Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

Chúng tôi trở lại hành lang và đến trước hai chiếc cửa màu vàng.

Tiến sĩ Zollner nói với Beth, “Donna chờ cô ở phòng thay đồ. Hãy làm theo hướng dẫn của cô ấy, chúng tôi sẽ gặp lại cô ở cửa sau phòng thay đồ nữ.” Zollner nhìn theo nàng đi qua chiếc cửa màu vàng rồi nói với chúng tôi, “Các quý ông hãy đi theo tôi.”

Chúng tôi đi theo lão vào phòng thay đồ nam. Căn phòng hóa ra lại là một nơi gớm ghiếc, nhưng cũng giống như bất kì phòng thay đồ điển hình nào. Một người giúp việc đưa cho chúng tôi mấy chiếc khóa mở sẵn nhưng không có chìa và mấy bộ quần áo trắng mới giặt dùng trong phòng thí nghiệm. Trong một chiếc túi nhựa là quần lót, bít tất và dép vải.

Zollner chỉ cho chúng tôi một dãy buồng trống và nói, “Hãy bỏ hết mọi thứ ra, kể cả quần áo lót và đồ trang sức.”

Thế là chúng tôi trút bỏ hết để trở về với bộ trang phục lúc sinh ra. Tôi nóng lòng được gặp Beth để nói với nàng rằng Ted Nash mang theo một khẩu 38 với nòng dài bảy phân rưỡi và nòng súng còn dài hơn cái kia của gã.

George Foster thấy vết thương trên ngực tôi, nói, “Gần tim nhỉ.”

“Tôi làm gì có tim.”

Zollner mặc bộ đồ trắng quá khổ của lão, lúc này trông lão giống đại tá Sanders hơn.

Tôi móc khóa vào lỗ cửa và mặc chiếc quần lót giấy vào.

Zollner nhìn chúng tôi và nói, “Mọi người sẵn sàng cả chưa? Xin hãy đi theo tôi.”

“Khoan đã.” Max nói. “Chúng ta không có mặt nạ phòng độc hoặc khẩu trang hay thứ gì đó sao?”

“Không cần ở Vùng hai, ngài Maxwell. Có thể phải dùng ở Vùng bốn, nếu anh muốn đi tới đó. Đi thôi. Theo tôi.”

Chúng tôi đi ra cửa sau phòng thay đồ. Zollner mở một cánh cửa màu đỏ có đánh dấu kí hiệu nguy hiểm sinh học trông rất bí hiểm, bên dưới biểu tượng là dòng chữ “Vùng hai”. Tôi nghe thấy tiếng hút không khí. Tiến sĩ Zollner giải thích, “Đó là áp suất không khí âm. Ở trong này thấp hơn bên ngoài khoảng sáu mươi gam một centimet vuông để cho không thứ mầm bệnh nào có thể thoát ra ngoài ý muốn.”

“Tôi ghét chuyện đó xảy ra.”

“Ngoài ra, các máy lọc không khí bằng hoạt chất trên nóc nhà làm sạch toàn bộ khí thoát ra từ đây.”

Max trông vẫn còn nghi hoặc, giống như một người không muốn bất cứ tin tốt lành nào làm mất suy nghĩ lâu nay của mình rằng Đảo Plum nguy hiểm tương đương với cả Đảo Three Mile và Chemobyr[1] cộng lại.

Chúng tôi đi vào một hành lang bằng xi măng liền khối. Zollner hỏi, “Cô Penrose đâu?”

Tôi đáp, “Này tiến sĩ, ngài có vợ chưa?”

“Có. À... tất nhiên rồi, cô ấy thay đồ có thể mất nhiều thời gian hơn.”

“Không có chuyện ‘có thể’ về cái đó được, ông bạn ạ.”

Cuối cùng, từ cánh của có biểu tượng “Nữ”, Penrose xuất hiện trong bộ đồ trắng rộng lùng thùng, đi dép vải. Trông nàng vẫn gợi cảm, có lẽ trông giống nữ thần ái tình hơn trong bộ đồ trắng.

Nàng nghe tiếng hút không khí. Zollner giải thích về áp suất không khí âm và hướng dẫn chúng tôi phải cẩn thận để không va vào những chiếc xe hoặc giá để những lọ thủy tinh, hoặc những chiếc bình đựng các loại vi rút hay chất hóa học nguy hiểm chết người, vv...

Zollner nói, “Được rồi, theo tôi. Tôi sẽ chỉ cho các vị thấy những gì diễn ra ở đây để các vị có thể kể lại cho bạn bè và đồng nghiệp rằng chúng tôi không chế tạo bom vi trùng than.” Lão cười rồi nói với giọng nghiêm túc, “Vùng năm là không được phép vì các vị cần phải được tiêm phòng đặc biệt và huấn luyện sử dụng quần áo chống nguy cơ sinh học và mặt nạ khí. Ngoài ra, tầng ngầm cũng không được phép đến.”

“Tại sao tầng ngầm lại không được?” Tôi hỏi.

“Vì đó là nơi chúng tôi giấu những người ngoài hành tinh đã chết và các nhà khoa học của Đức quốc xã.” Lão lại cười to.

Tôi thích được làm người ngay thẳng[2] đối với một tiến sĩ béo với giọng nói của Bác sĩ Strangelove[3]. Thật đấy. Nói đúng hơn, tôi biết rằng Stevens thực sự đã nói chuyện với Zollner. Giá như tôi làm con ruồi tsetse[4] đậu trên bức tường đó.

Foster cố pha trò, “Tôi nghĩ là những người ngoài hành tinh và các nhà khoa học Đức quốc xã đang ở trong hầm ngầm.”

“Không, những người ngoài hành tinh ở trong ngọn hải đăng.” Zollner nói, “Chúng tôi đã đưa các nhà khoa học Đức quốc xã ra khỏi hầm khi họ phàn nàn về những con ma cà rồng.”

Mọi người đều bật cười - ha, ha, ha. Chuyện khôi hài trong khu kiểm soát sinh học. Tôi phải viết chuyện này cho tạp chí Reader’s Digest[5] mới được.

Khi chúng tôi cùng đi, Zollner nói, “Khu vục này khá an toàn - chúng tôi đặt các phòng thí nghiệm điều khiển gen, một số văn phòng, kính hiển vi điện tử - công việc ở đây có mức độ rủi ro thấp, ít nguy cơ lây bệnh.”

Chúng tôi đi qua những hành lang bằng xi măng liền khối. Lúc lúc Zoller lại mở một cánh cửa sắt màu vàng, chào một người nào đó trong một văn phòng hay một phòng thí nghiệm và hỏi thăm công việc của họ.

Có đủ các loại phòng không có cửa sổ rất bí hiểm, trong đó có một nơi trông như một hầm chứa rượu vang, chỉ trừ những chai lọ trên giá chứa đầy những thứ mà Zollner cho biết là mẫu nuôi cấy tế bào sống.

Zollner đưa ra nhận xét khi dẫn chúng tôi đi qua những hành lang màu xám như vỏ tàu chiến. “Có những loại virut mới phát sinh có tác động tới cơ thể người hoặc động vật hoặc cả hai. Con người chúng ta và các loài động vật bậc cao khác không có phản ứng miễn dịch trước nhiều loại bệnh chết người này. Các loại thuốc chống virut hiện nay không hiệu quả lắm, và vì thế cách tốt nhất để tránh một thảm họa trên phạm vi toàn thế giới trong tương lai là vác xin chống virut, và cách tốt nhất để có các loại vác xin mới là điều khiển biến đổi gen.”

Max hỏi, “Thảm họa gì?”

Zollner tiếp tục bước đi và nói chuyện rất hào hứng. Lão nói, “Về các loại bệnh động vật, ví dụ như sự bùng phát dịch lở mồm long móng, có thể làm chết phần lớn gia súc của cả quốc gia này và làm mất nguồn sinh sống của hàng triệu người. Giá các loại thực phẩm khác có thể tăng gấp bốn lần. Virut lở mồm long móng có lẽ là loại virut dễ lây lan nhất và độc hại nhất. Vì thế những người theo đuổi chiến tranh vi trùng luôn rất quan tâm đến nó. Một ngày đẹp trời đối với những người ủng hộ chiến tranh vi trùng là ngày khi các nhà khoa học của họ có thể điều khiển gen của vi rút lở mồm long móng để nó có thể gây bệnh cho con người. Nhưng có lẽ tồi tệ hơn là khi một số loại virut này tự biến thể và trở nên nguy hiểm đối với con người.”

Không ai có bình luận hay đặt câu hỏi gì thêm. Chúng tôi kín đáo liếc qua các phòng thí nghiệm. Zollner thỉnh thoảng nói những câu động viên với những nhà khoa học trông xanh xao trong bộ đồ màu trắng. Họ làm việc giữa những thứ mà chỉ nhìn thôi cũng đã làm tôi bất an. Zollner nói những câu như, “Hôm nay có tìm ra điều gì chưa? Có phát hiện ra điều gì mới không?” vv... Có vẻ như lão được các nhà khoa học kia quý mến, hoặc ít nhất cũng không chấp.

Khi chúng tôi đi tiếp trong chuỗi những hành lang dường như không bao giờ hết, Zollner tiếp tục bài giảng. “Ví dụ như năm 1983, một loại bệnh cúm có tính chất lây nhiễm cao và nguy hiểm bùng phát ở Lancaster, bang Pennsylvania. Chết mất mười bảy triệu. Gà, ý tôi là gà. Gia cầm. Nhưng quý vị biết là tôi đang nói điều gì. Dịch cúm lớn gây chết người gần nhất trên thế giới là vào năm 1918. Khi đó, cả thế giới có hai mươi triệu người chết, trong đó nước Mỹ có năm trăm nghìn. Với dân số như hiện nay, con số này sẽ là một triệu rưỡi người chết. Quý vị có thể tưởng tượng đến một điều như thế hiện nay không? Năm 1918 virut chưa thực sự độc hại, đồng thời đi lại chậm hơn và ít thường xuyên hơn nhiều. Còn hiện nay các đường cao tốc và đường hàng không có thể phát tán một loại virut lây nhiễm đi khắp nơi trên thế giới trong thời gian tính bằng ngày. Tin tốt lành về các loại virut nguy hiểm nhất, chẳng hạn như Ebola, là có thể làm người chết rất nhanh, chúng chỉ có vừa đủ thời gian để rời khỏi một ngôi làng châu Phi trước khi tất cả mọi người trong làng chết hết.”

Tôi hỏi, “Có chuyến tàu rời đảo lúc một giờ không?”

Tiến sĩ Zollner bật cười. “Anh đang cảm thấy hơi lo lắng, đúng không? Ở đây không có gì phải sợ. Chúng tôi rất thận trọng. Rất kính nể những sinh vật nhỏ bé trong tòa nhà này.”

“Nghe như thể ‘chó nhà tôi không cắn đâu’ ấy nhỉ.”

Tiến sĩ Zollner không để ý đến tôi và tiếp tục, “Bộ Nông nghiệp có nhiệm vụ ngăn chặn các loài gây bệnh động vật từ nước ngoài không để chúng đến những bờ biển này. Công việc của chúng tôi tương tự như ở các Trung tâm kiểm dịch động vật ở Atlanta. Như quý vị có thể tưởng tượng ra, chúng tôi hợp tác chặt chẽ với Atlanta vì các loại bệnh này có thể lây từ động vật sang người và ngược lại. Chúng tôi có một tổ hợp kiểm dịch không lô ở New Burgh, New York. Tất cả các loại động vật nhập vào Mỹ đều phải cách ly ở đó một thời gian. Quý vị biết đấy, chẳng hạn như một chuyến tàu Noah’s Ark chở động vật đến hàng ngày - ngựa đua ngoại nhập, thú diễn xiếc, động vật cho sở thú, gia súc gây giống, các loại động vật thương mại ngoại lai như đà điểu châu Phi, lạc đà không bướu, hay các loại vật nuôi cảnh nhập ngoại như lợn ỉn của Việt Nam, các loại chim mang từ rừng về... Hai triệu rưỡi động vật mỗi năm.” Lão nhìn chúng tôi và nói, “New Burgh đã được gọi là đảo Ellis của vương quốc động vật. Đảo Plum được gọi là Alcatraz. Không có thứ động vật nào đưa đến cho chúng tôi từ New Burgh hay bất cứ nơi nào có thể rời khỏi đây mà còn sống. Tôi phải nói với quý vị rằng, các loại động vật nhập vào đất nước này để phục vụ giải trí và tiêu khiển đã đẩy đến cho chúng tôi bao nhiêu là việc và cả sự lo lắng. Đó chỉ là vấn đề thời gian...” Lão nói thêm, “Quý vị có thể suy diễn từ vương quốc động vật tới con người.”

Tất nhiên là tôi có thể.

Lão dừng lại một chút rồi nói tiếp, “Những khẩu thần công trên Đảo Plum đã có thời canh giữ bờ biển của đất nước, giờ trung tâm này đang làm việc tương tự.”

Khá thi vị đối với một nhà khoa học, tôi nghĩ vậy. Tôi nhớ là đã đọc dòng đó từ một trong những thông cáo báo chí mà Donna đưa cho tôi.

Zollner thích nói, còn việc của tôi là nghe, nên mọi thứ diễn ra êm xuôi.

Chúng tôi bước vào một căn phòng mà Zollner nói là phòng thí nghiệm tinh thể học X-quang, còn tôi thì cũng không có ý tranh luận với lão.

Một người phụ nữ đang chúi đầu vào kính hiển vi. Zollner giới thiệu đó là tiến sĩ Chen, đồng nghiệp và là bạn tốt của Tom và Judy. Tiến sĩ Chen chừng ba mươi tuổi, khá hấp dẫn, mớ tóc đen dài buộc gọn trong một cái mạng, hợp với khi làm việc gần kính hiển vi, tôi đoán vậy, còn ai mà biết ban đêm thế nào khi bỏ tóc xuống. Cư xử cho phải phép, Corey. Đây là một nhà khoa học, cô ấy thông minh hơn mi nhiều đấy.

Tiến sĩ Chen chào chúng tôi. Trông cô khá nghiêm túc, nhưng có lẽ vì cô vừa hẫng hụt và buồn trước cái chết của hai người bạn.

Một lần nữa, Beth lại giới thiệu tôi là bạn của vợ chồng Gordon. Đó là lí do tôi đang kiếm một đô la mỗi tuần đấy, nếu không phải vì lí do khác. Ý tôi là, người ta không thích bị một đám cớm trút câu hỏi xuống đầu, nhưng nếu một trong những tay cớm kia là bạn của người đã mất thì đó lại là một chút lợi thế. Dù sao, tất cả chúng tôi đều đồng ý rằng cái chết của vợ chồng Gordon là một bi kịch và chúng tôi đều nói tốt về người đã mất.

Chủ đề câu chuyện chuyển sang công việc của tiến sĩ Chen. Cô giải thích bằng ngôn ngữ thông thường để tôi hiểu được, “Tôi có thể chụp X quang các tinh thể virut để từ đó có thể lập sơ đồ phân tử của chúng. Khi đã làm được điều này, chúng tôi có thể thử nghiệm thay đổi gen của virut để chúng mất khả năng gây bệnh, nhưng nếu chúng tôi tiêm loại virut bị biến đổi này vào một động vật, động vật đó có thể sản sinh ra các kháng thể mà chúng tôi hy vọng sẽ tấn công được loại virut gốc gây bệnh.”

Beth hỏi, “Có phải đây là thứ ông bà Gordon cũng làm không?”

“Vâng.”

“Vậy cụ thể là họ đang làm với cái gì? Loại virut nào?”

Tiến sĩ Chen liếc nhìn Zollner. Tôi không thích các nhân chứng làm việc đó. Việc này giống như khi cầu thủ ném bóng được huấn luyện viên ra hiệu ném theo đường cong hoặc lăn trượt hay gì đó. Zoller hẳn đã phải ra hiệu về trái bóng cuối cùng vì tiến sĩ Chen nói thẳng tuột, “Ebola.”

Tất cả im lặng, rồi tiến sĩ Zollner nói, “Tất nhiên là Ebola ở khỉ.” Lão nói thêm, “Đáng ra tôi phải nói trước với quý vị, nhưng tôi nghĩ quí vị muốn được giải thích đầy đủ hơn bởi một trong các đồng nghiệp của vợ chồng Gordon.” Lão gật đầu với tiến sĩ Chen.

Tiến sĩ Chen tiếp tục, “Ông bà Gordon đang cố gắng thay đổi gen của một virut Ebola khỉ để nó không còn khả năng gây bệnh, nhưng lại tạo ra phản ứng miễn dịch trong con vật. Có rất nhiều chuỗi virut Ebola, và chúng tôi thậm chí không biết chắc các chuỗi nào có thể vượt qua ranh giới loài.”

“Ý cô là nhiễm sang người?” Max hỏi.

“Vâng, nhiễm sang người. Nhưng đây là một bước đi quan trọng đầu tiên để tìm ra vác xin Ebola ở người.”

Tiến sĩ Zollner nói, “Hầu hết công việc của chúng tôi ở đây được thực hiện theo truyền thống với gia súc - tức các loại động vật nuôi lấy thịt và lấy da. Tuy nhiên, qua nhiều năm, một số cơ quan chính phủ đã tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu khác.”

Tôi hỏi, “Chẳng hạn như bên quân đội tài trợ cho nghiên cứu chiến tranh vi trùng phải không?”

Tiến sĩ Zollner không trả lời thẳng mà nói, “Hòn đảo này là môi trường có một không hai, tách biệt nhưng lại ở gần các trung tâm vận tải và giao thông chính, gần các trường đại học tốt nhất trong cả nước, và ở gần với một loạt các nhà khoa học được đào tạo cao cấp. Ngoài ra, trung tâm này được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại. Vì thế, ngoài quân đội, chúng tôi còn làm việc với nhiều cơ quan khác, cả ở đây và nước ngoài, bất cứ khi nào có thứ gì đó không bình thường hoặc tiềm ẩn... nguy hiểm đối với con người xuất hiện. Chẳng hạn như Ebola.”

“Nói cách khác là ngài cho thuê phòng ở đây?” Tôi nói.

“Đây là một cơ sở lớn,” lão đáp.

“Vậy vợ chồng Gordon có làm việc cho bộ Nông nghiệp Mỹ không?” Tôi hỏi.

“Tôi không được phép trả lời.”

“Thế séc trả lương cho họ là từ đâu?”

“Tất cả séc trả lương đều từ bộ Nông nghiệp.”

“Nhưng không phải cứ nhà khoa học nào nhận lương từ bộ Nông nghiệp đều là nhân viên của bộ Nông nghiệp, đúng không?”

“Tôi không có ý tranh cãi về ngữ nghĩa với anh, Corey.” Lão nhìn sang tiến sĩ Chen. “Cứ tiếp tục đi.”

Cô nói, “Có nhiều phần việc và công đoạn cho loại công việc này đến mức không ai có thể nhìn toàn cảnh bức tranh trừ người giám sát dự án. Đó là Tom. Judy là trợ lý giám sát dự án. Ngoài ra, bản thân họ là các nhà nghiên cứu xuất sắc. Bây giờ nhớ lại, tôi có thể thấy những điều họ làm, đó là yêu cầu các cuộc kiểm tra dựa trên những thủ tục bắt buộc để đánh lạc hướng chú ý. Thỉnh thoảng họ bảo ai đó trong nhóm dự án chúng tôi rằng họ đã đi tới ngõ cụt. Họ giám sát chặt chẽ các thử nghiệm lâm sàng trên khỉ, trong khi những người nuôi giữ động vật không được thông báo đầy đủ. Tom và Judy là những người duy nhất được cung cấp mọi loại thông tin.”

Cô suy nghĩ một lát rồi nói tiếp, “Tôi không tin là họ có ý định lừa mọi người ngay từ đầu... Tôi nghĩ chỉ khi họ phát hiện ra đã đi gần đến đích một loại vác xin hiệu quả với Ebola khỉ, họ mới thấy khả năng chuyển giao công nghệ cho một phòng thí nghiệm tư, nơi bước đi tiếp theo đương nhiên là vác xin dùng cho người. Có thể họ tin rằng đó là điều tốt nhất phục vụ cho lợi ích của nhân loại. Có thế họ nghĩ rằng mình sẽ sản xuất được loại vác xin này nhanh hơn và hiệu quả hơn khi đưa ra khỏi nơi này. Giống như các cơ quan chính phủ khác, nơi này cũng mắc vào những thủ tục hành chính rườm rà và chậm chạp.”

Max nói, “Vậy cứ theo giả thuyết về động cơ lợi nhuận, tiến sĩ Chen. Lợi ích của nhân loại không trừ tôi ra.”

Cô nhún vai.

Beth tiến gần đến chiếc kính hiển vi. “Tôi xem một chút được không?”

Tiến sĩ Chen nói, “Đây là Ebola đã chết, tất nhiên rồi. Virut Ebola sống chỉ có ở Vùng năm. Nhưng tôi có thể cho các vị xem virut Ebola sống một cách an toàn qua băng video.” Cô bật một màn hình ti vi và bấm nút đầu quay. Trên màn hình hiện ra bốn tinh thể gần như trong suốt, màu phớt hồng, ba chiều, khiến tôi nghĩ đến một chiếc lăng kính. Nếu còn sống thì hẳn chúng đang làm trò giả chết.

Tiến sĩ Chen nói, “Tôi đang lên sơ đồ cấu trúc phân tử, như tôi đã nói, để các chuyên gia về gen có thể cắt và ghép nối các đoạn với nhau, sau đó virut bị biến đổi được cho sinh sản và tiêm vào một cơ thể khỉ. Con khỉ sẽ có một trong ba phản ứng - nhiễm Ebola và chết, không nhiễm Ebola nhưng không sản sinh ra kháng thể chống Ebola, hoặc không nhiễm Ebola và sản sinh ra kháng thể. Đây chính là loại phản ứng mà chúng tôi đang cố đạt được. Nó có nghĩa là chúng tôi có được vác xin. Nhưng không nhất thiết là vác xin an toàn hay hiệu quả. Con khỉ sau đó có thể làm Ebola phát triển, hoặc thường gặp hơn là khi chúng tôi tiêm vào nó loại virut Ebola tự nhiên, kháng thể không đủ hiệu quả để chống chọi với bệnh. Phản ứng miễn dịch là quá yếu. Hoặc phản ứng miễn dịch không chống lại được tất cả mọi dạng virut. Đây là loại công việc rất dễ làm nản lòng. Những con virut rất đơn giản, chúng chỉ là phân tử và gen, nhưng lại khó đối phó hơn so với vi trùng vì chúng dễ biến thể, khó tìm hiểu, và khó tiêu diệt. Thực chất, câu hỏi đặt ra là - phải chăng những tinh thể này thực sự sống như cách chúng ta hiểu về sự sống? Quý vị hãy nhìn. Trông chúng như những miếng khoai tây đông lạnh.”

Tất cả chúng tôi đều nhìn chăm chú lên những tinh thể trên màn hình. Trông chúng giống như thứ gì đó đang thả ra một chiếc đèn trùm. Thật khó mà tin được những thứ kia cùng các anh chị em họ nhà chúng lại gây ra nhiều đau khổ và chết chóc cho con người đến thế, đó là chưa kể đến động vật. Có thứ gì đó đáng sợ về một vi sinh vật trông như đã chết nhưng lại hồi sinh khi xâm nhập vào những tế bào sống, rồi sản sinh nhanh tới mức có thể giết chết một người đàn ông khỏe mạnh nặng chín mươi cân chỉ trong bốn mươi tám giờ. Không biết Chúa đang nghĩ gì?

Tiến sĩ Chen tắt màn hình ti vi.

Beth hỏi tiến sĩ Chen về thái độ của vợ chồng Gordon trong buổi sáng hôm qua. Chen trả lời họ dường như có gì đó hơi căng thẳng. Judy kêu đau đầu và họ quyết định về nhà. Điều này không làm ai trong chúng tôi ngạc nhiên.

Tôi hỏi thẳng tiến sĩ Chen, “Cô có nghĩ hôm qua họ đã đem thứ gì ra khỏi đây không?”

Cô thoáng suy nghĩ rồi trả lời, “Tôi không biết. Làm sao tôi biết được?”

Beth nói, “Việc lén mang thứ gì đó ra khỏi đây có khó lắm không? Nếu chị muốn mang thì chị làm thế nào?”

“Ồ... Tôi có thể lấy bất cứ ống nghiệm nào ở đây, hoặc thậm chí là ở một phòng thí nghiệm khác, mang vào phòng vệ sinh và cho ống nghiệm vào một lỗ nào đó trên cơ thể. Sẽ không ai để ý đến việc mất một ống nghiệm nhỏ, nhất là nó lại không được đánh số hay ghi nhớ đặc điểm riêng. Sau đó tôi vào phòng tắm, cho quần áo vào thùng, tắm, rồi vào phòng thay đồ. Đến lúc này thì tôi có thể lấy chiếc ống ra và bỏ vào túi xách. Tôi mặc quần áo, đi ra qua hành lang, lên xe ra bến tàu rồi về nhà. Không có ai theo dõi khi tắm. Không có camera. Các anh chị sẽ thấy khi ra khỏi đây.”

Tôi hỏi, “Còn với những thứ to hơn. Những thứ quá to không thể cho vào... vâng, quá to.”

“Bất kể thứ gì giấu được vào quần áo phòng thí nghiệm là có thể mang ra phòng tắm. Ở đó sẽ phải khôn ngoan một chút. Thí dụ, nếu tôi mang một chiếc đĩa chứa các chuỗi gen vào phòng tắm, tôi có thể giấu vào khăn tắm.”

Beth nói, “Chị cũng có thể giấu nó vào trong thùng cùng với quần áo của phòng thí nghiệm thay ra.”

“Không, ta không bao giờ có thể quay lại. Quần áo sẽ được khử trùng. Thực ra sau khi đã dùng khăn tắm xong sẽ phải để nó vào một chiếc thùng riêng. Chính đây là chỗ nếu có ai đó quan sát sẽ thấy ta có mang gì ra hay không. Nhưng nếu tắm để ra vào giờ khác thường lệ thì chắc không có ai ở đó.”

Tôi cố tưởng tượng tình huống này, Tom và Judy mang thứ có Chúa mới biết là thứ gì ra khỏi tòa nhà này chiều qua khi không có ai khác trong phòng tắm. Tôi hỏi tiến sĩ Chen, “Nếu giả định mọi thứ ở đây đều ở mức độ nhiễm khuẩn nào đó thì tại sao cô lại muốn đút một lọ thủy tinh đụng thứ gì đó vào chỗ nào đó trong người?”

Cô đáp, “Tất nhiên anh sẽ khử trùng cơ bản trước. Rửa tay với xà phòng đặc biệt trong nhà vệ sinh, anh có thể dùng một chiếc bao cao su để gói chiếc lọ thủy tinh hay ống nghiệm kia, hoặc dùng găng tay cao su hay giấy bóng cho những vật lớn hơn. Phải thật cẩn thận, nhưng không hoang tưởng.”

Tiến sĩ Chen tiếp tục, “Với thông tin trên máy tính, nó có thể được truyền qua đường điện tử từ khu kiểm soát sinh học ra các văn phòng ở khu hành chính. Vì thế không cần phải đánh cắp đĩa hay băng.” Cô nói thêm, “Với các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài kia có một máy fax cá nhân. Đó là cách duy nhất có thể đưa các ghi chép ra khỏi đây. Nhiều năm trước, chúng tôi phải dùng loại giấy đặc biệt, rửa trong dung dịch khử trùng, để khô rồi hôm sau đến lấy. Bây giờ có máy fax thì cứ về phòng riêng là có sẵn rồi.”

Hay thật, tôi nghĩ. Tôi dám cá là những người phát minh ra máy fax không bao giờ nghĩ đến điều này. Tôi có thể làm một chương trình quảng cáo trên truyên hình - “Những ghi chép trong phòng thí nghiệm bám đầy vi sinh vật? Fax chúng ra văn phòng của bạn. Bạn sẽ phải tắm, còn chúng thì không.” Hay đại loại thế.

Beth nhìn tiến sĩ Chen hỏi thẳng, “Chị có nghĩ là ông bà Gordon đã lấy thứ gì đó ra khỏi đây mà có thể gây nguy hiểm không?”

“Ồ, không. Không, không. Dù họ có lấy thứ gì đi nữa thì đó cũng không phải là thứ gây bệnh. Dù là thứ gì thì nó cũng là thuốc chữa, có ích, giải độc, tùy theo cách mà chúng ta gọi. Đó là một thứ tốt. Tôi có thể đánh cược cả mạng sống của mình.”

Beth nói, “Tất cả chúng ta đều đánh cược mạng sống của mình vào đó.”

Chúng tôi tạm biệt tiến sĩ Chen và phòng X-quang để tiếp tục chuyến thăm.

Khi chúng tôi đang đi, tiến sĩ Zollner nhận xét, “Như tôi đã nói lúc trước và cả tiến sĩ Chen chắc cũng đồng ý, nếu vợ chồng Gordon có đánh cắp thứ gì đó thì chỉ có thể là một loại vác xin từ virut biến đổi gen. Khả năng nhiều nhất là vác xin phòng Ebola vì đó là trọng tâm nghiên cứu chính của họ.”

Mọi người dường như đều đồng ý với điều này. Riêng tôi có ý nghĩ là nhận xét của tiến sĩ Chen lại quá nhanh và hoàn hảo, thứ hai là cô này không biết rõ về vợ chồng Gordon như cả cô lẫn Zollner nói ra.

Tiến sĩ Zollner làm một tràng bình luận khi chúng tôi đi theo các hành lang rối rắm như mê cung. Lão nói, “Trong số các loại bệnh do virut gây ra mà chúng tôi nghiên cứu có bệnh tiêu chảy ác tính, bệnh sốt xuất huyết Congo Crimean, bệnh lưỡi xanh. Chúng tôi cũng nghiên cứu các chủng bệnh viêm phổi, các bệnh do trùng rận gây ra, như bệnh phù tim, bệnh do vi trùng, và bệnh do các vật kí sinh gây ra.”

“Này tiến sĩ, tôi bị điểm C môn sinh học và đó là vì tôi gian lận. Ngài còn quên nói đến bệnh hoa liễu. Nhưng cho tôi hỏi ngài câu này - ngài phải làm ra rất nhiều những thứ này để nghiên cứu. Đúng không?”

“Đúng, nhưng tôi đảm bảo với anh là chúng tôi có khả năng sản xuất vi sinh vật với số lượng đủ để phục vụ chiến tranh, nếu đó là điều anh muốn biết.”

Tôi nói, “Tôi đang nghĩ đến những hành động khủng bố hú họa. Các ngài có sản xuất đủ vi trùng hay virut cho việc đó không?”

Lão nhún vai, “Có thể.”

“Lại câu đó rồi, tiến sĩ.”

“Có, đủ cho một hành động khủng bố.”

Tôi hỏi, “Phải chăng một chiếc thùng cà phê đầy vi khuẩn than phun vào không khí quanh đảo Manhattan có thể giết chết hai trăm nghìn người?”

Lão thoáng suy nghĩ rồi đáp, “Điều đó là có thể. Ai biết được cơ chứ? Nó phụ thuộc vào gió. Vào mùa hè? Vào giờ ăn trưa?”

“Chẳng hạn như giờ cao điểm tối mai.”

“Đúng... hai trăm nghìn. Ba trăm nghìn. Một triệu. Điều đó không quan trọng vì không ai biết và không ai có đủ một thùng cà phê chứa đầy vi khuẩn bệnh than, về điều này thì tôi có thể chắc chắn với anh. Chúng tôi có thống kê cụ thể về cái này.”

“Tốt. Nhưng không cụ thể lắm về các thứ khác?”

“Tôi đã nói với anh, nếu có mất thứ gì thì đó là vác xin virut. Đó là thứ mà vợ chồng Gordon nghiên cứu. Anh sẽ thấy thôi. Ngày mai tỉnh dậy anh sẽ thấy mình vẫn còn sống. Rồi ngày kia, ngày kìa. Nhưng sáu, bảy tháng nữa sẽ có một công ty dược phẩm hoặc một chính phủ nước ngoài nào đó công bố tìm ra vác xin Ebola, rồi tổ chức Y tế thế giới sẽ mua hai trăm triệu liều ban đầu, và khi tìm ra ai kiếm được nhiều tiền nhất từ vác xin này, anh sẽ tìm ra kẻ giết người.”

Không ai đáp lại trong mấy giây, sau Max nói, “Ngài được nhận vào làm, thưa tiến sĩ.”

Mọi người mỉm cười. Kỳ thực, tất cả chúng tôi đều muốn tin, chúng tôi thực sự tin. Chúng tôi nhẹ nhõm đến độ như đi trên mây, lâng lâng trước tin tốt lành, run lên vì biết sẽ không có cảnh một sáng kia thức dậy thấy mình bị lưỡi xanh hay thứ bệnh gì đó, và thật sự là không còn ai nghĩ nhiều đến vụ án như lúc trước. Trừ tôi.

Zollner tiếp tục chỉ cho chúng tôi mọi loại phòng ốc, nói về những chẩn đoán và sản xuất chất thử phản ứng, nghiên cứu kháng thể đơn tính, điều khiển gen, các loại vi rút sinh ra từ vật kí sinh, sản xuất vác xin, vv... Toàn những thứ thật khó mà nghĩ ra được.

Phải là người kỳ quặc mới có thể làm thứ công việc này, tôi nghĩ thế. Còn vợ chồng Gordon, những người mà tôi cho là bình thường, chắc hẳn đã bị đồng nghiệp coi là thích chơi trội, như Zollner đã nói về họ. Tôi nói điều này với Zollner thì lão đáp, “Đúng, các nhà khoa học của tôi ở đây khá hướng nội... giống hầu hết những người làm khoa học. Anh có biết cái khác nhau giữa một nhà sinh vật học hướng nội và một nhà sinh vật học hướng ngoại là gì không?”

“Không.”

“Nhà sinh vật học hướng ngoại nhìn xuống giày của anh khi nói chuyện với anh.” Zollner cười vui vẻ, ngay cả tôi cũng cười, dù tôi không thích người khác hướng mọi người chú ý vào mình. Nhưng dù sao đây cũng là chỗ của lão.

Chúng tôi được thấy nhiều nơi trong dự án của vợ chồng Gordon và cả phòng thí nghiệm của chính họ.

Bên trong phòng thí nghiệm nhỏ của vợ chồng Gordon, tiến sĩ Zollner nói, “Với tư cách là giám đốc dự án, vợ chồng Gordon chủ yếu là giám sát. Tuy nhiên họ cũng tự tay làm một số công việc.”

Beth nói, “Không có ai khác làm trong phòng thí nghiệm này sao?”

“Họ có các trợ lý. Nhưng căn phòng này là chỗ riêng của hai tiến sĩ Gordon. Cô có thể chắc chắn là tôi mất một giờ ở đây sáng nay để tìm xem có gì không ổn, nhưng họ không để lại thứ gì đáng ngờ quanh đây.”

Tôi gật đầu. Thực ra, có thể đã có bằng chứng buộc tội vào bất cứ thời điểm nào trước đó. Nhưng nếu hôm qua là đỉnh điểm trong công việc bí mật của vợ chồng Gordon và là vụ đánh cắp cuối cùng thì họ đã dọn dẹp sạch nơi này sáng qua hoặc từ ngày hôm trước. Nhưng đó là nếu tôi tin vào toàn bộ giả thuyết về vác xin Ebola, mà tôi thì không chắc là tôi đã tin.

Beth nói với tiến sĩ Zollner, “Ngài đáng ra không được vào nơi làm việc của các nạn nhân của vụ án mạng và xem xét xung quanh, lấy đi thứ gì đó hay chạm vào bất cứ thứ gì.”

Zollner nhún vai, như thể lão nên làm thế trong những tình huống đó. Lão nói, “Thế làm sao mà tôi biết đáng ra phải làm thế? Cô có biết gì về công việc của tôi không?”

Beth nói, “Tôi chỉ muốn ngài biết ”

“Cho lần sau ấy à? Được, nếu lần sau có nhà khoa học hàng đầu nào của tôi bị giết, tôi sẽ biết chắc rằng không được vào phòng thí nghiệm của người đó.”

Beth Penrose đủ thông minh để biết nên bỏ qua và không nói gì thêm.

Rõ ràng cô nàng theo sách vở xử lý không tốt lắm những tình huống đặc biệt kiểu này. Nhưng tôi tin là nàng đang cố làm cho đúng cách. Nếu nàng mà là thành viên của thủy thủ đoàn trên con tàu Titanic, chắc hẳn nàng đã bắt mọi người kí nhận áo phao.

Chúng tôi quan sát xung quanh phòng thí nghiệm, nhưng không thấy có sổ ghi chép, không có chiếc cốc thủy tinh nào dán chữ “Tìm ra rồi”, không có dòng chữ khó hiểu nào trên chiếc bảng đen, không có xác chết nào trong chiếc buồng nhỏ chứa đồ, và thực ra là không có điều gì mà một người bình thường có thể hiểu được. Nếu có thứ gì đáng chú ý hoặc có thể làm chứng cứ buộc tội ở đây thì nó đã mất rồi, những lời khen ngợi vợ chồng Gordon, hay Zollner, hay thậm chí cả Nash là Foster nếu họ đã đi đến tận đây lúc sáng sớm nay.

Tôi đứng đó, cố liên hệ với những linh hồn có thể vẫn quanh quẩn trong căn phòng này - Judy, Tom... chỉ cho tôi một manh mối, một dấu hiệu gì đó di.

Tôi nhắm mắt chờ đợi. Fanelli nói là người chết nói chuyện với anh ta. Họ kể về đặc điểm của kẻ giết người, nhưng họ toàn nói tiếng Ba Lan hoặc tiếng Tây Ban Nha, đôi khi cả tiếng Hy Lạp, vì thế nên anh ta không hiểu họ nói gì. Tôi biết anh ta nói phét. Anh chàng này khùng hơn cả tôi.

Không may, phòng thí nghiệm của vợ chồng Gordon lại là nơi đã bị khám xét, và giờ chúng tôi tiếp tục công việc đó.

Chúng tôi nói chuyện với cả chục nhà khoa học làm việc với vợ chồng Gordon hoặc giúp việc cho họ. Có mấy điều rõ ràng là: (a) mọi người đều yêu mến Tom và Judy; (b) Tom và Judy rất giỏi; (c) Tom và Judy không làm hại một con ruồi nếu không phải vì sự nghiệp khoa học để phục vụ cho con người và động vật; (d) vợ chồng Gordon tuy là những người được yêu mến và kính trọng nhưng lại khác người; (e) vợ chồng Gordon dù rất thực thà trong những ứng xử cá nhân nhưng có lẽ đã chơi lại chính phủ và đánh cắp một loại vác xin trị giá bằng trọng lượng của nó tính theo vàng, như theo cách gọi của một ai đó. Tôi có cảm giác rằng tất cả mọi người đều đọc những điều này từ cùng một thứ ghi sẵn.

Chúng tôi tiếp tục đi và leo lên cầu thang tới tầng hai. Cái chân khốn khổ của tôi phải kéo đi, lá phổi tồi tệ đang khò khè đến mức tôi nghĩ là mọi người đều nghe thấy. Tôi nói với Max, “Tôi cứ tưởng là việc này không đến nỗi vất vả.”

Anh nhìn tôi và gượng cười. Anh nói nhỏ với tôi, “Có lúc tôi sợ bị giam đấy.”

“Tôi cũng thế.” Thật ra, không phải cảm giác sợ bị giam giữ làm anh e dè. Giống như hầu hết những người đàn ông bạo gan và thích hành động, trong đó có tôi, Max không muốn phải đối mặt với một mối nguy hiểm mà không thể chĩa súng vào nó.

Tiến sĩ Zollner đang nói về các chương trình đào tạo được thực hiện tại đây, về các nhà khoa học đến làm việc ngắn hạn, các nghiên cứu sinh, các bác sĩ thú y từ khắp nơi trên thế giới đến học tập và giảng dạy. Lão cũng nói về các chương trình hợp tác quốc tế của trung tâm ở những nơi như Israel, Mexico, Canada, Anh. Lão nói, “Vợ chồng Gordon đến Anh khoảng một năm trước. Phòng thí nghiệm Pirbright, phía nam London. Đó là phòng thí nghiệm cùng loại với chỗ chúng tôi.”

Tôi hỏi tiến sĩ Zollner, “Ngài có khách thăm từ quân đoàn Hóa học của quân đội không?”

Zollner nhìn tôi nói, “Tôi nói bất cứ điều gì anh cũng tìm ra câu để hỏi. Tôi rất vui biết là anh đang lắng nghe.”

“Tôi đang lắng nghe câu trả lời cho câu hỏi của tôi.”

“Câu trả lời là không phải việc của anh, Corey.”

“Có đấy, thưa tiến sĩ. Nếu chúng tôi nghi ngờ rằng vợ chồng Gordon đã lấy cắp các vi sinh vật có thể sử dụng cho chiến tranh vi trùng và đó là nguyên nhân khiến họ bị giết, thì chúng tôi phải biết liệu các vi sinh vật đó có tồn tại ở đây hay không. Nói cách khác, có hay không các chuyên gia chiến tranh vi trùng trong tòa nhà này? Họ có làm việc ở đây không?”

Tiến sĩ Zollner liếc nhìn Foster và Nash rồi nói, “Nếu bảo là không có người của quân đoàn Hóa học ở đây thì cũng không đúng lắm. Họ cực kỳ quan tâm đến các loại vác xin và thuốc chữa bệnh cho các trường hợp nguy hiểm từ sinh học... Chính phủ Mỹ không nghiên cứu, thúc đẩy hoặc sản xuất các tác nhân phục vụ cho chiến tranh vi trùng tấn công. Nhưng sẽ là một cuộc tự sát của cả quốc gia nếu không nghiên cứu các biện pháp phòng thủ. Vì thế, một ngày nào đó, nếu một kẻ xấu với một thùng đựng vi khuẩn bệnh than chạy canô quanh đảo Manhattan thì chúng ta có thể sẵn sàng để bảo vệ dân chúng.” Tiến sĩ Zollner nói thêm, “Tôi chắc chắn với các vị rằng vợ chồng Gordon không làm việc cùng bất cứ ai của quân đội, không làm việc trong khu vực đó, và thực tế không được tiếp cận với bất cứ thứ gì nguy hại như vậy”.

“Trừ Ebola.”

“Đúng là anh có lắng nghe. Nhân viên của tôi nên tập trung như thế. Nhưng tại sao lại nghĩ đến đến một thứ vũ khí Ebola? Chúng ta có bệnh than. Việc cải tiến từ bệnh than cũng giống như cải tiến từ thuốc súng. Vi khuẩn than dễ sinh sản, dễ kiểm soát, chúng phán tán nhẹ nhàng vào không khí, giết người đủ chậm để cho những người bị nhiễm mang chúng lan ra thêm, chúng làm nhiều người tàn tật ngang với số người chết và gây ra sự sụp đổ cho hệ thống y tế của kẻ thù. Nhưng, về danh nghĩa, chúng ta không có bom hay đạn pháo chứa bệnh than, vấn đề là ở chỗ, nếu vợ chồng Gordon đang cố chế tạo một loại vũ khí sinh học để bán cho một thế lực nước ngoài nào đó, họ sẽ không nghĩ đến Ebola. Họ đủ thông minh để không làm điều đó. Vì thế hãy gạt mối nghi ngờ này sang một bên.”

“Vậy tôi yên tâm rồi. À này, vợ chồng Gordon tới Anh khi nào?”

“Để xem... tháng Năm năm ngoái. Tôi nhớ là đã ghen tị với việc họ đi Anh vào tháng Năm.” Lão hỏi tôi, “Sao anh lại hỏi?”

“Này tiến sĩ, các nhà khoa học có biết là họ lúc nào cũng đặt câu hỏi không?”

“Không phải mọi lúc.”

“Tôi đoán là chính phủ trả mọi chi phí cho chuyến đi Anh của vợ chồng Gordon.”

“Tất nhiên. Đó là việc công.” Lão thoáng suy nghĩ rồi nói, “Thực ra thì họ ở London một tuần bằng tiền riêng. Đúng rồi, tôi nhớ là như vậy.”

Tôi gật đầu. Thứ mà tôi không nhớ là có khoản thanh toán lớn bất thường nào qua thẻ tín dụng vào tháng Năm hay tháng Sáu năm ngoái. Tôi băn khoăn không biết họ tiêu tiền ở đâu vào tuần đó. Không phải trong một khách sạn ở London, trừ khi họ giấu không để trong hóa đơn. Tôi cũng không nhớ họ có rút khoản tiền mặt lớn nào đó không. Chỗ này phải nghĩ đây.

Cái khó khi đặt ra những câu hỏi thực sự không khôn ngoan trước mặt Foster và Nash là họ sẽ biết câu trả lời. Ngay cả nếu không biết câu hỏi ở đâu ra thì họ vẫn đủ thông minh để biết - ngược lại với điều tôi nói với Zollner - rằng hầu hết mọi câu hỏi đều có mục đích.

Chúng tôi đi xuống một hành lang rất dài. Mọi người im lặng một lúc lâu rồi tiến sĩ Zollner lên tiếng, “Quý vị có nghe thấỵ gì không?” Lão dừng lại, đứng im và đưa tay lên tai. “Quý vị có nghe thấy nó không?”

Tất cả chúng tôi đứng im và dỏng tai nghe ngóng. Cuối cùng Foster hỏi, “Cái gì thế?”

“Tiếng ì ầm. Đó là tiếng ì ầm. Đó là...”

Nash quỳ xuống đặt lòng bàn tay lên sàn. “Động đất?”

“Không,” Zollner nói, “Là cái bụng tôi. Tôi đang đói.” Lão cười và vỗ vỗ vào bụng. “Thư giãn đi”. Lão nói bằng giọng Đức, làm câu đó nghe còn buồn cười hơn. Tất cả mọi người đều cười, trừ Nash. Gã đứng thẳng lên và phủi hai tay cho sạch.

Zollner đi tới một cánh cửa sơn màu đỏ tươi, trên có gắn sáu tấm biển kiểu tiêu chuẩn của cơ quan quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, gồm: nguy hiểm sinh học, phóng xạ, chất thải hóa học, điện cao thế, chất độc nguy hiểm, và cuối cùng, chất thải con người chưa xử lí. Lão mở cửa và thông báo, “phòng ăn.”

Bên trong căn phòng xi măng trắng đơn màu là một chục chiếc bàn trống, một chiếc chậu rửa, một tủ lạnh, một lò vi sóng, những bảng tin đầy các mẩu thông báo và ghi nhắn, một chiếc thùng ướp lạnh và một chiếc máy pha cà phê, nhưng không có máy bán tự động, sự thể là không có ai muốn vào trong này để tiếp đồ cho máy. Trên một chiếc bệ có máy fax, thực đơn những món ăn trong ngày, giấy và bút chì. Tiến sĩ Zollner nói, “Bữa trưa là tôi chi.” Lão gọi cho mình một suất khá nhiều, tôi thấy có cả món súp du juor, tức là thịt bò. Tôi thậm chí còn không muốn nghĩ đến thịt bò lấy từ đâu.

Lần đầu tiên từ khi xuất viện, tôi gọi món thạch, và lần đầu tiên trong đời, tôi bỏ qua các món thịt.

Những người khác dường như không ai thật sự đói, tất cả họ đều gọi món xa-lát.

Tiến sĩ Zollner gửi báo ăn qua fax và nói, “Giờ ăn trưa ở đây thường tới một giờ mới bắt đầu, nhưng họ sẽ mang tới nhanh thôi vì tôi đã yêu cầu rồi.”

Tiến sĩ Zollner đề nghị chúng tôi rửa tay. Chúng tôi rửa trong chiếc chậu với một thứ xà phòng nước màu nâu trông kì quặc có mùi như I-ốt.

Chúng tôi lấy cà phê và ngồi xuống. Một vài người khác đi vào phòng, lấy cà phê và mang đồ ra khỏi chiếc tủ lạnh hoặc gửi báo ăn qua fax. Tôi nhìn đồng hồ để xem giờ nhưng chỉ thấy cái cổ tay.

Zollner nói, “Nếu anh mang đồng hồ vào thì tôi sẽ phải khử trùng và cách ly nó trong mười ngày.”

“Đồng hồ của tôi sẽ không chạy được sau một lần khử trùng đâu.” Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ trên tường. Một giờ kém năm phút chiều.

Chúng tôi ngồi chuyện phiếm mấy phút. Cánh cửa mở ra và một người đàn ông mặc quần áo trắng bước vào, đẩy theo một chiếc xe bằng thép không gỉ trông cũng giống như những chiếc xe mang đồ ăn trưa khác, ngoại trừ nó được phủ bằng một lớp giấy bóng.

Tiến sĩ Zollner kéo bỏ lớp giấy bóng, đưa suất ăn cho từng người trong chúng tôi rồi cho người phục vụ đi ra cùng chiếc xe. Chủ nhà thật tuyệt vời.

Max hỏi, “Anh ta có phải tắm không?”

“Ồ, có. Chiếc xe đẩy được đưa vào phòng khử trùng trước và lấy ra sau.”

Tôi hỏi, “Liệu có thể dùng chiếc xe ấy để lén mang những thứ đồ lớn ra khỏi đây không?”

Tiến sĩ Zollner đang sắp xếp đồ án để trước mặt với sự thành thạo của một kẻ háu ăn thực thụ. Lão rời mắt khỏi niềm đam mê của mình, ngước lên nói, “Anh nhắc đến, tôi xin trả lời là có. Chiếc xe đó là thứ duy nhất thường xuyên ra vào từ khu hành chính đến khu kiểm soát sinh học. Nhưng nếu muốn dùng nó để lén mang đồ ra, anh sẽ phải có thêm hai người khác giúp. Một người đẩy vào và đẩy ra, rồi một người rửa sạch xe và mang trở lại bếp. Anh thông minh lắm, anh Corey.”

“Tôi nghĩ giống như một tên tội phạm.”

Lão bật cười rồi lại vục đầu vào bát súp bò. Khiếp quá.

Tôi nhìn tiến sĩ Zollner khi tôi xì xụp với món thạch màu vàng chanh. Tôi thích lão. Lão khôi hài, dễ gần, mến khách và khôn khéo. Lão nói dối dẻo quẹo, tất nhiên rồi, nhưng có người khác bắt lão phải nói dối. Có lẽ hai gã ngồi bên kia bàn, là những người đầu tiên, và Chúa mới biết ai khác ở Washington đã trao đổi với lão qua điện thoại suốt cả buổi sáng trong lúc chúng tôi đang ngao du quanh những nơi tàn tích, lấy những cuốn sách mỏng về bệnh rinderpest và tiền liệt tuyến hay thứ gì đó. Zollner lại nói với tiến sĩ Chen và cô này thì hơi trôi chảy quá. Ý tôi là, trong tất cả những người mà chúng tôi có thể đã hỏi, Zollner đã dẫn chúng tôi đến với tiến sĩ Chen, mà công việc của người này chỉ có liên quan chút ít ở vòng ngoài với công việc của vợ chồng Gordon. Cô được giới thiệu với chúng tôi là bạn thân của vợ chồng Gordon, nhưng thực tế không phải, tôi chưa bao giờ nghe nhắc đến tên cô trước đây. Sau đó có các nhà khoa học khác mà chúng tôi được tiếp chuyện ngắn ngủi, trước khi tiến sĩ Zollner đưa chúng tôi đi - cả họ cũng nói toàn những điều giống như tiến sĩ Chen.

Trong bếp có nhiều khói và cả những chiếc gương. Tôi chắc là ở đây lúc nào cũng thế. Tôi nói với Zollner, “Tôi không tin vào câu chuyện vác xin Ebola. Tôi biết các ngài đang giấu gì và đang che đậy điều gì.”

Zoller đang nhai dở ngừng lại, một điều khó chịu với lão. Lão nhìn chằm chằm vào tôi.

Tôi nói, “Đó là những người ngoài hành tinh ở Roswell, đúng không, tiến sĩ? Vợ chồng Gordon sắp tìm ra bí mật của những người ngoài hành tinh ở Roswell.”

Căn phòng hoàn toàn im lặng. Cả mấy nhà khoa học khác có mặt ở đó cũng liếc nhìn tôi. Cuối cùng, tôi cười nói, “Đó chính là món thạch này - óc của người ngoài hành tinh. Tôi đang chén mất bằng chứng đấy.”

Mọi người đều cười. Zollner cười to đến ngẹt cả thở. Này anh bạn, tôi vui tính lắm mà. Zollner và tôi có thể làm một chương trình hay thường xuyên trên ti vi: Corey và Zollner. Có thể còn hay hơn chương trình Hồ sơ Corey.

Tất cả mọi người quay lại với bữa ăn trưa và nói chuyện phiếm. Tôi liếc nhìn những người đồng hành với mình. George Foster trông hơi hoảng lúc tôi nói không tin vào chuyện vác xin Ebola, nhưng giờ lại bình thản và đang ăn món búp linh lăng. Ted Nash lúc trước không hoảng đến như vậy nhưng lại đáng sợ hơn. Ý tôi là, bất kể điều gì đang diễn ra trong này, thì đây không phải lúc và không phải nơi để nói chuyện linh tinh hay dối trá. Beth và tôi đưa mắt nhìn nhau, và cũng như mọi lần, tôi không thể biết là nàng thích thú với những câu đùa của tôi hay lại khó chịu. Con đường tới trái tim phụ nữ là qua óc khôi hài của họ. Phụ nữ thích những người đàn ông làm họ cười. Tôi nghĩ thế.

Tôi nhìn Max. Anh dường như ít lo sợ hơn trong căn phòng gần như bình thường này. Có vẻ như anh đang thưởng thức món xa-lát của mình, không phải thứ nên có trên thực đơn trong một không gian kín.

Chúng tôi tiếp tục ăn và câu chuyện trở lại với thứ vác xin có thể đã bị đánh cắp kia. Tiến sĩ Zollner nói, “Có ai đó đã nói lúc trước là loại vác xin này có giá trị bằng trọng lượng của nó tính theo vàng, điều này làm tôi nhớ lại - một vài loại vác xin mà vợ chồng Gordon đang thử có màu của vàng. Tôi nhớ vợ chồng Gordon đã có lần nói về loại vác xin này là vàng nước. Tôi nghĩ điều này hơi lạ, có lẽ thế, vì chúng tôi không bao giờ nói đến tiền bạc hay lợi nhuận ở đây...”.

“Tất nhiên là không,” tôi nói. “Chỗ của ngài là cơ quan chính phủ. Nó không phải là tiền của ngài, và ngài không bao giờ phải chứng tỏ lợi nhuận.”

Tiến sĩ Zollner mỉm cười. “Cả công việc của ngài cũng thế, thưa ngài.”

“Rất giống nhau. Dù đã xảy ra bất cứ chuyện gì, giờ chúng ta tin rằng vợ chồng Gordon đã sáng ra và không còn thỏa mãn khi làm việc vì lợi ích của khoa học với mức lương của chính phủ, họ phát hiện ra chủ nghĩa tư bản và đi theo tiếng gọi của vàng.”

“Đúng.” Lão nói thêm, “Anh đã nói chuyện với các đồng nghiệp của họ, anh đã thấy họ làm gì ở đây, và đến giờ anh chỉ có thể rút ra một kết luận duy nhất. Vậy sao anh còn hoài nghi?”

“Tôi có nghi ngờ gì đâu,” tôi nói dối. Tất nhiên là tôi phải nghi ngờ. Tôi là dân New York và tôi là cớm. Nhưng vì không muốn làm mếch lòng tiến sĩ Zollner hay Foster và Nash nên tôi nói, “Tôi chỉ tìm cách để làm cho các sự kiện trở nên hợp lý. Theo cách tôi nhìn nhận, hoặc việc vợ chồng Gordon bị giết không liên quan gì đến công việc của họ ở đây, và tất cả chúng tôi đã đi sai đường - hoặc nếu có liên quan đến công việc của họ thì khả năng nhiều nhất là vì việc lấy cắp một loại vác xin trị giá đến hàng triệu đô la. Vàng nước. Và dường như vợ chồng Gordon đã bị lừa, hoặc có thể họ đã cố lừa đối tác kia, để rồi bị giết-" Ping.

Lại là âm thanh đó trong đầu. Cái gì...? Nó đang ở đây. Tôi không thể thấy nó, nhưng tôi có thể nghe thấy tiếng vọng của nó, tôi có thể cảm giác được sự hiện diện của nó. Nhưng nó là cái gì?

“Anh Corey?”

“Gì cơ?”

Đôi mắt xanh chớp chớp của tiến sĩ Zollner đang soi vào tôi qua cặp kính gọng nhỏ. Lão nói, “Anh đang nghĩ gì trong đầu à?”

“Không. À, có. Nếu tôi phải bỏ đồng hồ đeo tay ở ngoài thì tại sao ngài lại được mang kính vào?”

“Đó là một ngoại lệ. Có chỗ để rửa kính trên đường đi ra. Nó khiến anh có ý tưởng hay giả thuyết gì mới à?”

“Đĩa mang chuỗi gen ngụy trang là kính mắt.”

Lão lắc đầu. “Ngớ ngẩn. Tôi nghĩ những chiếc đĩa đó được mang ra bằng xe đẩy.”

“Đúng.”

Tiến sĩ Zollner nhìn đồng hồ trên tường rồi nói, “Chúng ta tiếp tục chứ?”

Tất cả chúng tôi đứng dậy và nhặt những đồ giấy, nhựa vào một chiếc thùng rác con màu đỏ có lót một túi nhựa cũng màu đỏ.

Ra đến ngoài hành lang, tiến sĩ Zollner nói, “Giờ chúng ta sẽ vào Vùng ba. Tất nhiên đó là vùng có mức độ nguy hiểm cao hơn, vì vậy nếu có ai không muốn vào thì tôi sẽ cử người đưa trở lại phòng tắm.”

Tất cả mọi người dường như đều muốn đi sâu thêm vào tận cùng của địa ngục. Nói thế thì có vẻ hơi quá so với phản ứng của mọi người. Hiện giờ, chúng tôi đi qua một cánh cửa màu đỏ có dòng chữ “Vùng ba.” Ở đây, Zollner giải thích, các nhà nghiên cứu của lão làm việc với các nguồn bệnh còn sống - kí sinh trùng, virut, vi trùng, nấm và đủ thứ đáng sợ khác. Zollner chỉ cho chúng tôi một phòng thí nghiệm, bên trong là một người phụ nữ đang ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh lỗ thông trên tường. Cô này đeo mặt nạ, đi găng tay cao su. Trước mặt cô là một tấm chắn bằng nhựa, giống như tấm chắn hắt xì hơi ở một quay bar bán xa-lát, chỉ khác là cô ta không gắp rau. Zollner nói, “Lỗ thông trên tường chỗ đặt các nguồn bệnh có máy hút khí nên khả năng có thứ gì đó lọt vào phòng này là thấp.”

Max hỏi, “Tại sao cô ấy có mặt nạ còn chúng ta thì không?”

“Câu hỏi hay đấy.” Tôi nói.

Zollner nói, “Cô ấy ở gần nguồn bệnh hơn chúng ta nhiều. Nếu anh muốn đến gần để xem thì tôi sẽ lấy mặt nạ cho anh.”

“Bỏ qua.” Tôi nói.

“Bỏ qua.” Tất cả mọi người đồng ý.

Tiến sĩ Zollner tiến gần đến chỗ người phụ nữ và trao đổi một vài câu nhỏ với cô. Lão quay ra, đi gần đến chỗ chúng tôi và nói, “Cô ấy đang nghiên cứu loại virut gây ra bệnh lưỡi xanh.” Lão thoáng suy nghĩ rồi nói, “Có lẽ tôi đã đến quá gần.” Lão lè lưỡi ra, lưỡi lão đúng là màu xanh thật, rồi lão nhìn xuống mũi. “Đức Chúa nơi thiên đàng ... hay đó là món bánh việt quất mà tôi ăn trong bữa trưa?” Lão cười to. Chúng tôi cũng cười. Kỳ thực, những trò đùa xúi quẩy càng lúc càng không hợp lắm, kể cả với tôi, nhưng tôi luôn sẵn lòng tha thứ cho những trò đùa ngu ngốc.

Tất cả chúng tôi rời khỏi căn phòng.

Nơi này trong tòa nhà trông vắng vẻ hơn ở Vùng hai, những người tôi gặp trông cũng ít vui vẻ hơn.

Zollner nói, “Ở đây không có gì nhiều để xem, nhưng nếu tôi nói thế thì anh Corey lại nằng nặc đòi xem mọi ngóc ngách chỗ này.”

“Ồ, tiến sĩ Zollner,” tôi nói, “tôi đã làm gì để ngài phải nói những điều như thế về tôi sao?”

“Đúng.”

“Được, thế thì hãy xem từng ngõ ngách của chỗ này nhé.”

Tôi nghe thấy một vài tiếng than, nhưng Zollner nói, “Rất tốt, xin đi theo tôi.”

Chúng tôi mất khoảng nửa giờ xem xét từng ngõ ngách, và thật ra hầu như chỗ nào trong Vùng ba này cũng giống nhau - phòng nối tiếp phòng với những con người đang chúi đầu vào kính hiển vi, lấy những bản kính ra khỏi chất lỏng, những mẫu vật từ máu và mô của các động vật sống và chết, vv... Một số còn mang bữa trưa vào và ăn trong khi làm việc cùng những thứ ghê người kia.

Chúng tôi nói chuyện với khoảng hơn chục người nữa có biết hoặc làm việc cùng Tom và Judy, và dù chúng tôi hình dung được một bức tranh rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về công việc của họ, chúng tôi không tìm hiểu thêm được gì nhiều về đầu óc của họ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ đây là bài tập không thừa - tôi muốn xây dựng trong đầu mình đầy đủ hoàn cảnh của người đã chết, sau đó tôi thường nghĩ tới điều gì đó sáng sủa để đi tiếp theo hướng đó. Đôi khi những lúc chuyện phiếm với bạn bè, gia đình, đồng nghiệp lại xuất hiện một hai từ có thể dẫn đến cách giải quyết.

Zollner giải thích, “Hầu hết các loại virut và vi trùng không thể vượt qua ranh giới loài. Các vị có thể uống một ống nghiệm đầy virut gây bệnh lở mồm long móng mà không hề hấn gì ngoài một chút khó chịu trong bụng, mặc dù một con bò sẽ chết với một lượng chỉ bằng chiếc đầu kim.”

“Tại sao?”

“Tại sao ư? Vì cấu trúc gen của virut phải có khả năng... khớp vào một tế bào để lây nhiễm vào nó. Tế bào của người không khớp với virut lở mồm long móng.”

Beth nói, “Nhưng có một số bằng chứng cho thấy bệnh bò điên có lây sang người.”

“Bất cứ điều gì cũng có thể. Đó là lý do tại sao chúng tôi phải thận trọng.” Lão nói thêm, “Vi sinh vật cắn đấy.”

Thật ra, chúng mút.

Chúng tôi vào một căn phòng sáng sủa khác, Zollner nói, “Trong này chúng tôi làm việc với các kí sinh trùng. Tệ nhất là loài sâu xoắn. Chúng tôi đã tìm ra một biện pháp rất hay để kiểm soát loại bệnh này. Chúng tôi biết rằng sâu xoắn đực và cái chỉ giao phối duy nhất một lần trong đời, vì thế chúng tôi làm mất khả năng sinh sản của hàng triệu con đực bằng tia gamma và dùng máy bay thả chúng vào miền Trung Mỹ. Khi con đực giao phối với con cái, chúng không sinh sản được. Hay đấy chứ?”

Tôi buộc phải hỏi, “Nhưng con cái có thỏa mãn không?”

“Phải thỏa mãn,” Zollner đáp. “Nó sẽ không bao giờ giao phối lại.”

Beth góp ý, “Còn một cách khác để nhìn nhận việc này.”

Zollner phì cười. “Đúng, cách nhìn của loài cái.”

Trò giễu cợt qua đi, chúng tôi lần lượt nhìn vào ấu trùng sâu xoắn dưới kính hiển vi. Ghê thật.

Và chúng tôi cứ như vậy, vào các phòng thí nghiệm, những căn phòng nơi các loại vi trùng, vi khuẩn và kí sinh trùng đáng sợ được nuôi lớn và cất trữ. Chúng tôi vào tất cả những nơi bí hiểm mà mục đích và chức năng của chúng thì tôi chỉ hiểu lờ mờ.

Tôi luôn tưởng tượng trong đầu hai người bạn Tom và Judy của tôi bước đi trên những hành lang này, vào những căn phòng này hàng ngày. Thế nhưng họ không bị trầm cảm hay lo lắng gì. Ít nhất là tôi không nhận ra.

Cuối cùng, tiến sĩ Zollner nói, “Đó là tất cả Vùng ba. Giờ một lần nữa tôi phải hỏi các vị là có muốn đi tiếp hay thôi. Vùng bốn là vùng nhiễm khuẩn cao nhất trong tất cả các vùng, thực ra là hơn cả Vùng năm. Ở Vùng năm, mọi người luôn ở trong bộ đồ chống nguy hiểm sinh học và sử dụng ống thở, mọi thứ đều được khử trùng thường xuyên. Thật ra còn có một phòng tắm riêng cho Vùng năm. Nhưng Vùng bốn là chỗ các vị sẽ thấy các chuồng nhốt động vật, những con vật ốm và sắp chết, rồi cả các phòng thiêu hủy và mổ xẻ, nếu các vị muốn. Vì vậy, mặc dù chúng tôi chỉ xử lí lâm sàng ở đây đối với các loại bệnh động vật, nhưng có thể có các mầm bệnh khác trong môi trường xung quanh.” Lão nói thêm, “Nghĩa là vi trùng trong không khí.”

Max hỏi, “Chúng tôi có mặt nạ không?”

“Nếu anh muốn.” Lão nhìn quanh rồi nói, “Được, đi theo tôi.”

Chúng tôi lại đến một cánh cửa màu đỏ khác, lần này là dòng chữ “Vùng bốn” cùng một biểu tượng nguy hiểm sinh học. Một tay hề nào đó đã đính một tấm đề can đầu lâu xương chéo ghê rợn vào cánh cửa - chiếc đầu lâu nứt miếng, một con rắn thò ra từ vết nứt và tự xâu mình qua một hốc mắt của chiếc đầu. Một con nhện đang bò ra từ cái mồm đang nhe nhởn. Tiến sĩ Zollner nói, “Tôi tin Tom là người làm cái trò kinh khủng đó. Vợ chồng Gordon tạo cho nơi này một chút bông đùa.”

“Đúng.” Cho đến khi họ chết.

Vị chủ nhà của chúng tôi mở cánh cửa đỏ, bên trong là một căn phòng kiểu phòng chờ. Một chiếc xe đẩy bằng kim loại đặt trong phòng, bên trên có một hộp đựng găng tay cao su và một hộp đựng mặt nạ giấy. Tiến sĩ Zollner nói, “Ai muốn thì cứ dùng.”

Nghe cứ như bảo dù và áo phao là không bắt buộc, nghĩa là có thể cần những thứ đó hoặc không.

Zollner giải thích thêm, “Thứ này không bắt buộc. Dù sao thì khi ra chúng ta cũng phải tắm. Cá nhân tôi không cần đến găng tay hay mặt nạ. Chỉ vướng víu. Nhưng quý vị có thể cảm thấy yên tâm hơn nếu dùng.”

Tôi có cảm giác rất rõ là lão đang hù chúng tôi, kiểu như, “Tôi toàn đi đường tắt qua nghĩa trang, nhưng nếu các vị thích đi đường xa thì tôi cũng sẵn lòng. Đồ nhát gan.”

Tôi nói, “Chỗ này không thể bẩn hơn phòng tắm của tôi được.”

Zollner cười, “Chắc phải sạch hơn nhiều chứ.”

Rõ ràng không ai muốn mình trông như dở hơi bằng việc mang trên mình những thứ đồ phòng bệnh, và đó là con đường để những sinh vật nhỏ bé tấn công chúng ta. Vì thế chúng tôi đi tiếp, qua chiếc cửa màu đỏ thứ hai đến một hành lang xây bằng bê tông cũng một màu xám như ở những chỗ khác trong khu kiểm soát sinh học. Có điều khác là những chiếc cửa ở đây rộng hơn, trên mỗi chiếc đều có một chiếc then cài lớn. Zollner giải thích, “Đó là cửa khóa không khí.”

Tôi cũng nhận ra trên mỗi cánh cửa đều có một ô cửa sổ nhỏ, một chiếc bìa kẹp treo trên bức tường bên cạnh.

Tiến sĩ Zollner đưa chúng tôi tới cánh cửa gần nhất và nói, “Tất cả các phòng này đều là chỗ nhốt động vật và đều có cửa sổ để quan sát từ bên ngoài. Điều mà các vị nhìn thấy có thể sẽ không mấy dễ chịu, hoặc sẽ làm cho bữa ăn trưa lợm miệng. Vì thế các vị không bắt buộc phải nhìn.” Lão xem chiếc bìa kẹp treo trên tường bê tông và nói, “Bệnh sốt lợn châu Phi...” Lão nhìn qua cửa sổ rồi nói, “Chú này không tệ lắm. Chỉ hơi bơ phờ một chút. Cứ xem đi.”

Chúng tôi lần lượt ghé mắt nhìn vào chú ngựa đen xinh đẹp bên trong căn phòng đóng kín như nhà tù. Quả thật trông nó hoàn toàn bình thường, chỉ trừ thỉnh thoảng thở hổn hển như thể có vấn đề về hô hấp.

Zollner giải thích, “Tất cả các động vật ở đây đều được thử thách với một loại virut hoặc vi trùng.”

“Thử thách?” Tôi hỏi. “Phải chăng là cho lây nhiễm.”

“Đúng, chúng tôi gọi là thử thách.”

“Sau đó thì điều gì xảy ra? Chúng trở nên yếu hơn, rồi rơi vào tình trạng không thở ngoài ý muốn?”

“Đúng. Chúng ốm và chết. Tuy nhiên, đôi khi chúng tôi phải hy sinh chúng. Tức là giết chết chúng trước khi căn bệnh phát triển lên đỉnh điểm.” Lão nói thêm, “Tôi nghĩ mọi người làm việc ở đây đều yêu mến động vật, đó là lý do tại sao họ thích thứ công việc này. Không ai trong trung tâm này muốn thấy những sinh linh này phải chịu đau đớn, nhưng nếu các vị đã từng thấy hàng triệu gia súc bị nhiễm bệnh lở mồm long móng, các vị sẽ hiểu tại sao việc hy sinh một vài chục con là cần thiết.” Lão đặt tấm bảng trở lại và nói, “Đi thôi.”

Ở đây vô khối những căn phòng bất hạnh như vậy, và chúng tôi đi từ phòng này đến phòng khác nơi đủ loại động vật đang ở những giai đoạn khác nhau gần đến cái chết. Trong một phòng nhốt, con bò thấy chúng tôi liền đi dặt dẹo tới cửa và nhìn chúng tôi đang chăm chú vào nó. Tiến sĩ Zollner nói, “Chú này bị nặng rồi. Lở mồm long móng giai đoạn cuối - các vị có thấy dáng đi của nó không? Nhìn những vết phồng rộp trên miệng nó. Nước dãi đặc trông như sợi dây thừng. Đây là loại bệnh đáng sợ và là kẻ thù cũ. Có những ghi chép về loại bệnh này trong những văn tự cổ. Như tôi đã nói, bệnh này có tính lây lan cao. Một lần bệnh dịch nổ ra ở Pháp đã lan sang tận Anh qua đường gió qua eo biển Măng-xơ. Đó là một trong những virut nhỏ bé nhất phát hiện được từ trước đến giờ. Nó dường như có khả năng sống ở trạng thái ngủ trong thời gian rất dài.” Lão im lặng một lát rồi nói tiếp, “Một ngày nào đó, một thứ gì đó như thế này có thể biến thể và bắt đầu lây nhiễm trên cơ thể người...”

Cho đến lúc này, tôi nghĩ, tất cả chúng tôi đều đã bị “thử thách” về tinh thần lẫn thể xác, theo cách nói của tiến sĩ Zollner. Nói cách khác, đầu óc chúng tôi đã mụ đi, mông thì ê ẩm rồi. Nhưng tệ hơn là tinh thần của chúng tôi đã nhụt đi, và nếu tôi có linh hồn thì nó đã bị trục trặc rồi.

Cuối cùng, tôi nói với tiến sĩ Zollner, “Tôi không biết gì về bất cứ ai khác, nhưng tôi đã thấy đủ rồi.”

Mọi người đều đồng tình.

Tuy vậy, tôi lại có một ý nghĩ cuối cùng và ngu ngốc, tôi nói, “Liệu chúng tôi có thể xem vợ chồng Gordon làm việc với cái gì không? Tức là virut Ebola ở khỉ ấy?”

Lão lắc đầu. “Đó là Vùng năm.” Lão suy nghĩ một lúc rồi nói, “Nhưng tôi có thể cho anh xem một con lợn bị bệnh sốt lợn châu Phi. Nó cũng giống như Ebola, đều là sốt xuất huyết. Rất giống nhau.”

Lão dẫn đường đưa chúng tôi đến một hành lang khác và dừng lại trước một cánh cửa đề số “1130”. Lão kiểm tra bảng ghi chép trên tường và nói, “Con lợn này đang ở giai đoạn cuối... giai đoạn xuất huyết... nó sẽ đi trong sáng nay... nếu đã đi trước đó thì nó được đặt trong một chiếc thùng ướp lạnh, rồi được giải phẫu những bộ phận đầu tiên vào ngày mai, sau đó đem thiêu hủy. Đây là một thứ bệnh cực kỳ ghê sợ đã giết chết gần như toàn bộ loài lợn ở nhiều nơi tại châu Phi. Hiện chưa có loại vác xin hay thuốc chữa nào. Như tôi đã nói, đó là thể bệnh rất gần với Ebola...” Lão nhìn tôi và bước tới chỗ ô cửa sổ. “Nhìn đi.”

Tôi bước tới chiếc cửa sổ và nhìn vào bên trong. Sàn của căn phòng được sơn đỏ, điều ban đầu làm tôi ngạc nhiên, nhưng sau liền hiểu ra. Gần giữa căn phòng là một con lợn khổng lồ đang nằm trên sàn, gần như bất động, quanh mồm, mũi và cả hai bên tai đầy máu. Cho dù sàn nhà được sơn đỏ, tôi vẫn nhận ra một vũng máu tươi gần hai chân sau của nó.

Phía sau tôi, tiến sĩ Zollner nói, “Anh thấy nó đang ra máu, đúng không? Sốt xuất huyết thật kinh khủng. Các bộ phận nội tạng trở thành đặc sệt... Giờ anh có thể hiểu tại sao Ebola đáng sợ như vậy.”

Tôi nhận ra một ống thoát nước bằng kim loại ở giữa sàn nhà và máu đang chảy vào trong đường ống. Tôi không thể tránh được cảnh này, và tôi nhớ lại cảnh bên rãnh nước trên Phố 102 Tây, sự sống của tôi đang chảy vào trong đường thoát nước thải và diễn ra ngay trước mắt tôi. Tôi biết con lợn kia cảm thấy ra sao khi nhìn máu của mình rỉ ra khỏi cơ thể, âm thanh ù ù bên tai, tiếng đập trong ngực khi huyết áp tụt nhanh và tim cố bù lại bằng nhịp đập mỗi lúc một nhanh hơn cho đến khi biết rằng nó sắp dừng lại.

Tôi nghe giọng Zollner vọng từ phía xa. “Anh Corey? Anh Corey? Tránh ra được rồi. Để cho người khác nhìn. Anh Corey?”

❀ ❀ ❀

[1] Những nơi đã từng xảy ra sự cố lò phản ứng hạt nhân - ND.

[2] Tên một tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Richard Russo, phát hành năm 1997 - ND.

[3] Tên một bộ phim hài của đạo diễn người Mỹ Stanley Kubrick - ND.

[4] Tên một loài ruồi lớn ở châu Phi có thể truyền bệnh khiến người hoặc động vật bị cắn ngủ thiếp đi cho đến chết - ND.

[5] Tên một tờ nguyệt san nổi tiếng ở Mỹ, phát hành trên 70 quốc gia bằng 21 thứ tiếng - ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.