Với Quirke, sáng chủ nhật chưa bao giờ là thời gian dễ chịu điểm xuyết cho thời thơ ấu luôn phải cắn răng chịu đựng đủ điều. Hồi ở Carricklea và ngay cả sau này được ông thẩm phán đưa tới St Aidan cùng ăn học với Mal, sáng chủ nhật luôn là cực hình. Khác ngày thường, sáng chủ nhật cực khổ theo cách riêng và so về mức độ, nó còn khổ sở hơn. Vào các ngày trong tuần, ít nhất Quirke còn có việc để làm: việc chân tay, làm bài tập, học thuộc lòng... Nhưng chủ nhật hoàn toàn trống trải. Quirke mê mụ trong những hoạt động như: cầu nguyện, đi lễ nhà thờ, nghe bài thuyết giảng tràng giang đại hải. Kế đến là ngày vô vị, dài lê thê cho tới tận giờ đọc kinh tối. Sau kinh tối là kinh Roze, nghe thêm một bài thuyết giảng dài lê thê rồi mới đến kinh Tạ ơn, tắt đèn đi ngủ và chờ sáng thứ hai bắt đầu một tuần khó nhọc, nặng nề khác. Ngày nay, chủ nhật có nghi thức riêng hoàn toàn theo ý ông quyết định. Ông có thể “bày” nhiều trò giải trí, hoặc quên hẳn đó là chủ nhật, hoặc làm gì tùy hứng. Thứ duy nhất không thể thiếu là những số báo đặc biệt dành riêng cho chủ nhật ông mua của ông già gù bán rong trên đường Huband Bridge. Nếu trời đẹp ông sẽ an tọa trên ghế băng bằng sắt bên lề đường, vừa hút thuốc vừa đọc báo, tâm trí mơ màng, vẩn vơ với những gì đã xảy ra hôm trước được đưa tin trên mặt báo hôm nay.
Quirke biết Sarah đang đi về phía mình trước khi ngước nhìn lên. Chậm rãi đi trên con đường nhỏ trước mặt là người phụ nữ mặc áo khoác màu đỏ tía, đội nón kiểu có gắn lông chim. Hai tay bà cầm chặt chiếc ví và giơ cao ngang ngực.
Vừa đi vừa nhìn xuống, Sarah không chỉ ngó chừng mấy vũng nước nhỏ do đêm qua trời mưa. Thực tế, bà chưa sẵn sàng nhìn thẳng vào cặp mắt ngỡ ngàng của Quirke đang đăm đăm nhìn mình. Bà biết tìm Quirke ở đâu vì ông là “nô lệ” của thói quen. Tuy nhiên, chưa giáp mặt, Sarah đã thấy tiếc vì trót đến tìm ông ở đây. Cuối cùng, khi nhìn lên, Sarah thấy ông đã đọc được suy nghĩ của mình. Dù thấy bà tiến đến, Quirke chẳng buồn đứng dậy đón chào. Ông vẫn ngồi yên nhìn bà, tờ nhật trình mở rộng phú trên gối. Nụ cười trên môi ông vừa như mỉa mai, khinh khỉnh vừa như muốn trêu tức bà.
- Cơn gió nào đưa em từ tháp ngà xuống đây thế?
Sarah vừa nhún vai, vừa mỉm cười, nhăn mặt nói:
- Em đi lễ ở nhà thờ trên đường Haddington. Thỉnh thoảng, em nghe thuyết giảng ngày chủ nhật ở đó chỉ để... để thay đổi không khí một chút.
Quirke gật đầu, xếp báo đứng dậy. Ông vẫn cao lớn như ngày nào. Thấy mình như nhỏ lại, Sarah bất giác ngửa người ra sau một chút.
- Cho anh đi với em một quãng nhé?
Vẫn như mọi khi, Quirke cố tình hỏi lễ phép, làm như thể ông luôn chuẩn bị tinh thần chấp nhận lời từ chối. Sarah thấy lạ vì đến giờ này bà vẫn yêu ông vô điều kiện, không hề kỳ vọng được đáp lại.
Họ đi ngược lại đoạn đường bà đi tới lúc trước, ngang qua mấy bụi lau lách héo khô. Đây chính thức là ngày đầu tiên của mùa hạ. Trời sương bảng lảng soi bóng xuống mặt nước. Sau khi im lặng đi bên nhau thật lâu, Quirke nói trước:
- Hôm trước, khi nhà em có tiệc... anh xin lỗi.
- Chuyện xảy ra lâu rồi, bỏ đi thôi. Vả lại, hôm ấy anh say nên có biết gì đâu. Mỗi khi anh khen em đẹp, em biết ngay là rượu nói chứ không phải anh nói.
- Anh vẫn chưa có dịp xin lỗi. Đáng lẽ anh không nên đưa Phoebe tới quán rượu.
Sarah bật cười run rẩy.
- Phải. Mal giận hai người ghê gớm, nhất là anh.
Quirke thở dài khó chịu.
- Anh chỉ chiều con, cho nó uống một ly chứ có định bán nó cho bọn buôn nô lệ đâu. (Bị trách cứ, Sarah nín bặt. Thấy vậy, Quirke dịu giọng). Thôi mình nói chuyện khác đi. Sao hồi này em năng đi lễ nhà thờ thế?
- Chắc vì tuyệt vọng. Chẳng phải khi tuyệt vọng, người ta hay tìm đến Thượng đế ư?
Quirke im lặng quay sang nhìn Sarah và thấy bà chăm chú nhìn mình tự lúc nào. Bà cười buồn, hai môi mím lại như thể bất thần họ vừa đến trước cánh cổng bí mật. Sarah đẩy cửa mở hé, quay sang ông như muốn mời ông cùng bà bước vào khoảng tối bên trong. Quirke chỉ muốn thoái lui: trên đời có nhiều chỗ ông không muốn vào. Trên mặt hồ có hai con thiên nga từ sau bơi lên trước họ, mang theo cái đầu nhỏ ngất ngưởng trên cần cổ dài.
- Phoebe có tính chuyện nghiêm chỉnh với Conor Carrington không vậy?
- Em mong là không.
- Thế nhỡ nó thật lòng yêu cậu ta thì sao?
- Thôi nào Quirke! Anh có thấy đứa nào ở tuổi nó nghiêm túc trong chuyện yêu đương chưa?
- Có. Hai chúng mình đấy thôi.
Quirke nói nhanh và tự tin khiến Sarah giật mình. Bà nhìn xuống và biết ông đang diễn kịch. Nhưng phải công nhận Quirke là diễn viên đại tài. Sarah hoàn toàn chắc chắn rằng thi thoảng ông cũng khiến mình tin điều đó là sự thật.
- Xin anh đừng thế nữa mà.
- “Đừng” cái gì cơ?
- Anh thừa biết rồi còn hỏi.
Đôi thiên nga vẫn song hành cùng họ. Một con bất thần kêu lên một tiếng như lời than vãn bị kìm nén đã lâu. Hình như chính Sarah cũng muốn rên lên như thế. Họ đến cây cầu ở đường Baggot. Dù nhà máy cưa bên kia sông đóng cửa, mùi nhựa cây vẫn thoảng bay trong gió. Họ sánh vai đứng dưới chân cầu cùng ngắm mặt sông lững lờ trôi. Sarah tần ngần nói:
- Bố em bệnh nặng. Em đang tính thuê linh mục ở đường Haddington cầu nguyện cho ông (Thấy Quirke bật cười, bà quay sang nhìn ông nghiêm nghị). Có thực anh không tin Thượng đế không?
- Anh tin Quỷ dữ. Hồi ở Carricklea người ta dạy tụi anh thế.
Sarah gật đầu: đúng là ông đang diễn rất tài.
- Em nghe anh nhắc đến Carricklea hoài, lần nào cũng với giọng bất mãn đó.
- Nó là nơi người ta muốn quên cũng không được.
Sarah đặt bàn tay lên cánh tay Quirke nhưng ông coi như không biết. Bà đành rụt tay về. Nếu ông chỉ giả vờ thì sao nhỉ? Bà chắc chắn ông từng chịu nhiều đau khổ, dù chuyện ấy đã xảy ra từ rất lâu rồi.
- Chắc anh cũng biết phải có chuyện em mới đến đây. Em không giỏi giấu giếm. May cho em là anh chưa thay đổi thói quen. (Bà cố lựa lời phù hợp). Quirke này, em mong anh gặp Mal, nói chuyện thân tình.
Quirke liếc ngang, lông mày nhướng lên.
- Nói chuyện gì mới được?
Sarah bước đến mép nước. Hai con thiên nga nghển cổ nhìn bà. Chúng tạo thành hình chữ V mềm mại nổi trên mặt nước phẳng lặng. Chắc chúng nghĩ bà mang thức ăn đến. Điều đó chẳng có gì lạ vì ai cũng mong muốn một thứ gì đó từ bà.
- Em mong anh và Mal thôi đối đầu. Chắc hai anh nên làm hòa thì hơn.
Bà cười ngượng vì trót dùng từ hoa mỹ. Quirke chưa rời mắt khỏi bà nhưng hai hàng lông mày của ông giờ nhíu lại. Ông hỏi giọng ngờ vực:
- Mal bảo em đến gặp anh ư?
Đến lượt Sarah trợn mắt:
- Đương nhiên là không rồi. Sao em phải chờ Mal bảo?
Nhưng Quirke vẫn giữ giọng gay gắt:
- Em hãy bảo Mal rằng những gì có thể làm cho anh ấy anh đã làm rồi. Cứ nói thế là anh ấy hiểu đấy.
Hai con thiên nga chầm chậm quay đầu, nhìn ngược nhìn xuôi. Càng lúc chúng càng nôn nóng vì thấy quý bà mặc áo khoác đỏ làm ra vẻ định cho chúng ăn nhưng lại không đáp ứng kỳ vọng của chúng. Sarah chẳng để ý đến đôi chim. Bà đang nhìn Quirke, cố hiểu những gì ông vừa nói và biết ông không cần bà hiểu. Mal và Quirke đều không ai chịu ai, mỗi người đều rút về một khoảnh trời riêng. Vậy làm sao Quirke giúp được Mal?
Sarah tự khinh bỉ chính mình khi phải “xuống nước” nài nỉ:
- Em van anh đấy. Hãy dành thời giờ nói chuyện với Mal.
- Nhưng em cũng phải cho anh biết em muốn anh nói chuyện gì mới được?
- Về mọi chuyện, chẳng hạn về con gái... Hãy nói về Phoebe ấy. Anh cứ tưởng Mal không nghe lời anh, nhưng thực chất là có đấy.
Một trong hai con thiên nga lại sốt ruột cất tiếng kêu lạ tai, lôi kéo sự chú ý của Sarah. Quirke buột miệng:
- Con này chắc chắn là con cái. (Sarah phật ý, cau mày khó chịu. Quirke chỉ đôi chim phía sau bà). Họ bảo sau khi kết đôi, đến chết thiên nga vẫn không rời nhau. Chắc đây là con cái (ông cười ngượng nghịu) hoặc con đực.
Sarah nhún vai, tỏ ý không muốn nói chuyện ngoài lề.
- Anh ấy đang rất căng thẳng.
- Có việc gì mà căng thẳng đến vậy?
Nghe qua giọng nói, Sarah biết Quirke đã chán ngấy chuyện bà đang kể. Kiên nhẫn, độ lượng, đam mê chưa bao giờ có trong bản liệt kê tính cách của ông.
- Đã lâu lắm rồi, Mal không tâm sự với em.
Một lần nữa bà lại đẩy cánh cửa dẫn vào khoảng tối, mời ông vào cùng. Lần này, Quirke cũng từ chối nốt. Ông cố tình gay gắt:
- Thế em tưởng anh ta sẽ tâm sự với anh chắc?
Sarah chìa hai tay về phía ông trong một cử chỉ như khẩn khoản, van nài:
- Quirke, anh ấy là người tốt. Em xin anh... Mal cần người giúp giải tỏa lo âu chồng chất bằng cách nói chuyện với anh ấy.
Đến lượt Quirke buồn bã nhún vai. Đây không phải lần đầu tiên người ông mềm nhũn như thể nó không phải bằng xương bằng thịt mà bằng cục bột nhão ai đó nhào nặn, đẽo gọt nên. Quirke mệt mỏi nói cho qua:
- Rồi, anh hiểu rồi.
Không thể kiên nhẫn được nữa, đôi thiên nga lặng lẽ quay đầu, khinh khỉnh bỏ đi. Quirke thở dài:
- Thôi được. Sẽ theo ý em.
***
Quirke mời Mal dùng bữa trưa tại nhà hàng Jammet’s. Ông biết rõ hơn ai hết rằng chính phần tinh quái trong con người ông đã chọn nơi ấy: thức ăn ngon không nằm trong danh sách những thứ đắt tiền Mal hằng khao khát, đồng thời ông ta sẽ không được thoải mái với phong cách bài trí lộng lẫy nhưng không che nổi tình trạng suy vi của nhà hàng này. Chiếc ghế bành mỏng manh ôm lấy thân hình còm nhom của ông. Cổ Mal gầy nhẳng ngọ nguậy trong vành cổ áo sơmi trắng. Hai bàn tay có ngón thuôn dài (không hiểu sao Quirke luôn tưởng tượng chúng bóp cổ người ta rất khéo) bíu chặt cạnh bàn như thể ông luôn sẵn sàng đứng phắt dậy, vội vã bỏ đi. Như mọi khi, Mal mặc đồ vest sọc nhuyễn và thắt nơ trên cổ áo. Dù quần áo luôn may rất khéo, kiểu dáng lịch lãm, nhưng chưa bao giờ chúng tạo cảm giác vừa vặn khi khoác trên người ông. Có cảm giác rằng người ta đã quá trịnh trọng khi mặc đồ cho Mal, kiểu như bà mẹ bắt cậu con trai bướng bỉnh mặc comlê trong lễ Thêm sức vậy. Viên quản lý run rẩy mang rượu khai vị xuống bàn họ. Nhìn điệu bộ xun xoe của ông ta, Mal thở dài nhìn đồng hồ. Quirke khoái trá thấy Mal như gà mắc tóc. Đó là một phần món nợ ông bắt người anh em cột chèo kiêm anh ruột “hờ” phải trả bởi anh ta dám nghiễm nhiên hưởng lợi. Thế nhưng, nếu có ai dám hỏi Quirke rằng Mal được hưởng lợi gì, ông cũng không biết đường trả lời, ngoại trừ một thứ quá rõ ràng: Sarah.
Quirke chọn một chai vang đỏ đắt tiền, dùng điệu bộ khoa trương rót rượu ra ly, hít ngửi và nếm thử trước khi gật đầu với bồi bàn tỏ ý hài lòng. Mal quay mặt đi, cố không nôn nóng ra mặt. Thậm chí ông từ chối uống rượu dù chỉ một ly, lấy cớ chiều còn phải làm việc. Quirke tức tối, nói:
- Không sao. Dùng hết chai này, tôi còn gọi thêm nữa cơ.
Người phục vụ bàn luống tuổi mặc áo đuôi tôm, nét mặt nghiêm trang nhưng điệu đàng, giống nhân viên lễ tang. Sau khi Quirke gọi cá hồi, thịt đông có trứng và gà quay cho mình, Mal kêu xúp gà và trứng ốp la. Quirke chỉ còn biết kêu khẽ:
- Trời ơi!
Bình thường họ đã căng thẳng với nhau, hôm nay còn căng thẳng hơn. Nhà hàng vắng vẻ, chỉ mỗi bàn họ và hai bàn khác có người. Câu chuyện rời rạc xoay quanh các vấn đề trong bệnh viện. Hàm Quirke cứng lại vì nãy giờ ông phải cố nén cái ngáp dài. Đến lúc này, đầu ông cũng nhức buốt. Ông vừa ấn tượng, vừa khó chịu vì Mal có khả năng giải quyết mọi công việc hành chính, dù rất nhỏ, của bệnh viện Holy Family. Không hiểu sao, cứ nghĩ đến tên bệnh viện, Quirke lại cảm thấy ngượng ngùng và buồn nôn. Lắng nghe Mal chậm rãi kể tỉ mỉ về cái mà ông ta luôn miệng gọi là “tình hình tài chính chung của bệnh viện”, Quirke tự hỏi phải chăng ông thiếu thái độ nghiêm chỉnh tối cần thiết. Nhưng rồi ông lấy làm mừng vì mình không tẻ ngắt và dai dẳng như ông anh rể. Mal vẫn luôn bí ẩn nhưng không vì thế mà hấp dẫn hơn. Với Quirke, Mal giống tượng nhân sư: cao ngất, lố bịch đến khó quên và muốn tránh cũng không được.
Mà sao ông ta tạo nên vụ Christine Falls nhỉ? Quirke đã đi đến quyết định nguyên nhân tử vong không thể do sơ suất. Mal không bao giờ sơ ý. Vậy thì tại sao? Quirke không hề nghi ngờ khả năng người khác chứ không phải Malachy Griffin bị dây dưa vào vụ này. Người như Chrissie Falls sẽ là cái bẫy cho bất kỳ ai bất cẩn, còn Mal là người cẩn thận nhất trên đời. Nhưng giờ quan sát ông ta đảo tới đảo lui chiếc muỗng nhỏ trong tô xúp, Quirke không khỏi nghĩ lại. Sao mấy ngón tay Mal, dù thon mảnh, lại cầm muỗng trông vụng về thế nhỉ? Trong phòng mổ, Mal nổi tiếng với biệt tài chộp forceps [1] rất nhanh. Quirke tự hỏi phải chăng suốt bao năm qua ông đã đánh giá quá thấp, hay nói đúng hơn là đánh giá quá cao, ông anh “hờ”? Cái gì ẩn sau khuôn mặt gầy nhom và cặp mắt xanh lơ hơi lồi ra kia? Những ham muốn gì ẩn đằng sau nó? Mới nghĩ đến đó, ông đã thấy chóng mặt, buồn nôn. Không! Ông chẳng muốn tìm hiểu những ham hố bí ẩn của Mal. Cô gái đã chết, ông cũng giúp che đậy một sự thật rõ ràng không thể coi là trong như ngọc. Quirke nhớ lúc Sarah đứng bên bờ kênh, mắt ngắm đôi thiên nga mà đầu suy nghĩ mông lung. Bà bảo: “Anh ấy căng thẳng lắm”. Phải chăng vụ Christine Falls làm ông ta căng thẳng? Và nếu đúng như vậy, hóa ra Sarah đã biết chuyện? Nhưng thực ra, bà biết những gì? Quirke tự nhủ mình đã làm đúng: sổ cái đã được sửa lại cẩn thận, gã Mulligan nhút nhát sẽ câm như hến. Cô gái chết coi như hết hậu họa. Hơn nữa, bây giờ Quirke “nắm thóp” được ông anh “hờ”. Dù không định và cũng không muốn dùng lợi thế ấy, nhưng ông đắc ý vì có nó, mặc cho lắm lúc ông hơi xấu hổ vì trót xấu tính như vậy.
Cá hồi nhạt nhẽo, thịt cá hơi nhơn nhớt, còn gà quay lên tới bàn đã khô xác, mất ngon. Một cô gái trẻ mập mạp ngồi bàn kế bên nhìn Mal rồi quay sang thì thầm với người ngồi cạnh. Rõ ràng mệnh phụ ấy từng là bệnh nhân của ngài Griffin. Quirke cười thầm, buột miệng nói điều không nên nói:
- Sarah muốn tôi gặp anh.
Đang tìm chuyện nói thêm về chủ đề ngân sách trong năm tài chính mới, Mal ngừng bặt, ngồi bất động, đăm đăm nhìn miếng trứng cuối cùng còn trên đĩa. Đầu nghiêng nghiêng như thể nghe không rõ hoặc bị nước chui vào tai, ông ta lạnh lùng:
- Gì cơ?
Quirke đang châm thuốc nên buộc phải nói bằng một bên khóe miệng:
- Cô ấy hỏi tôi có thể gặp anh nói chuyện được không. (Ông vô tình thổi được một vồng khói rất tròn). Nói thật, đó là lý do duy nhất tôi đến đây.
Mal khẽ khàng đặt dao nĩa xuống, úp lòng bàn tay lên mặt bàn như thể ông sắp đứng dậy.
- Làm như cậu chưa từ chối cô ấy bao giờ vậy.
Quirke thở dài. Giữa họ chẳng có gì thay đổi. Trò tranh giành kiểu trẻ con này quá nhàm rồi: Mal luôn bền bỉ, lạnh lùng còn Quirke chỉ muốn tỏ ra thân mật, vui vẻ nhưng cuối cùng lại khó chịu buột miệng nói linh tinh.
Quirke xoay nhẹ điếu thuốc cháy dở, nói cộc lốc:
- Cô ấy bảo anh đang có chuyện phiền lòng.
- Sarah nói thế thật sao?
Nghe giọng Mal, Quirke tưởng đâu ông ta thật lòng muôn đó là sự thật. Quirke nhún vai.
- Tất nhiên là không dài dòng như tôi kể lại. (Ông tức tối thở dài, đoạn hơi nhoài người ra trước hạ thấp giọng). Này Mal, tôi phải nói với anh điều này. Cũng chuyện cô Christine Falls thôi. Tôi đã cho mang xác cô ta trở lại bệnh viện và khám nghiệm tử thi.
Mal thở hắt ra, như thể ông ta là trái bóng lớn vừa bị châm thủng. Cô gái bàn bên lại quay sang nhìn. Thấy nét mặt ông, cô ngừng nhai nhóp nhép. Mal ôn tồn hỏi:
- Sao cậu làm thế?
- Bởi anh nói dối. Cô ấy không phải ở tỉnh. Christine Falls trọ tại nhà bà Dolly Moran, đường Stoney Batter. Nguyên nhân tử vong cũng không do tắc mạch phổi. (Quirke lắc đầu cười khẩy). Anh ghi vào hồ sơ thế chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”!
Mal chậm chạp gật gù, đoạn lại nghiêng đầu đón ánh mắt của mệnh phụ bàn bên. Ông cố nặn một nụ cười nhạt nhẽo nhất từng có, trông giống kiểu cười của người phục vụ tang lễ hơn là của chuyên gia đón trẻ em chào đời.
Không nhìn Quirke mà nhìn quanh phòng, Mal thì thầm, cặp môi gần như không động đậy:
- Cậu nhớ giữ kín đấy.
- Tôi đã nói rồi. Tôi có ác ý gì với anh đâu. Tôi chưa bao giờ quên anh đã có lần giúp tôi và chưa bao giờ đả động đến chuyện ấy.
Người phục vụ bàn mặt như đưa đám (sao hôm nay lắm đám ma thế không biết) đến bên dọn tô đĩa. Sau khi mời khách cà phê nhưng cả hai đều từ chối, ông ta nhẹ nhàng bỏ đi. Mal vắt chân chữ ngũ, hơi nghiêng người ngồi trong ghế bành, mấy ngón tay lơ đãng gõ nhịp trên mặt khăn trải bàn. Quirke bảo:
- Kể tôi nghe về cô ta đi.
Mal nhún vai:
- Chẳng có gì nhiều nhặn đâu. Cô ấy có bạn trai, rồi... (ông giơ tay lên rồi để mặc nó rơi phịch xuống) chẳng có gì đặc biệt. Tất nhiên, chúng tôi đành cho cô ta nghỉ việc. Tôi thu xếp để bà Moran trông nom cô ấy. Nửa đêm, Moran gọi cho tôi. Tôi liền cử xe cứu thương đến nhưng đã quá muộn.
Giữa họ, không gian như chùng thõng xuống, ì trệ và vô vọng. Quirke hỏi:
- Thế đứa bé đâu?
Mal chỉ lắc đầu, không nói. Trong giây lát, không ai nói với ai câu nào. Đột nhiên, Quirke khẳng định như đinh đóng cột:
- Đêm đó, anh không xem bệnh án. Anh tự tay viết vào đó. Thế rồi thấy tôi hỏi, anh mang bệnh án đi hủy chứ gì?
Mal thả chân, trở về tư thế cũ. Ông thở dài, vẻ mặt chán ngấy như thể bị bắt buộc phải nói điều ai cũng biết:
- Cậu nghe đây. Tôi làm thế vì gia đình họ.
- Cái gì?
- Gia đình cô gái ấy. Mất con gái đã quá đau lòng rồi. Nếu biết cháu họ cũng qua đời thì còn khổ đến đâu.
Quirke bối rối nhìn Mal:
- Thế còn cha đứa bé, bạn trai của Christine Falls?
Mal lảng đi, hết nhìn bên này bàn đến bên kia bàn như thể danh tánh của kẻ quyến rũ Christine Falls được viết rõ ràng dưới đó. Ông ta nhún vai:
- Là một gã trai nào đó, ai biết. Chúng tôi thậm chí còn không biết tên anh ta.
- Sao tôi phải tin anh?
Mal cười lạnh lùng:
- Sao tôi phải quan tâm cậu có tin hay không.
- Thế còn đứa bé?
- Con bé làm sao?
Quirke sững người nhìn Mal đăm đăm:
- “Con bé”! Sao anh biết nó là con gái? (Mal không dám nhìn thẳng mắt Quirke). Nó đâu rồi?
- Chết rồi. Thai chết lưu.
Đến đây, có vẻ như không còn gì để nói thêm. Quirke chưng hửng, bối rối uống nốt rượu trong ly rồi yêu cầu thanh toán. Rượu làm đầu ông ong ong.
Ngoài trời nắng yếu và thời tiết dễ chịu. Dư vị cá hồi trong miệng khiến ông buồn nôn. Mal đang cài nút áo khoác. Mặt thẫn thờ, đầu óc Mal đã quay về với bệnh viện, với chiếc ống nghe và đàn sinh viên khoa sản. Tự nhiên, Quirke thấy khó chịu, bức bối.
- Mà này, Dolly Moran đã ghi chép đầy đủ mọi chuyện, về Christine Falls, đứa bé, người cha... Có trời biết bà ấy còn ghi lại những gì nữa.
Chiếc xe buýt lắc lư trườn trên phố nhỏ. Đang cài nốt chiếc nút cuối cùng, bàn tay Mal sững lại. Ông ta vờ hỏi qua loa:
- Sao cậu biết?
- Thì Moran bảo tôi thế. Tôi có đến nghe bà ấy kể chuyện. Đại loại như người ta viết nhật ký ấy mà. Tôi tưởng người như bà ta không có thói quen ghi chép, nhưng hóa ra lại có mới hay chứ.
Mal chậm chạp gật đầu:
- Hiểu rồi. Thế bà ấy định dùng sổ ấy làm gì?
- Tôi không biết. Moran không nói.
Mal vẫn gật gù, ra chiều suy nghĩ:
- Mong là bà ta có ý tốt thôi.
Sau đó, ai đi đường nấy. Vừa đi bộ hết đường Dawson, rẽ sang lối dẫn đến công viên St Stephen’s Green, Quirke vừa tận hưởng ánh mặt trời ấm áp mơn man trên mặt. Tuy việc còn ùn đống ở văn phòng, Quirke vẫn quyết định đi dạo cho đầu óc sáng suốt. Bởi hơi men, ông không nhớ hết cuộc nói chuyện với Mal vừa rồi. Nếu giả dụ Mal làm con gái người ta mang bầu thì thật xấu mặt! Quirke cũng từng hú vía khi lâm vào cảnh ấy. Có lần, ông buộc phải cầu cứu một ông bạn đại học cũ có phòng mạch chui ở London. Chuyện không suôn sẻ khiến cô gái không thèm nhìn mặt ông nữa. Tuy nhiên, ông không tin Mal gặp chuyên tương tự. Quirke tiếp tục chưng hửng vì biết đến tuổi này rồi, người thận trọng như Mal sẽ không sập cái bẫy mà bất kỳ sinh viên y khoa năm nhất nào cũng biết đường tránh. Nhưng sự thật đáng ngạc nhiên vẫn sờ sờ: Mal làm giả hồ sơ của một bệnh nhân đã chết. Gia đình cô Christine Falls quan trọng đến mức nào với Mal khiến ông ta phải mạo hiểm đến vậy? Biết đâu ông ta cũng hủy cả giấy chứng tử gốc, nếu có? Mà để làm gì chứ? Chỉ để gia đình nhà kia không phải chịu một vụ tai tiếng rất có thể chỉ mình ông ta và họ biết. Không, nhất định Mal đang cứu chính mình. Chắc chắn Christine Falls phải là bệnh nhân của ông ta, không phải “bồ nhí”! Lỗi Mal đã mắc phải là sơ suất nghề nghiệp, dù thâm niên trong ngành y chứng tỏ ông ta mẫn cán và cẩn thận đến đâu.
Đến đầu phố Dawson, Quirke sang đường, vào cổng phụ công viên. Mùi lá cỏ và đất ẩm xộc vào mũi ông. Ông nhớ người vợ quá cố đã mồ yên mả đẹp từ lâu nhưng ký ức về bà vẫn sống động hơn bao giờ.
Nghĩ cũng lạ! Có lẽ Quirke quan tâm đến vợ nhiều hơn mình tưởng và lạ hơn nữa là ông trân trọng chính con người của bà hơn những gì bà đã làm cho ông. Quirke nhíu mày, trong lúc đầu óc ngổn ngang trăm mối, ông không hiểu sao mình có suy nghĩ đó. Tuy nhiên, không phải vô cớ nó hình thành trong tâm trí ông.
Chắc ông phải gặp Dolly Moran lần nữa. Ông sẽ hỏi đứa bé giờ ra sao và lần này ông sẽ ép bà ta phải nói thật. Khi đến gần cổng trường đại học, Quirke bước chậm lại. Phoebe vừa đi ra cùng đám bạn. Áo khoác mở phanh, cô gái đi vớ đến mắt cá chân, mang giày đế bằng, mặc váy bằng lụa Tartan có nút cài lớn bên sườn. Mái tóc sẫm màu mượt mà cột kiểu đuôi gà giống hệt tóc Delia. Không thấy ông, cô gái theo bạn đi xa dần. Được một đoạn, Phoebe ngoái đầu cười và nhanh nhẹn sang đường cắm cúi bước đi, tay ôm chồng sách trước ngực. Vừa định gọi, Quirke đã thấy từ vỉa hè đối diện, một thanh niên cao ráo, dáng thư sinh mặc bộ vest màu sẫm, áo khoác Crombie bước lên đón cô. Phoebe nũng nịu nép sát vào người anh, áp má vào vai người yêu. Sau đó, họ tay trong tay cùng đi về hướng đường Hatch. Nhìn theo đôi uyên ương giây lát, Quirke quay lưng đi nhanh về hướng ngược lại.
❀ ❀ ❀
[1] Dụng cụ y tế có dạng kẹp, thường dùng để lấy thai trong trường hợp sinh khó.