Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Là một buổi sáng đẹp, mặt trời mang đến những tia nắng ấm áp hơn ở giữa hòn đảo này. Paul Stevens dẫn chúng tôi đi quanh pháo đài. Pháo đài Terry không có tường thành và thực sự giống như một thị trấn bị bỏ hoang. Nó mang vẻ lập dị không ngờ với một nhà tù xây bằng gạch, một nhà ăn cũ, một doanh trại hai tầng bằng gạch có hành lang và trải rộng ra nhiều hướng, nhà của sỹ quan chỉ huy, một vài tòa nhà khác xây từ khoảng chuyển tiếp giữa hai thế kỉ, một nhà thờ nhỏ ốp gỗ trắng nằm trên một quả đồi.

Stevens chỉ về phía một tòa nhà gạch khác và nói, “Đó là tòa nhà duy nhất còn sử dụng - trạm cứu hỏa.”

Max nhận xét, “Chỗ này nằm khá xa phòng thí nghiệm.”

“Đúng,” Stevens đáp, “nhưng phòng thí nghiệm mới hầu như không thể bén lửa và có hệ thống chữa cháy riêng bên trong.” Gã nói thêm, “Những chiếc xe cứu hỏa này chủ yếu để chữa cháy rừng và cháy trong các tòa nhà không sử dụng vào thí nghiệm sinh học.”

Max đã sống cả đời khi đầu gió, lúc cuối gió của hòn đảo này. Anh nói với Stevens, “Nhưng một đám cháy hoặc một cơn bão có thể phá hủy các trạm phát điện sử dụng cho các khu vực kiểm soát sinh học. Đúng không?”

“Mọi thứ đều có thể.” Gã nói thêm, “Nhiều người sống gần các lò phản ứng hạt nhân. Đây là một thế giới hiện đại - đầy những nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng được - những cơn ác mộng hóa học, sinh học và hạt nhân đang chờ xóa sạch cơ sở cho loài tiến hóa tiếp theo.”

Tôi nhìn Stevens với cách nghĩ khác. Có lẽ thằng cha này dở người rồi.

Phía trước doanh trại là một bãi cỏ trải dài xuống gần bờ nước cách đó một quãng. Từng đàn ngỗng Canada bước đi oai vệ quanh bãi cỏ, cất tiếng kêu quàng quạc hay là điều khỉ gió gì đó mà chúng làm nếu không phải là đang ỉa. Stevens giải thích, “Đó là sân duyệt binh. Chúng tôi thường xuyên cắt cỏ để máy bay có thể nhìn thấy những dòng chữ bằng bê tông trên bãi cỏ. Dòng chữ đó là ‘Đảo Plum - Khu vực Cấm’. Chúng tôi không muốn những chiếc máy bay nhỏ đỗ ở đây.” Gã pha trò, “Dòng chữ đó để đuổi bọn khủng bố bằng máy bay đi.”

Chúng tôi đi bộ một vòng rồi Stevens nói, “Trước khi chúng tôi xây tòa nhà chính, nhiều văn phòng quản lý đặt tại pháo đài Terry này. Giờ thì hầu như tất cả mọi thứ - phòng thí nghiệm, an ninh, nhà kho, ban quản lý, động vật - đều chung trong một tòa nhà, một điều rất tốt dưới góc độ an ninh.” Gã nói với tôi, “Vì vậy, ngay cả khi an ninh vòng ngoài bị phá vỡ thì tòa nhà chính vẫn hầu như không thể xâm phạm được.”

“Anh thực sự đang kích tôi đấy.” Tôi nói.

Stevens lại mỉm cười. Tôi thích khi gã cười với tôi. Gã nói, “Để thông tin cho anh, tôi có một bằng đại học của bang Michigan, tôi treo trên tường phía sau chiếc bàn làm việc của tôi, nhưng anh sẽ không bao giờ thấy nó.”

Tôi cười đáp lại. Chúa ơi, tôi thích chọc giận những người làm tôi khó chịu. Tôi thích Max, tôi thích George Foster, tôi yêu Beth, nhưng tôi không thích Ted Nash và Paul Stevens. Thích ba trong năm người thực sự là điều tốt với tôi - bốn trên sáu, nếu tính cả tôi. Dù sao, tôi cũng không thể tha thứ cho những kẻ nói dối, những tên lừa lọc, những tay khoác lác và những gã thích quyền lực. Tôi nghĩ là hồi chưa bị bắn tôi giàu lòng vị tha hơn. Có lẽ điều này phải hỏi Dom Fanelli.

Chiếc sân duyệt binh cũ chạy dài và kết thúc đột ngột ở một điểm dốc đứng, bên dưới là bãi biển đầy đá. Chúng tôi đứng trên mép nhìn ra phía biển. Cảnh đẹp đến nghẹt thở, nhưng nó làm tăng thêm sự hiu quạnh của nơi này, cái cảm giác như ở thế giới bên kia và tận cùng của thế giới gắn với mọi hòn đảo nói chung và nơi này nói riêng. Đây chắc hẳn đã từng là một trạm gác rất biệt lập, một tiền đồn cực kỳ tẻ ngắt nơi người ta không có gì khác để làm ngoài ngắm biển. Có lẽ các pháo thủ ở đây còn mong được nhìn thấy một hạm đội địch.

Stevens nói, “Bãi biển này là nơi loài hải cẩu đến vào cuối mùa thu hàng năm.”

Tôi hỏi, “Các anh có bắn chúng không?”

“Tất nhiên là không. Miễn là chúng ở trên bãi biển.”

Khi chúng tôi đi bộ trở lại từ bãi biển, Stevens chỉ cho chúng tôi một tảng đá lớn ở cuối bãi duyệt binh. Trên một khe nứt của tảng đá là một viên đạn súng thần công đã hoen gỉ. Gã nói, “Đó là từ thời chiến tranh Cách mạng - của Anh hoặc Mỹ. Đây là một trong những thứ mà ông bà Gordon đã đào lên.”

“Họ tìm thấy ở đâu?”

“Ngay quanh đây thôi, tôi đoán thế. Họ đào rất nhiều quanh bãi biển hải cẩu và ở sân duyệt binh này.”

“Họ đào ư?”

“Họ dường như có biệt tài biết nên đào chỗ nào. Họ đào được nhiều đạn súng hỏa mai đủ để trang bị cho một trung đoàn đấy.”

“Không đùa đấy chứ?” Cứ nói đi, Stevens.

“Họ sử dụng một trong những chiếc máy dò kim loại.”

“Hay đấy.”

“Đó là một sở thích thú vị.”

“Đúng là như thế. Bà mợ tôi cũng là một tay đào bới giỏi. Tôi không biết là vợ chồng Gordon lại thích đào. Trước đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì mà họ phát hiện được.”

“Ồ, họ phải để lại mọi thứ ở đây.”

“Vì nhiễm độc?”

“Không, vì đây là đất đai của liên bang.”

Điều này đáng chú ý. Nash và Foster cũng bắt đầu lắng nghe, điều mà tôi không muốn. Vì thế tôi chuyển đề tài nói với Stevens, “Hình như cậu tài xế đang gọi anh.”

Stevens nhìn về phía chiếc xe, nhưng người lái xe vẫn đang nhìn chăm chú vào một đàn ngỗng. Stevens liếc nhìn đồng hồ rồi nói, “Thôi ta đi xem những chỗ khác trên đảo rồi sau đó có cuộc gặp với Tiến sĩ Zollner.”

Chúng tôi lên xe và chạy về phía đông nơi mặt trời đang lên, hướng ra dải đất của hòn đảo như chiếc xương cong của miếng sườn lợn. Bãi biển tuyệt đẹp với một dải cát dài hai dặm được những làn nước của biển Long Island Sound làm sạch, không rác rưởi, không vết chân người. Không ai nói được lời nào trước cảnh đẹp tráng lệ của tự nhiên. Cả tôi cũng vậy.

Stevens vẫn đứng, thi thoảng liếc nhìn tôi và tôi mỉm cười với gã. Gã cười lại. Đó không thực sự là nụ cười vui vẻ.

Cuối cùng, chiếc xe dừng lại ở đầu hẹp của dải đất. Stevens nói, “Chúng ta chỉ đi xe đến được chỗ này. Giờ mọi người phải đi bộ.”

Chúng tôi xuống xe và thấy mình ở giữa một đống đổ nát hoang tàn kinh ngạc. Nhìn chỗ nào tôi cũng thấy những công sự bê tông lớn với dây leo và cây cỏ mọc chằng chịt - những công sự ngầm, boong ke, ụ súng, kho đạn, những địa đạo, những con đường gạch và bê tông và những bức tường khổng lồ dày chín mươi phân với những cánh cửa sắt hoen gỉ.

Stevens nói, “Một trong những con đường ngầm này dẫn đến một phòng thí nghiệm bí mật nơi các nhà khoa học của Đức Quốc xã vẫn đang làm việc để tìm ra một loại virut tối thượng, không thể tiêu diệt được và sẽ xóa sạch loài người trên thế giới.”

Gã để một hai giây trôi qua trong im lặng rồi nói tiếp, “Trong một phòng thí nghiệm khác dưới lòng đất là thi thể được bảo quản của bốn người ngoài hành tinh được mang về từ vụ va chạm UFO[1] ở Roswell, bang New Mexico.”

Tất cả lại im lặng. Cuối cùng, tôi nói, “Chúng tôi có thể gặp các nhà khoa học Đức Quốc xã trước được không?”

Mọi người cười ồ - đại loại như vậy.

Stevens nở nụ cười chiến thắng nói, “Đây là hai trong số những câu chuyện hoang đường ngớ ngẩn nhất về Đảo Plum.” Gã nói thêm, “Nhiều người cho biết đã nhìn thấy những chiếc máy bay hình dáng kì lạ lên xuống sau nửa đêm ở bãi duyệt binh. Họ cho là bệnh AIDS có nguồn gốc ở đây và bệnh Lyme cũng vậy.” Gã nhìn quanh và nói, “Tôi đoán là những công sự cũ này cùng với các đường ngầm và phòng ốc dưới lòng đất có thể khiến người ta có những tưởng tượng phong phú. Xin mọi người cứ đi xem xung quanh và đến bất kỳ chỗ nào nếu muốn. Nếu có thấy người ngoài hành tinh, xin hãy báo cho tôi biết.” Gã lại mỉm cười. Gã có nụ cười thực sự quái dị, và tôi nghĩ biết đâu gã lại là người hành tinh khác. Stevens nói, “Nhưng tất nhiên, chúng ta phải đi cùng nhau. Tất cả mọi người phải luôn trong tầm quan sát của tôi.”

Cái này thì không được ăn nhập cho lắm. “Đến bất kỳ chỗ nào nếu muốn,” nhưng lại hạn chế vừa đủ. Vì thế, John, Max, Beth, Ted và George trở lại thời niên thiếu và vui vẻ với việc trèo lên những đống đổ nát, những cầu thang gác, những bờ công sự và tất cả mọi thứ với Stevens luôn ở bên cạnh. Chúng tôi bước dọc theo một con đường lát gạch dài và dốc dẫn xuống hai cánh cửa sắt. Cửa khép hờ và chúng tôi đi cả vào trong. Bên trong tối, mát, ẩm và biết đâu nhung nhúc những thứ gì đó.

Stevens đi theo chúng tôi và nói, “Con đường này dẫn đến một kho đạn khổng lồ.” Giọng gã vọng vào khoảng không đen ngòm. “Có một đoạn đường ray hẹp trên đảo để vận chuyển đạn dược và thuốc súng từ cảng vào trong các kho dưới lòng đất. Đó là một hệ thống rất phức tạp. Nhưng, như mọi người thấy, nó hầu như bỏ không. Không còn gì là bí mật đang diễn ra ở nơi này.” Gã nói, “Nếu tôi có một chiếc đèn pin thì chúng ta có thể đi sâu thêm và các bạn sẽ thấy không có ai sống, làm việc, chơi đùa hay được mai táng ở trong này.”

“Thế mấy tên phát xít và người ngoài hành tinh ở đâu?” Tôi vặn hỏi.

“Tôi đưa cả đến chỗ ngọn hải đăng rồi,” Stevens đáp.

Tôi hỏi gã, “Nhưng anh có thể thấy điều lo ngại của chúng tôi là vợ chồng Gordon có thể đã lập một phòng thí nghiệm bí mật ở một nơi như thế này.”

Stevens đáp, “Như tôi đã nói, tôi không nghi ngờ ông bà Gordon về bất cứ điều gì. Nhưng vì khả năng này đã được đặt ra nên tôi đã cho người tìm kiếm toàn bộ khu vực này. Ngoài ra còn có chín mươi tòa nhà quân sự trên mặt đất bị bỏ hoang trên khắp đảo. Chúng tôi còn phải tìm kiếm rất nhiều.”

Tôi nói, “Bảo người lái xe về lấy mấy chiếc đèn pin. Tôi muốn xem xung quanh nơi này.”

Một khoảng im lặng trong bóng tối, rồi Stevens nói, “Sau khi anh gặp tiến sĩ Zollner, chúng ta có thể quay lại đây và khám phá các căn phòng và đường ngầm dưới lòng đất nếu anh muốn.”

Chúng tôi quay trở ra ngoài sáng và Stevens nói, “Đi theo tôi.”

Chúng tôi theo chân gã tới một con đường hẹp hướng về mũi phía đông của Đảo Plum - điểm tận cùng của mẩu xương cong. Trong lúc đi, Stevens nói, “Nếu nhìn ra xung quanh, mọi người có thể nhìn thấy thêm nhiều ụ súng. Chúng tôi đã từng sử dụng các bức tường vây tròn này làm nơi nhốt động vật, nhưng hiện chúng được nuôi ở trong nhà.”

Beth nhận xét, “Nghe độc ác quá.”

Stevens đáp, “Nó an toàn hơn.”

Cuối cùng, chúng tôi tới điểm tận cùng phía đông của hòn đảo, một dốc đá dựng đứng cách bãi biển rải rác đá phía dưới hơn chục mét. Một boong ke bê tông đã bị nước xói làm vỡ thành nhiều mảnh nằm dưới vách đá, một số rơi xuống nước.

Cảnh tượng thật tráng lệ với vệt bờ biển Connecticut hiện ra mờ mờ phía bên trái, cách khoảng hai dặm về phía trước là đảo Great Gull.

Stevens chỉ về phía nam và nói, “Các bạn có nhìn thấy hòn đảo đá đằng kia không? Chỗ đó trước đây được sử dụng để tập ném bom và bắn pháo. Nếu các bạn là lái tàu thì biết phải tránh xa nơi đó vì có nhiều bom và đạn pháo chưa nổ trên đó. Qua hòn đảo đó là bờ bắc của đảo Gardiners mà như ngài cảnh sát trưởng Maxwell biết là tài sản riêng của dòng họ Gardiner và người ngoài không được lui tới. Qua đảo Great Gull là đảo Fishers. Cũng giống như Đảo Plum, nơi đó thường có bọn cướp biển viếng thăm vào thế kỷ mười bảy. Vì vậy, từ bắc tới nam chúng ta có đảo Cướp biển, đảo Bệnh dịch, đảo Nguy hiểm và Đảo Tư.” Gã mỉm cười với sự dí dỏm của mình. Nói đúng hơn, đó là nửa nụ cười.

Đột nhiên, chúng tôi thấy một chiếc tàu tuần tra chạy quanh mũi đất. Nhóm thủy thủ ba người phát hiện ra chúng tôi, một người nâng ông nhòm lên. Nhận ra Stevens, tôi đoán thế, người kia vẫy tay và Stevens cũng vẫy lại.

Tôi nhìn từ vách đá xuống bãi biển phía dưới và nhận ra cát ở đây có những dải ngang màu đỏ, giống như chiếc bánh ngọt trắng nhiều lớp với những quả mâm xôi lấp đầy.

Một giọng người gọi với phía sau và tôi nhìn thấy người lái xe đang đi bộ lên trên con đường hẹp. Stevens nói với chúng tôi, “Cứ ở đây,” rồi đi gặp người lái xe. Anh ta đưa cho Stevens chiếc điện thoại di động. Đây là cảnh trong phim lúc người đưa đường biến mất và chúng ta thấy chiếc xe chạy đi, chỉ còn Bond một mình với cô gái, nhưng rồi đám người nhái xuất hiện từ dưới nước với những khẩu súng từ tàu ngầm và nhả đạn, rồi chiếc trực thăng.

“Điều tra viên Corey.”

Tôi nhìn Beth, “Có gì không?”

“Anh nghĩ được gì đến lúc này?”

Tôi nhận ra Max, Nash, Foster đang trèo lên và đi xung quanh những ụ súng, và là những bậc trượng phu, họ đang bàn về tầm pháo, về nòng súng và những chuyện của bậc nam nhi.

Chỉ còn tôi đứng một mình với Beth. Tôi nói, “Tôi nghĩ cô được đấy.”

“Anh nghĩ gì về Stevens?”

“Gàn dở.”

“Anh nghĩ gì về những điều chúng ta nhìn và nghe thấy cho đến giờ?”

“Chuyến đi sắp đặt trước. Nhưng thi thoảng tôi cũng phát hiện được điều gì đó.”

Nàng gật đầu rồi hỏi, “Vậy cái chuyện khảo cổ này là thế nào? Anh có biết chuyện đó không?”

“Không.” Tôi nói thêm, “Tôi biết về hội Lịch sử Peconic, nhưng không biết về chuyện đào bới khảo cổ ở đây. Về chuyện này vợ chồng Gordon chưa bao giờ nói là họ đã mua một mẫu đất vô dụng nhìn ra biển Sound.”

“Mẫu đất gì vô dụng ở biển Sound?”

“Tôi sẽ nói với cô sau.” Tôi nói, “Nó cũng giống như tất cả những thứ này, cô biết đấy, và họ có thể sử dụng vào việc vận chuyển ma túy, nhưng cũng có thể không. Có điều gì khác đang diễn ra ở đây... Đã bao giờ cô nghe thấy như có tiếng bật trong đầu chưa?”

“Gần đây thì không. Anh có à?”

“Có, giống như tiếng phản hồi của sóng siêu âm.”

“Nghe giống như bị thương tật ba phần tư.”

“Không, là sóng siêu âm. Sóng phát đi, gặp vật cản và phản hồi trở lại. Bật.”

“Lần sau anh nghe thấy thì giơ tay lên nhé.”

“Đúng. Tôi được cho là đang nghỉ ngơi, và cô đang làm tôi lộn nhào lên từ khi tôi gặp cô.”

“Tôi cũng thế.” Nàng chuyển đề tài và nói, “Anh biết đấy, an ninh ở đây không được tốt như tôi nghĩ nếu xem những gì trên đảo này. Nếu đây là một cơ sở hạt nhân, anh sẽ thấy nhiều nhân viên an ninh hơn nhiều.”

“Đúng. An ninh vòng ngoài rất tệ, nhưng có thể an ninh bên trong phòng thí nghiệm tốt hơn. Và có thể như Stevens nói ở đây có nhiều người và phương tiện an ninh hơn chúng ta nhìn thấy. Tuy nhiên, về cơ bản tôi vẫn có cảm giác rằng Tom và Judy Gordon có thể tung tăng ra khỏi đây với bất cứ thứ gì họ muốn. Tôi chỉ hy vọng là họ không muốn thứ gì.”

“Tôi nghĩ chúng ta sẽ tìm ra ngay sau ngày hôm nay hoặc có thể ngày mai họ đã lấy cắp thứ gì đó và chúng ta sẽ được cho biết nó là thứ gì.”

“Ý cô là gì?” Tôi hỏi.

“Tôi sẽ nói với anh sau.”

“Nói với tôi trong bữa tối hôm nay nhé.”

“Tôi đoán là tôi phải cho qua chuyện này.”

“Nó thực sự sẽ không tệ thế đâu.”

“Tôi có giác quan thứ sáu với các cuộc hẹn hò chẳng ra gì.”

“Với tôi thì tốt đấy. Tôi chưa bao giờ rút súng ra trong cuộc hẹn đâu.”

“Vẫn chưa hết hào hoa nhỉ.”

Nàng quay người bước đi. Nàng dừng bên mép vách đá và nhìn ra sóng nước. Bên trái là biển Sound, bên phải là Đại Tây Dương. Cũng giống như với eo biển ở phía bên kia của hòn đảo, gió và những luồng hải lưu gặp nhau ở đây. Những con mòng biển như đứng im trên không. Những con sóng bạc đầu va vào nhau làm biển như sôi lên. Nàng trông thật đẹp khi đứng đó trong làn gió, hòa giữa trời xanh và mây trắng, những con chim, biển và mặt trời. Tôi tưởng tượng nàng đang khỏa thân ở tư thế đó.

Stevens nghe điện xong quay lại nói, “Chúng ta quay lại xe được rồi.”

Chúng tôi đi dọc theo con đường chạy lướt bên trên vách đá. Mấy phút sau chúng tôi trở lại khu công sự đổ nát.

Tôi nhận ra một trong những gò dốc có xây ụ pháo bên trên mới bị xói, để lộ ra những vỉa đất còn mới. Tầng trên cùng là lớp mùn hữu cơ mà bạn có thể đoán ra, bên dưới là cát trắng, một điều cũng bình thường. Nhưng lớp tiếp theo là vỉa đất màu đo đỏ trông như gỉ sắt, tiếp theo là cát rồi đến một lớp nữa màu đỏ, giống hệt như trên bãi biển. Tôi nói với Stevens, “Này, mót quá. Tôi quay lại ngay.”

“Đừng để lạc,” Stevens nói, không hẳn là câu đùa.

Tôi đi quanh chân gò, nhặt một cành cây khô và chọc mạnh vào bề mặt đứng của lớp cỏ. Lớp mùn và cỏ rơi ra, để lộ lớp vỉa màu trắng và đỏ. Tôi bốc một nắm đất màu nâu đỏ và thấy đó thực ra là đất sét trộn với cát và có thể thêm một ít ôxít sắt. Trông nó rất giống với vết đất dính trên giày thể thao của Tom và Judy. Đáng chú ý đây.

Tôi cho một nắm vào túi và quay đầu nhìn quanh, chỉ thấy Stevens đứng đó quan sát tôi.

Gã nói, “Hình như tôi đã nói đến quy định ‘Không bao giờ rời’ rồi thì phải.”

“Tôi nghĩ là anh có nói.”

“Anh vừa đút cái gì vào túi?”

“Chim.”

Chúng tôi đứng nhìn nhau chằm chặp, cuối cùng gã nói, “Trên đảo này tôi là người có quyền, điều tra viên Corey. Không phải anh, không phải điều tra viên Penrose, thậm chí không phải Maxwell, và cũng không phải hai quý ông đi cùng anh.” Gã nhìn tôi với cặp mắt lạnh băng rồi nói, “Tôi có thể xem anh đút gì trong túi được không?”

“Tôi có thể cho anh xem, nhưng sau đó tôi phải giết anh.” Tôi mỉm cười.

Gã thoáng suy nghĩ, tính toán mọi lựa chọn, rồi đi đến quyết định đúng và nói, “Xe sắp chạy rồi.”

Tôi đi qua gã và gã tụt lại phía sau. Tôi nửa chờ đợi một sợi dây quàng qua cổ xiết chặt, một cú đánh vào đầu, cảm giác ớn lạnh nơi sống lưng – nhưng Stevens dễ chịu hơn. Có thể lúc nào đó gã sẽ mời tôi một ly cà phê mang bệnh than.

Chúng tôi lên xe và đi khỏi.

Tất cả mọi người vẫn ngồi đúng ghế lúc trước, còn Stevens vẫn đứng. Chiếc xe hướng về phía tây, trở lại chỗ bến tàu và phòng thí nghiệm chính. Một chiếc xe tải đưa đón chạy vượt qua chúng tôi trên con đường đối diện, bên trên là hai người mặc đồng phục màu xanh và mang súng dài.

Nhìn chung, tôi đã tìm hiểu được nhiều hơn mong đợi, thấy được nhiều thử hơn tôi nghĩ, và nghe thấy đủ để tôi càng ngày càng tò mò hơn. Tôi tin rằng câu trả lời về nguyên nhân Tom và Judy Gordon bị giết nằm trên hòn đảo này. Và như tôi đã nói, một khi đã biết lý do thì cuối cùng tôi sẽ biết kẻ sát nhân là ai.

George Foster hầu như im lặng từ đầu lên tiếng hỏi Stevens, “Anh có chắc chắn ông bà Gordon rời đảo trên tàu riêng của họ vào trưa hôm qua không?”

“Chắc chắn. Theo sổ theo dõi, họ đã làm việc trong bộ phận kiểm soát sinh học vào buổi sáng, đăng xuất, tắm rồi lên một chiếc xe như thế này chở họ ra bến tàu. Có ít nhất hai người nhìn thấy họ lên tàu, chiếc Spirochette, và chạy ra khỏi đảo về phía eo Ruột Plum.”

Foster hỏi, “Có ai ở trên trực thăng hoặc tàu tuần tra nhìn thấy họ khi họ đã ra tới eo biển không?”

Stevens lắc đầu, “Không. Tôi đã hỏi rồi.”

Beth chất vấn, “Dọc bờ biển ở đây có chỗ nào có thể dấu tàu không?”

“Hoàn toàn không. Đảo Plum không có vũng nước sâu, không có lạch. Bãi biển chạy thẳng, chỉ trừ vũng nước nhân tạo nơi chiếc phà ra vào.”

Tôi hỏi, “Nếu chiếc tàu tuần tra của các anh nhìn thấy tàu của nhà Gordon đậu đâu đó gần đảo thì người của anh có đuổi họ đi không?”

“Không. Thực ra ông bà Gordon thi thoảng neo tàu lại để câu cá hoặc bơi ngoài khơi Đảo Plum. Các đội tuần tra đều biết họ rất rõ.”

Tôi không biết là vợ chồng Gordon lại là những người ham thích câu cá như vậy. Tôi hỏi, “Đã bao giờ người của anh thấy họ đậu tàu ở gần bờ biển vào ban đêm chưa?”

Stevens nghĩ một chút rồi đáp, “Chỉ có đúng một lần là tôi để ý.” Gã nói tiếp, “Hai người của tôi trên tàu tuần tra cho biết họ bắt gặp tàu của nhà Gordon đang đậu gần bãi biển phía nam vào một đêm tháng Bảy, khoảng nửa đêm. Người của tôi thấy trên tàu không có ai, và họ chiếu đèn pin lên bờ. Hai vợ chồng Gordon đang trên bãi biển...” Gã húng hắng trong cổ với cái cách khiến mọi người hiểu vợ chồng Gordon đang làm gì. Stevens nói, “Chiếc tàu tuần tra bỏ đi để họ yên.”

Tôi thoáng suy nghĩ về điều này. Tom và Judy tạo cho tôi ấn tượng rằng họ là một cặp sẵn sàng làm tình ở bất kì chỗ nào, vì thế có làm chuyện ấy ở một bãi biển vắng người thì cũng không có gì là lạ. Tuy vậy, làm tình trên bãi biển của Đảo Plum lại khiến tôi vừa nhướng mày, vừa đặt câu hỏi. Tôi đã từng có lần mơ tưởng chuyện làm tình với Judy trên một bãi biển sạch sẽ. Có lẽ là hơn một lần. Mỗi khi có ý nghĩ ấy trong đầu, tôi lại tự tát vào mặt. Đồ đê tiện, đồ đê tiện. Đồ con lợn, đồ con lợn.

Chiếc xe chạy qua bãi đỗ tàu, hướng về phía nam và dừng lại ở một con đường hình ô van trước tòa nhà nghiên cứu chính.

Mặt trước hình cong của tòa nhà mới hai tầng thiết kế theo phong cách trang trí làm từ loại đá khối màu nâu hồng. Một tấm biển lớn dựng trên bãi cỏ đề, “Bộ Nông nghiệp,” và một cột cờ khác với lá cờ treo rủ.

Chúng tôi xuống xe, Paul Stevens nói, “Tôi hy vọng các bạn thích thú với chuyến đi thăm Đảo Plum và có suy nghĩ tốt về bố trí an ninh của chúng tôi.”

Tôi hỏi, “An ninh nào?”

Stevens nhìn tôi khó chịu nói, “Tất cả mọi người làm việc ở đây đều ý thức rõ về nguy cơ xảy ra thảm họa. Tất cả chúng tôi đều luôn ý thức về an ninh, mọi người đều cống hiến cho công việc và đảm bảo những tiêu chuẩn về an toàn cao nhất hiện có ở đây. Nhưng anh thì biết gì? Chẳng có chuyện cứt gì xảy ra cả.”

Sự tục tĩu và khiếm nhã của gã làm mọi người ngạc nhiên. Tôi nói, “Đúng. Nhưng có phải chuyện đó xảy ra hôm qua không?”

“Chúng tôi sẽ biết sớm thôi.” Gã nhìn đồng hồ rồi nói, “Được rồi, chúng ta có thể vào bên trong. Hãy đi theo tôi.”

❀ ❀ ❀

[1] Vật thể bay không xác định.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.