Có người chu cấp đầy đủ. Ay là tôi nghe nói thế.

Quirke nhíu mày nhìn màn sương phủ kín. Barney dừng phắt lại:

- Nhìn lũ vịt đáng ghét chưa kìa.

Ba con vịt bơi loanh quanh trong đám lau sậy, miệng kêu quang quác ai oán. Bamey tươi tỉnh hẳn:

- Tớ ghét vịt lắm. Này, tớ kể cậu nghe chuyện bố tớ với đàn vịt chưa nhỉ?

- Rồi. Cậu kể cả trăm lần rồi.

Barney trề môi:

- Nghe rồi thì thôi. (Ồng ta hút nốt điếu thuốc). Hay ta đi làm vài ly nhé?

- Trời đất. Mới mười một giờ sáng thôi, ông tướng ạ.

- Muộn thế cơ à? Vậy ta phải nhanh chân lên.

Họ đến quán 47 trên đường Haddington. Chỉ có hai người họ tìm đến quán rượu ấy giờ này. Mùi khói thuốc lá của đêm qua còn lởn vởn trong không gian như ngái ngủ của quán. Người phục vụ quầy mặc áo sơmi dài tay và dây đeo quần đứng chống khuỷu tay lên mặt quầy đọc tờ Independent số ra ngày hôm qua. Barney gọi một chai bia đen và một viên kẹo mạch nha làm mồi. Mùi bia hôi trộn mùi whisky cay nồng làm mũi Quirke ngứa ngáy.

- Cậu biết thông tin gì về hai gã đi theo đe dọa tớ chưa?

Cặp môi đỏ chót như môi em bé của Barney rời miệng ly. Ông ta đưa tay quệt bọt bia vàng vàng dính ở môi trên:

- Hình như gã mũi khoằm là Terry Tormey, anh của Ambie Tormey, cựu thành viên băng nhóm “Thứ Dữ”.

- Còn tên kia?

- Hắn tên Callaghan. Có phải không nhỉ? Không, Callagher mới đúng. Nếu tớ hỏi đúng người thì tên này hơi chậm, không thông minh cho lắm. Nhưng khi hành sự, hắn khá nguy hiểm.

Vừa dứt lời, tay Barney điệu đàng nâng ly whisky lên môi, ngón tay út duỗi thẳng. Tợp một ngụm cạn ly, ông ta nuốt đánh ực rồi nhăn mặt, rít hơi qua kẽ răng. Vừa đặt ly xuống, Barney đã ngẩng lên gọi phục vụ quầy:

- Cho ly nữa đi.

Nhân viên đứng sau quầy lặng thinh, chậm chạp tiến đến rót thứ chất lỏng màu hổ phách vào ly đong bằng thiếc trước khi dốc tuột vào ly lớn. Hai người khách duy nhất trong quán cùng chăm chú nhìn thao tác trịnh trọng ấy trước khi Quirke rút ví trả tiền. Barney bảo nhân viên quán để cả chai lại:

- Tớ thích rượu hơn bộ não khỏe mạnh.

Ông ta ngượng ngùng liếc trộm bạn nhậu. Quirke nhận thấy rằng những câu nói dí dỏm của Barney từ trước đến giờ đều học lỏm của người khác. Gọi một ly cà phê dở tệ, vốn là nước nóng pha với thứ sirô đặc quánh trong chai dán nhãn: “Irel, cà phê của người Ailen”, Quirke cho thêm ba muỗng đường rồi khuấy đều. Ông tự nhủ: “Chẳng còn biết mình muốn gì nữa”. Như đọc được suy nghĩ của ông, Barney nhìn Quirke dò hỏi, đoạn lè nhè bằng giọng người xứ Donnybrook:

- Muốn chứng tỏ mình sâu sắc ư? Tôi hỏi thực, Terry Tormey cùng gã bạn du đãng và vụ Dolly Moran bị giết liên quan gì đến cậu?

***

Vào một sáng cũng mù sương như hôm trước, Quirke mặc áo khoác đen, đội mũ mềm, vừa bước ra cửa chính tòa nhà trên đường Mount thì gặp thanh tra cảnh sát Hackett đứng hút thuốc ngoài vỉa hè. Thấy khuôn mặt chữ điền của viên thám tử rạng rỡ bởi nụ cười niềm nở, Quirke hơi hối lỗi. Trên đường có ba nữ tu trẻ trên ba chiếc xe đạp màu đen đi ngang qua, ba đôi chân phủ áo chùng dài cùng chuyển động rất đều. Không gian vào giờ khắc đầu ngày mới nồng nặc mùi khói than và khói xe cộ. Quirke chợt nhớ giờ đã là mùa đông. Ở khoa nghiên cứu bệnh học, xác chết đang xếp hàng chờ ông đến mổ xẻ.

- Chúc ngài Quirke một buổi sáng tốt lành.

Viên thanh tra quăng mẩu thuốc ngắn ngủn xuống đất và nghiền nát nó bằng gót giày cao cổ.

- Tôi có việc đi ngang qua đây. Ngẫu nhiên được gặp ông, thật may quá.

Vừa chậm rãi bước xuống bậc tam cấp, Quirke vừa cẩn thận chụp chiếc mũ nỉ lên đầu:

- Giờ mới tám rưỡi sáng. Tôi e ta gặp nhau chẳng phải tình cờ.

Hackett dễ dãi cười tươi hơn:

- Thật mà. Tôi quen dậy sớm rồi.

Họ thong dong sánh bước. Đến chỗ rẽ vào quảng trường Merrion, Quirke bảo:

- Tôi đoán hồi nhỏ, chắc cậu thường dậy lúc năm giờ sáng vắt sữa bò.

Hackett tấm tắc:

- Sao ông biết hay quá vậy!

Định “chuồn êm”, Quirke ngầm quan sát hai đầu đường tìm taxi. Sau đêm trước ngồi lì trong quán McGonagle’s, ông không tin lưỡi mình đủ khôn ngoan đối đáp với viên thanh tra sắc sảo này. Hơn nữa, Hackett vẫn giữ thái độ thân tình trong lúc hỏi han xa gần. Tiếc thay chẳng có chiếc taxi nào. Đến đường Fitzwilliam, họ hòa mình vào đám đông công chức nói năng khẽ khàng đi về hướng mấy cơ quan trực thuộc chính phủ. Hackett châm điếu thuốc khác. Lúc Hackett ho, Quirke thoáng khó chịu vì tiếng khùng khục phát ra từ cổ họng đầy đờm nhớt của anh ta. Ông hỏi:

- Có tiến triển gì trong vụ Dolly Moran chưa?

Sau một giây sững sờ, viên cảnh sát cười khò khè, hai vai rung lên. Dãy nhà mặt tiền có cửa sổ cao dường như đang nhìn xuống anh với thái độ ngỡ ngàng xen lẫn khó chịu. Hackett vui vẻ:

- Trời, ông theo sát tình hình quá nhỉ?

Đưa một tay lên chỉnh mũ, Hackett nhân tiện quệt ngang lông mày:

- Tiến triển ư? Để xem nào. Dĩ nhiên chúng tôi lấy được nhiều dấu tay và hai món tóc. À, còn một mẩu thuốc hiệu Balkan Sobranie nữa. Nhìn tro thuốc là tôi biết ngay. Ngoài ra, cơ quan còn thu được một chân khỉ ai đó đánh rơi. Bùa cầu may của người Lascar xuất xứ Đông Phương đấy. (Hackett cười tươi, đầu lưỡi hơi nhô ra giữa hai hàm răng). Không, vụ Moran chưa có tiến triển gì. Nhưng tất nhiên, nếu theo ông ngưng điều tra là tiến triển thì lại là chuyện khác. (Quirke sững sờ nhìn Hackett. Anh ta gõ nhẹ đầu ngón tay vào cánh mũi và nói nhỏ). Lệnh từ trên cao, rất cao đấy nhé.

Quirke nuốt khan:

- Cậu vừa nói gì? “Lệnh từ trên” nghĩa là sao?

Hackett chỉ nhún vai, đầu cúi gằm:

- Thì tôi vừa nói đó. Nếu muốn biết thêm về Dolly Moran xấu số, ông phải tự tìm hiểu lấy. Nếu muốn “vụ này tiến triển” theo như ông nói, tôi e người khác phải nhọc công mất thôi.

Họ đã đến góc đường Merrion. Viên cảnh sát gác cổng tòa nhà quốc hội bên kia đường chỉ tò mò nhìn khi thấy họ dừng chân giữa đám đông quan chức nhà nước và nhân viên văn phòng đang hối hả vào công sở. Chắc anh ta nhận ra Hackett bởi viên thanh tra này khá nổi danh trong ngành cảnh sát.

Hackett hỏi mà mắt nhìn lảng sang chỗ khác:

- Ông Quirke định cho tôi biết điều gì chăng? Không biết tôi đoán có đúng không, nhưng hình như ông biết nhiều chuyện không phải ai cũng biết.

Quirke nhìn lảng đi, vẻ khó chịu:

- Biết được chút gì, tôi đều nói hết với cậu rồi thôi.

- Sở dĩ tôi nói như vậy vì trước khi nhận lệnh đình chỉ việc điều tra, tôi được biết Molly Moran từng làm công cho nhà vị quan tòa Griffin danh tiếng. Theo tôi đoán, chỉ vì chút hiểu biết cỏn con ấy, tôi đã phải ngưng điều tra lập tức. Trong cuộc gặp ngắn ngủi của hai ta ở bệnh viện, ông có hé lộ đôi điều nhưng tôi tin chắc ông đã quên ngay. Vốn có dây mơ rễ má với nhà Griffin, ông lại hỏi tôi tình hình vụ Moran! Chắc chắn ông không hỏi bâng quơ, phải không thưa ông Quirke? (Hackett mủn cười). Nhưng thôi. Tôi không làm mất thời gian của ông nữa vì chắc chắn ông đang rất bận rộn, đúng chưa nào? (Vừa dợm quay đi, Hackett dừng lại). Trước khi chia tay, xin hỏi lúc trước bà Dolly Moran có nói gì với ông về cơ sở giặt ủi Đức Mẹ Nhân Từ chưa? (Quirke lắc đầu). Nơi ấy thuộc nhà tu kín tọa lạc ở Inchicore. Họ nhận các thiếu nữ “lầm lỡ” và giúp đỡ các cô cho đến khi nào... biết nói sao nhỉ... Các cô “bình thường” trở lại. Có tin đồn rằng bà Dolly Moran thường xuyên đi lại nơi đó. Lúc tôi đến thỉnh giáo, Mẹ Bề Trên quản lý chỗ ấy thề rằng bà chưa từng nghe tên Moran. Thật vô cùng tủi hổ khi phải nói rằng tôi gần như không tin người phụ nữ mộ đạo ấy.

Quirke dọn giọng:

- Dolly không nhắc đến tiệm giặt nào cả. Thực ra, bà nói rất ít. Hình như bà ta không tin tôi thì phải.

Hackett nghiêng đầu nhìn Quirke đăm đăm với thái độ khách quan của họa sĩ thầm đánh giá người làm mẫu vẽ. Anh thở dài thương cảm:

- Có vẻ bà ấy có biệt tài giữ bí mật. Cầu Chúa phù hộ cho bà Dolly đoản mệnh được an nghỉ đời đời.

Anh gật đầu chào và đi ngược lại hướng họ vừa đi tới. Quirke nhìn theo cho đến khi Hackett khuất dạng. Phải, Dolly Moran thật đáng thương. Một cơn gió mạnh thổi tung hai vạt áo khoác của viên thanh tra, khiến chúng bay phần phật như cánh buồm. Trong giây lát, Quirke cảm giác người mặc áo biến mất hoàn toàn, không còn tồn tại nữa.

***

- ... Xin lỗi, nhưng tôi không giúp được ông đâu.

Người nữ tu từ chối thẳng thừng. Bà có vẻ bối rối, lấm lét. Mấy ngón tay gầy guộc, trắng xanh như que củi không ngừng mân mê tràng hạt vô hình. Dù đầu bà trùm khăn kín, Quirke vẫn giật mình trước khuôn mặt còn nguyên bằng chứng về một thời xuân sắc. Bà ta cao và gầy nhom; chiếc áo chùng màu đen dài quét đất không thắt ở eo có nhiều nếp gấp tròn trông giống cột nhà trong kiến trúc cổ khiến bà giống một tác phẩm điêu khắc. Mắt bà xanh và trong đến nỗi Quirke cảm tưởng nếu nhìn sâu bên trong, ông sẽ thấy cả khoang xương sọ bé xíu. Người ta gọi bà là sơ Dominic. Quirke tự hỏi không biết tên cha sinh mẹ đẻ của bà là gì.

- Cô ta chết rồi ư? Cái cô ông vừa nói tên ấy?

- Vâng. Chết trong khi sinh.

Bà mím môi chặt đến nỗi chúng trắng bệch, không còn giọt máu:

- Tội nghiệp quá chừng. Thế đứa bé thì sao?

- Tôi không biết. Tôi cũng đang muốn biết về nó và nhiều điều khác nữa.

Họ đang đứng trong không gian lạnh lẽo, hiu quạnh của hành lang lát đá kiểu bàn cờ. Vào bên trong tòa nhà, Quirke cảm thấy hơn là nghe thấy tiếng máy vận hành bằng tay và tiếng phụ nữ thì thào trao đổi công việc. Trong này có mùi ẩm ướt của các loại vải sợi như len, cotton và lanh. Quirke bảo:

- Vậy chắc bà cũng chưa bao giờ nghe tên Dolores Moran, hay còn gọi là Dolly Moran, phải không?

Sơ Dominic vội cúi gằm, lắc đầu quầy quậy và nói lí nhí:

- Tôi rất tiếc, thưa ông.

Một cô gái trẻ thấp lùn, vòng ba khá to và có mái tóc đỏ rối bù đẩy một chiếc rổ mây cực kỳ lớn có gắn bánh xe đi ngang qua. Chắc chắn rổ phải đầy đến tận miệng nên cô ta mới phải dùng hết sức bình sinh để đẩy nó tiến lên phía trước. Cô gái cúi gằm, hai tay nắm thành rổ cũ sờn duỗi thẳng, mấy đốt ngón tay trắng bệch. Cô mặc áo khoác rộng màu xám, tất quần xám cũ, hết độ co dãn nên đùn thành đống ngay mắt cá chân đỏ bầm và mang đôi giày giống giày đinh của đàn ông đã mất dây và to hơn cỡ chân cô vài số. Coi như không có Quirke và bà sơ, cô cứ đi thẳng (mấy bánh xe dưới rổ kêu cót két như phản đối) khiến hai người phải tránh vội, đứng sát vào tường nhường đường cho cô.

Bà Dominic nghiêm giọng:

- Trời ơi, Maisie! Làm gì cũng phải nhìn trước ngó sau chứ.

Maisie dừng phắt lại, đứng thẳng người ngó họ trừng trừng. Ai thoáng nhìn qua sẽ tưởng cô sắp phá lên cười. Khuôn mặt cô to bè, đầy tàn nhang và tẻ nhạt. Mũi cô tẹt dí, chỉ thấy hai cánh mũi phồng lên, còn đôi môi cong không che hết hàm răng vẩu.

- Xin lỗi sơ!

Nói thế nhưng thái độ của cô không hề hối lỗi. Có vẻ đặc biệt quan tâm đến Quirke, cô liếc nhìn bộ vest bằng vải tuýt loại đặc biệt, áo khoác đắt tiền và chiếc mũ nỉ mềm mại trong tay ông. Quirke nhận thấy một bên mi mắt cô phất nhẹ, giống người bị tật máy giật. Phải chăng cô vừa nháy mắt với ông. Sơ Dominic không bớt gay gắt:

- Làm việc tiếp đi.

Dù đảm nhận công việc gì ở đây thì rõ là sơ cũng không ưa cô gái.

- Thưa sơ, con xin vâng.

Nói xong, cô lại tròn mắt nhìn Quirke trước khi cúi gập người bên cái rổ và nặng nhọc đi tiếp.

Nôn nóng tống khứ ông khách không mời, sơ Dominic đi men theo bức tường ra cánh cửa lắp kính cáu bẩn ngoài tiền sảnh, chỗ Quirke đi vào lúc trước. Bước theo sau, Quirke chậm rãi xoay vành mũ giống hệt bà sơ lần chuỗi tràng hạt vô hình. Dù bà Dominic phủ nhận, Quirke vẫn tin rằng Christine Falls từng ở đây một thời gian trước khi Dolly Moran đón cô về căn nhà trên đường Stoney Batter. Ông tưởng tượng Christine mặc áo bà bầu màu xám đẩy rổ dọc những hành lang này, mái tóc nhuộm màu vàng rom của cô trở lại màu nguyên thủy là sắc nâu. Mấy đốt ngón tay cô sưng đỏ, rách tướp. Chóc chóc, đứa bé trong bụng lại đạp mạnh từng hồi. Mal lòng sắt dạ đá hay sao mà ép cô phải vào chốn này?

Sơ Dominic khẳng định:

- Như đã nói từ trước, cô Christine Falls chưa hề đến chỗ chúng tôi. Nếu có, chắc chắn tôi phải nhớ. Ở đây có bao nhiêu cô, tôi đều nhớ hết.

- Nếu cô ấy trở dạ ở đây, số phận đứa bé sẽ ra sao?

Ánh mắt người nữ tu già vẫn nhìn đâu đó quanh đầu gối Quirke. Bà tiếp tục đi ra cửa, buộc ông phải đi theo:

- Không có chuyện đó đâu.

- Sơ bảo sao ạ?

- Thưa ông Quirke, đây là cơ sở giặt ủi, không phải bảo sinh đường.

Đắc thắng trong một giây, bà nhìn thẳng mắt ông rồi cúi xuống ngay.

- Nếu không ở đây thì ở đâu?

- Làm sao tôi biết được, thưa ông. Các cô đến chỗ chúng tôi... họ đều... họ đều sinh rồi.

- Vậy trước khi được đưa đến đây, họ bỏ con ở đâu và chuyện gì xảy ra với chúng?

- Tất nhiên là ở trại mồ côi. Hoặc thường thì...

Họ đã đến bên cửa kính ngoài tiền sảnh. Không che giấu tiếng thở phào nhẹ nhõm, sơ Dominic mở rộng cánh cửa và lùi bước nhường chỗ cho ông đi ra. Ông cố tình trừng mắt nhìn bà, hy vọng bà nao núng và tiết lộ đôi điều, dù nhỏ nhoi. Tiếc thay, bà chỉ lạnh lùng:

- Những cô gái này tự rước họa vào thân và bị bỏ mặc, không ai giúp đỡ, không nơi nương tựa. Thường thì gia đình ruồng rẫy họ. Có thế, họ mới phải đến đây.

Quirke lạnh nhạt:

- Phải. Chắc các vị là niềm an ủi lớn của họ.

Trong một thoáng, cặp mắt xanh trong veo chuyển sang màu trắng như thể có làn khói mỏng thoảng bay qua. Phải chăng cơn thịnh nộ vừa bùng phát sau cặp đồng tử ấy? Hai tấm kính cửa sau lưng bà giống bầu trời vần vũ mây đen. Quirke giật mình và không hề hổ thẹn khi hình dung bà ta trần trụi và cứng đờ như bức tượng của El Greco.

Sơ Dominic chống chế:

- Với những cảnh đời éo le như vậy, chúng tôi đã cố hết sức. Khả năng chúng tôi có hạn, thưa ông.

Quirke cố lấy giọng hối lỗi và phát ngượng khi hình ảnh tưởng tượng sơ Dominic trần trụi cứ bám riết lấy ông:

- Vâng, thưa sơ. Tôi hiểu.

***

Ra đến ngoài, ông xuống chân đồi, nhằm hướng sông thẳng tiến. Mây trắng phủ kín bầu trời đang sà xuống thấp gần bằng mái dãy nhà hai bên đường. Cơn mưa tuyết nặng nề, ẩm ướt quay cuồng trong gió mạnh. Dựng cổ áo khoác, Quirke kéo sát mũ xuống mắt. Ông tự hỏi sao mình cứ đòi lo chuyện bao đồng? Họ có dây mơ rễ má gì với ông đâu! Christine Falls, đứa con hoang của cô ta và Dolly Moran chết thảm đều là người dưng. Còn nữa, trong chuyện này, Mal chưa hề “đụng chạm” gì đến ông. Thế nhưng, ông biết mình không thể bỏ qua vụ việc rối rắm và đen tối này. Ông có nghĩa vụ phải làm tròn, có món nợ phải trả. Nhưng chính xác là nợ ai, ông không biết rõ.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.