Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22

❊ ❊ ❊

Sau đó, trong căn phòng tư liệu, chúng tôi ngồi bên chiếc bàn gỗ sồi, không một mảnh vải trên người. Emma lấy một cốc trà thảo dược có mùi như dầu xoa bóp.

Nàng gom một số tư liệu bản gốc bọc trong túi nhựa, mấy cuốn sách cũ, mấy bản sao thư từ và văn tự cổ. Nàng nghiền ngẫm đống giấy tờ và nhấm nháp cốc trà. Tôi thì trong tâm trạng điển hình của giống đực sau lúc giao phối, phân vân không biết nên ngủ hay ra khỏi đây. Nhưng cả hai việc ấy đều không được, tôi vẫn còn việc phải làm.

Emma hỏi tôi, “Chính xác là anh quan tâm đến điều gì?”

“Anh quan tâm đến kho báu của cướp biển. Quanh đây có chỗ nào có không?”

“Chắc chắn. Hầu như đào bất cứ chỗ nào anh cũng sẽ tìm được những đồng tiền vàng, bạc, kim cương và ngọc trai. Nông dân ở đây còn bảo chúng làm vướng đường cày.”

“Anh có thể hình dung được. Nhưng anh nói nghiêm túc đấy.” Tôi ghét khi người ta hợm đời.”

Nàng nói, “Có một số truyền thuyết và chuyện có thật về cướp biển gắn với vùng này. Anh có muốn nghe câu chuyện nổi tiếng nhất không? Chuyện về thuyền trưởng Kidd ấy?”

“Có. Nhưng không phải từ lúc khai thiên lập địa, mà từ lúc thuyền trưởng Kidd tới nơi này và chôn giấu kho báu.”

“Được... trước hết, Thuyền trưởng Kidd là người Scốtlen, nhưng ông ấy sống ở Manhattan với vợ là Sarah và hai người con. Chính xác là ông ấy sống ở Phố Wall.”

“Chỗ ấy bây giờ vẫn toàn kẻ cướp.”

“Kidd không hẳn là cướp biển. Ông ấy thực ra là người chuyên đi săn lùng tàu, làm việc cho huân tước Bellomont, khi đó là thống đốc bang Massachusetts, New York và New Hampshire.” Nàng nhấp một ngụm trà. “Vì thế, với sự ủy thác của hoàng gia, thuyền trưởng William Kidd ra khơi năm 1696 từ cảng New York để truy tìm bọn cướp biển và bắt giữ đồ cướp bóc được của chúng. Bellomont chi rất nhiều tiền riêng để mua và sửa sang lại con tàu của Kidd, chiếc Adventure Galley. Có nhiều người giàu có và quyền lực ở Anh đứng sau vụ này, trong đó có bốn vị huân tước và chính vua William.”

“Anh thấy sẽ có chuyện rồi. Đừng bao giờ làm ăn chung với chính quyền.”

“Mong được như thế.”

Tôi lắng nghe nàng kể câu chuyện như thuộc lòng. Tôi không hiểu Tobin có biết chuyện này không, và nếu có thì gã biết trước hay sau khi gặp Emma Whitestone. Và tại sao có người nghĩ một cách nghiêm túc rằng một kho báu ba trăm năm tuổi vẫn còn chôn dưới đất và được tìm thấy? Như tôi đã phát hiện ra khi nói chuyện với Billy ở Mattituck, kho báu của Kidd chỉ là một giấc mơ, một câu chuyện của trẻ con. Tất nhiên, kho báu có thể đã có thật, nhưng có rất nhiều truyền thuyết xung quanh nó, như Emma đã nói trong quán ăn Cutchogue, và có nhiều bản đồ giả, manh mối giả đến mức nó đã trở thành vô nghĩa trong suốt ba trăm năm qua. Rồi tôi nhớ người đàn ông đã tìm thấy bức thư của Charles Wilson trong cơ quan Tư liệu công cộng... vì thế có thể Tobin và vợ chồng Gordons đã vớ được bằng chứng thật sự thuyết phục.

Emma nói tiếp, “Vì thế, sau khi gặp rất nhiều rủi ro ở vùng biển Caribbean, Kidd tới vùng Ấn Độ Dương để truy tìm cướp biển. Ở đó, ông đánh cướp hai chiếc tàu của Toàn quyền Ấn Độ. Trên tàu toàn đồ quý, trị giá hồi đó khoảng hai trăm nghìn bảng. Theo tiền bây giờ là khoảng hai mươi triệu đô la.”

“Không phải là một ngày tồi.”

“Không. Nhưng không may, Kidd lại có một sai lầm. Vị lãnh chúa kia lại là đồng minh của nhà vua, thế nên ông ấy gửi khiếu nại cho chính phủ Anh. Để giải thích cho hành động của mình, Kidd nói rằng hai chiếc tàu Ấn Độ đang đi theo hải trình của Pháp, mà Anh và Pháp lúc đó đang có chiến tranh. Vì vậy, ngay cả khi các tàu của Ấn Độ không phải là tàu cướp biển, chúng cũng được coi là tàu của kẻ thù. Không may cho Kidd, chính phủ Anh có quan hệ tốt với vị lãnh chúa thông qua công ty Anh - Đông Ấn có làm ăn lớn với ông ta. Vì thể Kidd gặp rắc rối, và cách duy nhất để ông thoát được vụ này là số tài sản hai trăm nghìn bảng cướp được.”

“Tiền là xong hết.”

“Bao giờ chả thế.”

Nói đến chuyện tiền, Fredric Tobin lại xuất hiện trong đầu tôi. Dù không hẳn là ghen với chuyện quan hệ trong quá khứ của Emma với hắn, tôi vẫn nghĩ sẽ hả dạ lắm nếu được thấy hắn chết khô trên ghế điện. Nào, nào, John.

Emma vẫn nói tiếp, “Vì thế, William Kidd cho tàu quay lại châu Mỹ. Ông dừng lại ở biển Caribbean và biết rằng chính ông đang bị truy nã vì tội cướp biển. Vì lo xa, ông để lại một phần ba số tài sản cho một người thân tín coi giữ. Nhiều thủy thủ trên tàu của ông không muốn dính vào rắc rối nên đã lấy phần chia của mình và ở lại vùng Caribbean. Kidd sau đó mua một con tàu nhỏ hơn, loại một buồm, có tên gọi là San Antonio, và trở lại New York - để bào chữa trước những lời buộc tội. Trên đường về, có thêm một số thủy thủ muốn được lên bờ với phần ăn chia. Kidd cho họ toại nguyện và để họ ở Delaware hoặc New Jersey. Nhưng Kidd vẫn còn một lượng tài sản khổng lồ trên tàu, trị giá khoảng mười đến mười lăm triệu đô la tính theo giá tiền bây giờ.”

Tôi hỏi, “Sao em biết ông ấy có chừng đó tài sản trên tàu?”

“Ồ, làm gì có ai biết chắc chắn. Đây chỉ là con số phỏng đoán, một phần dựa trên khiếu nại của viên lãnh chúa gửi tới chính phủ Anh, mà cái này thì có thể đã bị thổi phồng lên.”

“Các vị lãnh chúa thì toàn nói dối.”

“Em đoán thế. Ngoài phần trị giá thực của kho báu, anh thử tính một số đồ trang sức có giá trị đối với bảo tàng. Còn nữa, thử tính nếu anh có một đồng tiền vàng của thời đó, trị giá khoảng một nghìn đô la, và để đồng tiền đó trong một triển lãm với tấm giấy xác nhận rằng nó lấy từ kho báu của thuyền trưởng Kidd thì có lẽ anh sẽ được giá gấp ba lần thế.”

“Anh biết là em có bằng marketing của trường Columbia.”

Nàng mỉm cười, rồi nhìn tôi một lúc lâu. Nàng nói, “Chuyện này liên quan đến cái chết của vợ chồng Gordon, đúng không?”

Ánh mắt chúng tôi gặp nhau. Tôi nói, “Em kể tiếp đi.”

Nàng im lặng một lát rồi nói tiếp. “Được ... chúng em biết được từ các tài liệu và tư liệu công cộng rằng Kidd sau đó đến biển Long Island Sound từ phía đông và lên bờ ở vịnh Oyster. Ở đây, ông liên lạc với James Emmot, một luật sư nổi tiếng về bào chữa cho cướp biển.”

“Nàng, vợ cũ của anh làm việc cho công ty ấy đấy. Họ vẫn làm về luật.”

Nàng không để ý đến câu của tôi và nói tiếp, “Trong thời gian này, Kidd liên lạc với vợ ở Manhattan để vợ cùng lên chiếc San Antonio. Lúc này tất cả kho báu vẫn còn ở trên tàu.”

“Ý em là ông luật sư không lấy mất à?”

“Thực ra, Emmot đã được Kidd trả rất hậu hĩnh để bào chữa cho ông ấy khỏi tội cướp biển.”

Tôi quan sát Emma khi nàng nói. Dưới ánh đèn bàn của căn phòng và đống giấy tờ trước mặt, nàng giống như một cô giáo. Nàng làm tôi nhớ đến mấy giảng viên nữ mà tôi quen ở trường John Jey - tự tin, hiểu biết rộng, lạnh lùng và vững vàng trên lớp, điều khiến họ trở nên gợi cảm với tôi. Có lẽ tôi đã mang theo ấn tượng này về giáo viên từ khi tôi học lớp sáu, cụ thể là với cô Myerson, người mà đến giờ tôi vẫn thấy trong những giấc mơ không trong sáng.

Emma vẫn tiếp tục, “Emmot thay mặt Kidd tới Boston để gặp huân tước Bellomont. Emmot trao bức thư Kidd viết cho Bellomont và cho ông này xem hải trình của hai con tàu của viên lãnh chúa để chứng minh rằng viên lãnh chúa có quan hệ hai mang với cả Anh và Pháp, và vì thế hai con tàu kia đáng để Kidd chặn bắt.”

Tôi hỏi, “Làm sao Kidd biết được điều đó khi tấn công hai con tàu kia?”

“Câu hỏi hay đấy. Không có ai hỏi thế trong phiên tòa xử ông ấy.”

“Và em nói rằng luật sư của Kidd đưa bằng chứng bào chữa quan trọng là hải trình của hai con tàu cho Bellomont phải không?”

“Vâng, còn Bellomont, vì những lí do chính trị, lại muốn Kidd bị treo cổ.”

“Sa thải tay luật sư đó đi. Bao giờ cũng chỉ đưa bản sao thôi còn bản gốc phải giữ lại.”

Nàng mỉm cười. “Vâng. Bản gốc không hề được đưa ra trong phiên tòa xử Kidd ở London, và vì không có những tấm hải trình đó mà Kidd bị buộc tội và xử treo cổ.” Nàng nói thêm, “Các tấm hải trình được tìm thấy ở bảo tàng Anh Quốc năm 1910.”

“Để bào chữa thì hơi muộn nhỉ.”

“Đương nhiên rồi. Cơ bản là William Kidd đã bị lừa.”

“Đen đủi thật. Nhưng còn kho báu trên tàu Sann Antonio thì sao?”

“Vấn đề là chỗ đó. Em sẽ kể anh nghe điều gì xảy ra sau khi Emmot gặp huân tước Bellomont ở Boston, và vì anh là điều tra viên, anh sẽ nói cho em biết điều gì xảy ra với kho báu.”

“Được. Anh sẵn sàng đây.”

Nàng tiếp tục, “Emmot có vẻ như không phải là một luật sư giỏi, ông ấy có ấn tượng từ huân tước Bellomont rằng Kidd sẽ được đối xử công bằng nếu đến trình diện ở Boston. Bellomont thật ra có viết một bức thư và đưa cho Emmot chuyển cho Kidd. Trong thư có đoạn...” Nàng đọc bản sao bức thư để trước mặt nàng, “ ‘Tôi đã trình với hội đồng của đức vua, quan điểm của họ là nếu ngài trong sạch như ngài nói, thì ngài có thể đến đây một cách an toàn và được cấp tàu cho ra khơi để tìm kiếm con tàu khác của ngài, và tôi không nghi ngờ gì đức vua sẽ tha thứ cho ngài.’ ”

“Anh nghe nó giống như chuyện lừa đảo của hoàng gia.” Tôi nói.

Emma gật đầu và tiếp tục đọc bức thư của huân tước Bellomont gửi thuyền trưởng Kidd. “ ‘Tôi đảm bảo với ngài bằng lời nói và danh dự là tôi sẽ làm điều mà tôi đã hứa, nhưng tôi cũng phải nói trước rằng dù ngài mang bất cứ kho báu nào tới đây, tôi sẽ không dính dáng một chút nào, nhưng chúng sẽ phải để lại cùng với những người tin cậy mà hội đồng đề nghị cho tới khi tôi nhận được lệnh từ nước Anh về việc xử lý chúng như thế nào.’ ”

Emma ngước lên nhìn tôi và hỏi, “Nếu là anh thì anh có tới Boston để bào chữa trước một bản án treo cổ không?”

“Anh thì không. Anh là dân New York mà. Anh ngửi được mùi chuột cách xa cả cây số.”

“William Kidd cũng thế. Ông ấy là dân New York, lại mang gốc Scốtlen. Nhưng ông ấy sẽ làm gì khi đó? Ông ấy là người có danh phận ở Manhattan, vợ và hai người con của ông đang ở trên chiếc tàu nhỏ, và ông ấy cảm thấy mình vô tội. Quan trọng hơn là ông có tiền - một phần ba để lại ở Caribbean và phần kia ở trên tàu San Antonio. Ông định sử dụng kho báu này để mặc cả đánh đổi lấy mạng sống của mình.”

Tôi gật đầu. Thật thú vị, tôi nghĩ, đã ba trăm năm rồi mà có nhiều thứ chẳng thay đổi là mấy. Đó là tình huống khi chính quyền thuê một người làm thứ công việc bẩn thỉu của họ, người này làm một phần của công việc nhưng lại mắc sai lầm nên đã gây ra rắc rối về chính trị cho chính quyền, vì thế họ không chỉ muốn lấy lại tiền mà còn cả phần người ta đáng được hưởng, sau đó lừa người ta, cuối cùng là treo cổ người ta lên. Nhưng ở một thời điểm nào đó trong cả âm mưu, phần lớn tiền bạc đều trượt khỏi tay họ.

Emma nói tiếp, “Trong khi đó, Kidd liên tục di chuyển vị trí tàu và thường xuyên qua lại vùng biển Sound, từ vịnh Oyster tới đảo Gardiers và tới tận đảo Block. Chính trong thời gian này chiếc tàu của ông có vẻ như hơi nhẹ đi.”

“Ông ấy tẩu tán hàng.”

“Có vẻ là như thế, và đó là lí do bắt đầu cho những câu chuyện về kho báu bị chôn vùi.” Nàng nói, “Một người với số hàng trị giá mươi, mười lăm triệu đô la vàng và đồ trang sức trên tàu, và biết mình có thể bị bắt trên biển bất cứ lúc nào. Ông có một con tàu nhỏ chỉ với bốn khẩu pháo. Tàu thì nhanh, nhưng không phải là tàu chiến. Vậy, nêu là anh thì anh sẽ làm gì?”

“Anh nghĩ anh sẽ đánh bài chuồn.”

“Ông ấy hầu như không còn thủy thủ nào trên tàu và thiếu các thứ đồ sinh hoạt. Vợ và con cũng đang trên tàu.”

“Nhưng ông ấy có tiền, ôm tiền và chạy.”

“Ông ấy không làm thế. Ông lại quyết định đến trình diện. Nhưng ông cũng không phải hạng ngu ngốc, vì thế ông quyết định giấu số hàng cướp được - nên nhớ rằng đây là phần mà Bellomont, bốn vị huân tước và nhà vua sẽ nhận được vì đã bỏ tiền đầu tư. Kho báu trở thành thứ đảm bảo tính mạng cho thuyền trưởng Kidd.”

Tôi gật đầu. “Vì thế ông ấy chôn số hàng.”

“Đúng vậy. Năm 1699 có rất ít người sống ngoài phạm vi Manhattan và Boston, vì thế Kidd có hàng nghìn chỗ có thể lên bờ và chôn giấu kho báu một cách an toàn.”

“Chắng hạn như những cái cây của thuyền trưởng Kidd”

“Vâng. Và xa hơn về phía đông có những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd, nơi có lẽ là một phần của những ngọn đồi, gò sát biển vì ở Long Island làm gì có mỏm đá hay mũi đá.”

Tôi ngồi thẳng lên. “Ý em là có một chỗ của những gò đồi được gọi là những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd ở đâu?”

“Một nơi nào đó nằm giữa lạch Mattituck và Orient Point. Không ai biết chắc chắn cả. Đó chỉ là một phần của toàn bộ câu chuyện truyền thuyết.”

“Nhưng phần nào cũng có thật. Đúng không?”

“Đúng, đó là điều làm cho câu chuyện thú vị.”

Tôi gật đầu. Một trong những câu chuyện truyền thuyết - những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd - đã khiến vợ chồng Gordon mua đất của bà Wiley trên gò sát biển. Khôn ngoan thật.

Emma nói thêm, “Chắc chắn thuyền trưởng Kidd giấu kho báu ở nhiều nơi, hoặc ở đây tại North Folk, hoặc ở đảo Block, hoặc đảo Fishers. Đó là những nơi mà hầu hết các câu chuyện đều nhắc tới về nơi chôn kho báu.”

“Còn chỗ nào khác không?”

“Còn một chỗ mà chúng em biết có thật là đảo Gardiners.”

“Gardiners?”

“Vâng. Đây là điều lịch sử có ghi chép lại. Tháng Sáu năm 1699, trong khi lang thang quanh vùng biển tìm cách thỏa thuận với huân tước Bellomont, thuyền trưởng Kidd thả neo ngoài khơi đảo Gardiners để lấy đồ phục vụ sinh hoạt. Hòn đảo khi đó có tên là đảo Wight trên bản đồ, nhưng hồi đó nó thuộc về dòng họ Gardiner và bây giờ vẫn vậy.”

“Ý em là những người sở hữu hòn đảo hiện nay là thuộc dòng họ Gardiner, và dòng họ này chính là những người sở hữu hòn đảo năm 1699?”

“Vâng. Hòn đảo vẫn thuộc về một dòng họ do được vua Charles đệ nhất ban tặng năm 1639. Năm 1699, John Gardiner là người chủ thuộc thế hệ thứ ba sinh sống ở đó cùng gia đình.” Nàng nói thêm, “Câu chuyện về thuyền trưởng Kidd là một phần trong lịch sử dòng họ Gardiner. Trên đảo Gardiners còn có thung lũng Kidd với một tấm bia đá đánh dấu nơi John Gardiner chôn một phần kho báu của Kidd. Toàn bộ hòn đảo là gia sản riêng, nhưng người chủ hiện nay thi thoảng có cho khách đến thăm quan.” Nàng ngập ngừng, rồi nói tiếp, “Fredric và em là khách của ông ấy.”

Tôi không bình luận gì về việc này mà nói, “Vậy là thực sự có một kho báu được chôn giấu.”

“Vâng. William Kidd xuất hiện trên chiếc tàu San Antonio, và John Gardiner dùng một chiếc thuyền nhỏ bơi ra để xem ai đang đậu ngoài bờ hòn đảo của mình. Tất cả mọi ghi chép lịch sử đều nói hai bên gặp nhau một cách thân thiện và trao quà cho nhau. Hai người gặp nhau thêm ít nhất một lần nữa. Lần này Kidd đưa cho John Gardiner một lượng lớn tài sản cướp được và bảo Gardiner chôn giúp ông ấy.”

Tôi nói, “Anh hy vọng là Kidd lấy được giấy biên nhận.”

“Còn hơn thế, câu cuối cùng Kidd nói với John Gardiner là, ‘Nếu tôi đến hỏi mà nó không còn nữa thì tôi sẽ lấy đầu ông hoặc đầu con trai ông.’ ”

“Hay hơn là lấy giấy biên nhận có chữ ký.”

Emma nhấp một ngụm trà rồi nhìn tôi nói, “Tất nhiên, Kidd không bao giờ trở lại. Sau khi nhận được một bức thư hứa hẹn nữa từ Bellomont, ông sẵn sàng tới Boston và đối mặt với những cáo buộc, ông lên bờ ở đó vào ngày mùng một tháng Bảy. Ông được cho tại ngoại một tuần để xem có giao du với ai, sau đó bị bắt theo lệnh của Bellomont và bị tống giam. Con tàu của ông và nơi ở tại Boston bị khám xét và tìm thấy hàng túi vàng, bạc, đồ trang sức và kim cương. Có rất nhiều tài sản quý, nhưng không nhiều như người ta nghĩ Kidd hiện có, và cũng không đủ để trả chi phí cho chuyến đi.”

Tôi hỏi, “Vậy còn kho báu trên đảo Gardiner thì sao?”

“Ồ, chỗ này mỗi chuyện kể một khác - bằng cách nào đó Bellomont biết được và gửi một bức thư bằng lời lẽ thân thiện tới John Gardiner với thông điệp đặc biệt...” Nàng kéo một bản sao chép về phía nàng và đọc, “ ‘Ngài Gardiner, tôi đã bắt giam thuyền trưởng Kidd trong nhà tù của thành phố cùng với một số thủy thủ của ông ta. Đích thân tôi và hội đồng đã chất vấn và ông ta đã thú nhận, ngoài những điều khác, rằng ông ta đã để lại chỗ của ngài một túi vàng trong một chiếc hòm cũng với mấy chiếc túi khác. Tôi nhân danh đức vua yêu cầu ngài đưa những thứ đó đến đây cho tôi để tôi có thể đảm bảo cho đức vua sử dụng. Tôi sẽ thanh toán những chi tiêu mà ngài dùng đến để vận chuyển tới đây. Ký tên, Bellomont.’ ”

Emma đưa cho tôi bức thư để tôi liếc qua. Quả thật là tôi có thể đọc được phần nào bức thư. Thật không thể tin được là một thứ như thế lại có thể tồn tại được đến ba trăm năm. Tôi chợt nghĩ có lẽ một thứ tài liệu nào đó ba trăm năm tuổi nói về vị trí của một phần kho báu của thuyền trưởng Kidd đã dẫn đến cái chết của hai nhà khoa học ở thế kỷ hai mươi mốt.

Tôi nói với Emma, “Anh hy vọng John Gardiner đã gửi một lá thư hồi đáp cho Bellomont nói rằng, ‘Kidd nào? Vàng nào?’ ”

Nàng mỉm cười. “Không, John. Gardiner không dám qua mặt viên thống đốc và nhà vua. Ông ấy tự tay mang kho báu đến Boston.”

“Anh cá là ông ấy phải giữ lại một ít.”

Emma đẩy một mảnh giấy về phía tôi và nói, “Đây là bản chụp danh sách liệt kê các đồ vật trong kho báu mà John Gardiner mang đến giao cho Bellomont. Bản gốc hiện đang ở Cơ quan Tư liệu công cộng ở London.”

Tôi nhìn tấm giấy, nó đã thủng lỗ chỗ và hoàn toàn không thể hiểu được đối với tôi. Tôi đẩy trở lại cho Emma. “Có thật là em đọc được cái này không?”

“Em đọc được.” Nàng cầm tờ giấy lên gần đèn và đọc, “ ‘Nhận ngày 17 tháng Bảy từ ông John Gardiner - một túi vàng cám, một túi tiền vàng và bạc, một bọc vàng cám, một túi có ba chiếc nhẫn bạc và đá quý, một túi đá chưa đánh bóng, một bọc đá trong suốt, hai chiếc nhẫn cacnelian, hai viên mã não nhỏ, hai viên thạch anh tím tất cả đựng trong cùng một túi, một túi đựng khuy bạc, một túi bạc vụn, hai túi vàng thỏi, hai túi bạc thỏi. Toàn bộ số vàng nói trên nặng một nghìn một trăm mười một aoxơ, tính theo hệ đếm Troy. Số bạc là hai nghìn ba trăm năm mươi ba, đồ trang sức và đá quý là mười bảy aoxơ...”

Emma ngước lên nhìn tôi và nói, “Đây là một kho báu khá lớn. Nhưng nếu anh tin vào những điều viên lãnh chúa nói chính phủ Anh thì còn một lượng vàng và đồ trang sức chưa tìm thấy lớn gấp hai mươi lần so với số tìm được trên đảo Gardiners và thu giữ trên tàu San Antonio cùng nơi ở của Kidd ở Boston.” Nàng mỉm cười với tôi và hỏi, “Nào, điều tra viên, vậy số hàng cướp được còn lại đang ở đâu?”

Tôi cười đáp. “Một phần ba vẫn còn ở Caribbean.”

“Đúng. Kho báu được tài liệu ghi chép rất rõ đó đã biến mất và kéo theo cả trăm câu chuyện đồn đại ở Caribbean cho xứng với một trăm câu chuyện ở đây.”

“Được... còn nữa, các thủy thủ lấy phần của họ trước khi tất cả bỏ đi khỏi tàu.”

“Vâng, nhưng phần của tất cả các thủy thủ cộng lại cũng không thể nhiều hơn mười phần trăm của toàn bộ kho báu. Đó là thỏa thuận.”

“Cộng với bảo hiểm y tế và nha khoa.”

“Phần còn lại của kho báu ở đâu?”

“Chúng ta có thể đoán rằng John Gardiner đã chôm bớt một ít.”

“Có thể cho là như vậy.”

“Luật sư Emmot lấy phần của lão ta, chắc chắn thế.”

Nàng gật đầu.

“Vậy còn lại là bao nhiêu.”

Nàng nhún vai. “Ai biết được? Ước chừng là khoảng từ năm đến mười triệu đô la tính theo giá trị bây giờ. Nhưng, như em đã nói, nếu tìm được đúng vị trí, chiếc hòm hoen gỉ và tất cả mọi thứ thì giá trị có thể tăng lên gấp hai, ba lần nếu được đưa ra đấu giá ở Sotheby.” Nàng nói thêm, “Chỉ riêng bản đồ kho báu thôi, nếu nó có thật và có chữ viết tay của Kidd thì đã có thể trị giá hàng trăm nghìn đô la nếu đem ra đấu giá.”

“Thế em mua mấy tấm bản đồ ở cửa hàng đồ lưu niệm giá bao nhiêu?”

“Bốn đô la.”

“Chúng không phải là đồ thật à?”

Nàng mỉm cười và uống nốt cốc trà.

Tôi nói, “Ta giả định rằng Kidd đã chôn kho báu ở một hoặc nhiều vị trí làm bùa hộ mệnh để mặc cả đổi lấy tự do và thoát án treo cổ.”

“Từ trước đến nay người ta đều giả định như vậy. Nếu ông ấy chôn một phần kho báu ở Đảo Gardiners thì có lẽ cũng sẽ chôn ở chỗ khác vì lí do tương tự.” Nàng nói thêm, “Những cái cây của thuyền trưởng Kidd và những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd.”

Tôi nói với nàng, “Anh đã đến xem những cái cây của thuyền trưởng Kidd.”

“Thật ư?”

“Anh nghĩ là anh đã tìm được nơi đó, nhưng tất cả những cây đó đều đã bị chặt rồi.”

“Vâng, hồi đầu thế kỷ vẫn có một vài cây sồi lớn quanh đó. Nhưng giờ thì đã mất cả.” Nàng nói thêm, “Trước đây người ta thường đào bới xung quanh các gốc cây.”

Tôi nói, “Em vẫn có thể nhìn thấy một số gốc cây.”

Emma cho tôi biết, “Vào thời thực dân, việc đào bới tìm kiếm kho báu trở thành một nỗi ám ảnh của cả đất nước đến nỗi Ben Franklin phải viết báo phản đối chuyện này. Đến mãi tận những năm 1930 mà người ta vẫn còn đào bới quanh đây. Sự điên rồ hầu như đã biến mất hoàn toàn, nhưng nó đã trở thành một phần của nền văn hóa nơi đây. Đó là lí do tại sao em không muốn có ai ở quán ăn Cutchogue nghe thấy anh và em nói chuyện với nhau về kho báu bị chôn giấu. Nếu để lọt ra thì đến giờ đã có nửa thị trấn khốn khổ này bị đào lên rồi.” Nàng cười toét miệng.

“Thật kinh ngạc.” Tôi hỏi Emma, “Vậy kho báu chôn giấu của Kidd được cho là bùa hộ mệnh của ông ấy. Vậy sao nó không giúp ông ấy thoát được giá treo cổ.”

“Vì có nhiều chuyện hiểu lầm, vận xui, rồi cả chuyện ân oán. Thí dụ một điều là không có ai ở Boston hoặc London tin rằng Kidd có thể tìm lại được số hàng ở Caribbean, và có lẽ họ đã đúng. Nó đã biến mất từ lâu. Rồi còn chuyện khiếu nại của viên lãnh chúa và sự rắc rối về chính trị. Chính Kidd cũng có tính toán khôn ngoan, ông đòi phải được nhà vua tha bổng để đổi lại việc sẽ nộp lại số hàng cướp được. Nhưng nhà vua và những người khác có thể đã cảm thấy để bảo vệ Công ty Anh - Đông Ấn họ phải trả lại số hàng cướp cho viên lãnh chúa. Vì thế họ không lợi lộc gì trong việc tha bổng cho Kidd để đổi lấy thông tin về vị trí chôn giấu kho báu. Họ thà treo cổ Kidd còn hơn, và họ đã làm như vậy.”

“Kidd có nói gì về kho báu chôn giấu trong phiên tòa không?”

“Chẳng nói gì cả. Vẫn còn các biên bản của phiên tòa, anh có thể hiểu là Kidd đã nhận ra ông ta sẽ bị treo cổ bất kể có làm hay nói điều gì. Em nghĩ ông ấy đã chấp nhận điều này và quyết định hành động trả thù cuối cùng là mang theo mọi bí mật xuống mồ.”

“Hoặc ông ấy nói với vợ.”

“Đó là một khả năng lớn. Bà ấy có một chút tiền riêng, nhưng có vẻ sống rất rủng rỉnh sau cái chết của chồng.”

“Phụ nữ nào cũng vậy.”

“Đừng phát ngôn phân biệt giới tính như thế. Anh cho em biết điều gì xảy ra với kho báu đi.”

Tôi đáp, “Anh không có đủ thông tin. Các manh mối đều đã cũ. Nhưng anh đoán vẫn còn một phần kho báu chôn giấu ở đâu đây.”

“Anh có nghĩ là Kidd nói với vợ về tất cả các vị trí chôn không?”

Tôi suy nghĩ một chút rồi đáp, “Kidd biết rằng vợ mình cũng có thể bị bắt, và bà có thể bị ép phải khai ra. Vì thế... anh nghĩ ban đầu ông ấy không nói với vợ, nhưng khi ông ấy ngồi tù ở Boston và sắp bị đưa sang London thì có thể ông ấy cho vợ biết một vài thông tin. Giống như con số tám chữ số ấy.”

Emma gật đầu. “Từ trước đến nay ai cũng cho rằng Sarah Kidd đã tìm được một phần của kho báu. Nhưng em không nghĩ là Kidd lại nói hết với vợ về tất cả các vị trí chôn giấu vì nếu bà bị bắt và bị ép phải khai ra thì hầu như không còn cơ hội cho ông ấy đánh đổi kho báu lấy mạng sống của mình.” Nàng nói thêm, “Em thực sự nghĩ là ông ấy đã mang theo bí mật về vị trí kho báu xuống mồ.”

Tôi hỏi, “Kidd có bị tra tấn không?”

“Không.” Nàng đáp. “Và người ta luôn đặt câu hỏi tại sao lại không bị. Hồi đó người ta bị tra tấn mà chẳng cần phải có lý do gì to tát.” Nàng nói thêm, “Nhiều chi tiết trong câu chuyện về Kidd không thể hiểu được.”

“Nếu anh sống ở thời đó, anh sẽ hiểu được.”

“Nếu anh mà sống thời đó, họ sẽ treo cổ anh lên vì anh là người chuyên gây rắc rối.”

“Đừng nặng lời thế, Emma.”

Tôi xử lý tất cả các thông tin này và suy ngẫm một lúc. Tôi lại nghĩ đến bức thư mà Charles Wilson gửi cho người em trai. Tôi hỏi Emma, “Em có nghĩ là Kidd có thể nhớ được tất cả các vị trí chôn giấu kho báu không? Chuyện đó là có thể hay không?'

“Có lẽ không.” Nàng nói thêm, “Bellomont quả có tìm kiếm bằng chứng về kho báu bị chôn và tìm được một số giấy tờ tại nơi ở của Kidd ở Boston và trên tàu San Antonio, nhưng không hề có bản đồ hay vị trí chôn kho báu trong đống giấy tờ đó, hoặc nếu có thì Bellomont đã giữ kín cho riêng mình. Em cũng phải nói là Bellomont chết trước khi Kidd bị treo cổ ở London, vì thế nếu Bellomont có được tấm bản đồ nào đó của Kidd thì nó cũng có thể đã biến mất khi Bellomont chết.” Nàng nói với tôi, “Vì vậy, John, có rất nhiều manh mối vụn vặt và những điểm mâu thuẫn nhau. Những người quan tâm đến chuyện này đã làm việc điều tra lại lịch sử cả hàng thế kỷ rồi.” Nàng mỉm cười với tôi và hỏi, “Thế anh đã tìm ra được gì chưa?”

“Chưa. Anh cần thêm mấy phút nữa.”

“Anh muốn nghĩ bao lâu cũng được. Em phải uống cái gì đã. Ta đi thôi.’

“Khoan đã. Anh có thêm mấy câu hỏi.”

“Được thôi. Anh hỏi đi.”

“Được... Giờ anh là thuyền trưởng Kidd và anh đã căng buồm quanh vùng biển Long Island Sound trong... bao lâu nhỉ?”

“Một vài tuần.”

“Đúng rồi. Anh đã ở vịnh Oyster nơi anh liên lạc được với một luật sư, vợ và con anh đã đến từ Manhattan và có mặt trên tàu. Anh đã tới đảo Gardiner... Anh nhờ ông Gardiner chôn một phần kho báu cho anh. Anh có biết ông ấy chôn ở đâu không nhỉ?”

“Không, đó là lí do tại sao không cần có bản đồ. Kidd chỉ nói với Gardiner là phải đưa kho báu ra ngay khi ông ấy trở lại, nếu không sẽ cắt đầu Gardiner.”

Tôi gật đầu. “Làm thế hay hơn dùng bản đồ. Kidd thậm chí còn không phải mất công đào hố chôn.”

“Đúng vậy.”

“Em có nghĩ là ở những chỗ khác Kidd cũng làm thế không?”

“Làm sao em biết được. Cách làm thông thường hơn là cùng một vài thủy thủ lên bờ và bí mật chôn giấu kho báu, rồi vẽ bản đồ vị trí chôn?”

“Như vậy sẽ có người khác biết được chỗ chôn.”

Nàng đáp, “Cách làm truyền thống của cướp biển để giữ bí mật là giết chết người cùng đào hố và ném xác xuống đó. Sau đó thuyền trưởng và người thân tín lấp hố lại. Người ta tin rằng hồn ma của người thủy thủ bị giết sẽ ám vào kho báu. Thực tế người ta tìm thấy những bộ xương chôn cùng với các hòm đựng báu vật.”

“Chứng cứ có cơ sở về tội giết người.” Tôi nói.

Nàng tiếp tục, “Như em đã nói, thủy thủ của Kidd đến lúc này chỉ còn lại sáu, bảy người. Nếu tin tưởng ít nhất một người để trông giữ tàu cùng đám thủy thủ và gia đình, ông ấy có thể dễ dàng chèo tới bất cứ vịnh hoặc lạch nước nào để tự mình chôn hòm báu vật. Việc đào hố trên nền cát không có gì khó. Phim ảnh thường chiếu cảnh một đoàn người lớn đi lên bờ, nhưng còn tùy vào kích cỡ chiếc hòm, anh chỉ cần một đến hai người.”

Tôi gật đầu, “Rất nhiều quan niệm của chúng ta về lịch sử bị ảnh hưởng bởi các bộ phim không chính xác.”

“Có lẽ là như vậy,” Emma nói. “Nhưng có một điều mà phim ảnh mô tả chính xác - đó là việc săn tìm kho báu thường bắt đầu với việc tìm thấy một tấm bản đồ đã bị mất từ lâu. Chúng em bán chúng với giá bốn đô la ở tầng dưới, nhưng chúng đã được bán với giá cả chục nghìn đô la cho những người cả tin cả mấy thế kỷ nay.”

Tôi suy tư về điều này. Có thể chính một trong những tấm bản đồ này - bản đồ thật - bằng cách nào đó đến được tay vợ chồng Tom và Judy, hoặc Fredric Tobin. Tôi nói với Emma, “Em nói là đảo Gardiner có thời được gọi là đảo Wight.”

“Đúng.”

“Còn hòn đảo nào khác ở đây ngày xưa có tên khác bây giờ không?”

“Có chứ. Tất cả các hòn đảo ở đây ban đầu đều có tên gọi theo tiếng của người da đỏ. Rồi sau đó mới có tên bằng tiếng Hà Lan và tiếng Anh.” Nàng nói thêm, “Và rồi ngay cả những cái tên này cũng lại thay đổi theo thời gian. Tên địa danh ở Tân Thế giới là một rắc rối thực sự. Một số thuyền trưởng người Anh chỉ có các bản đồ của người Hà Lan, một số có bản đồ với tên địa danh sai về một hòn đảo hay con sông, chẳng hạn như chuyện đánh vần tên cũng đã kinh khủng. Một số bản đồ để trống tên, còn một số lại cố tình để thông tin sai lệch.”

Tôi gật đầu nói, “Ví thử như đảo Robins, hay Đảo Plum. Thời của Kidd thì tên của chúng là gì?”

“Em không biết chắc về đảo Robins, nhưng Đảo Plum thì vẫn thế, chỉ có cách viết thì là P-L-U-M-B-E. Chữ này có nguồn gốc từ tên tiếng Hà Lan của Đảo Plum là P-R-U-Y-M E-Y-L-A-N-D.” Nàng nói thêm, “Có thể trước đó có một cái tên khác, và một người như William Kidd trong nhiều năm chưa ra đến biển trước khi chấp nhận sứ mệnh mà Bellomont giao có thể đã có hoặc đã mua những tấm hải đồ vẽ trước đó cả mấy chục năm. Chuyện này không phải là hiếm.” Nàng tiếp tục, “Một bản đồ kho báu của cướp biển được vẽ trích từ hải đồ có thể có những điểm không chính xác. Và anh phải nhớ rằng hiện không có mấy tấm bản đồ kho báu thật trên đời, vì thế rất khó để kết luận về tính chính xác nói chung của các tấm bản đồ chôn kho báu. Nó tùy thuộc vào chính tên cướp biển. Nhiều tên quả thật thuộc loại ngu dốt.”

Tôi mỉm cười.

Nàng nói tiếp, “Nếu tên cướp biển chọn cách không vẽ bản đồ thì cơ hội tìm ra kho báu từ mô tả viết tay của hắn là rất ít. Chẳng hạn, nếu anh tìm thấy một tấm da viết rằng, “Trên đảo Pruym Eyland, tôi đã chôn kho báu - từ hòn Eagle đi ba mươi bước tới hai cây sồi cạnh nhau, sau đó đi bốn mươi bước về phía nam, vv... Nếu anh không hiểu được đảo Pruym Eyland là ở đâu thì rất khó cho anh. Nếu nghiên cứu cho biết Pruym Eyland là tên cũ của Đảo Plum thì anh phải tìm được vị trí hòn đá mà ai thời đó cũng biết tên là hòn Eagle. Và quên mấy cây sồi đi. Anh hiểu chứ?”

“Anh hiểu.”

Ngừng một lát, Emma nói, “Những người làm tư liệu cũng gần giống với nghề điều tra. Em thử đoán được không?”

“Tất nhiên là được.”

Nàng nghĩ một lát rồi nói, “Vâng... vợ chồng Gordon biết được một số thông tin về kho báu của thuyền trưởng Kidd, hoặc kho báu của một tên cướp biển nào đó, rồi có người khác biết được điều này và đó là lí do vợ chồng Gordon bị giết.” Nàng nhìn tôi. “Em nói đúng không?”

Tôi nói, “Đại loại giống như thế. Anh đang làm rõ thêm chi tiết.”

“Vợ chồng Gordon đã lấy được kho báu chưa?”

“Anh không dám chắc.”

Nàng không gặng hỏi thêm.

Tôi hỏi, “Làm sao vợ chồng Gordon có được thông tin đó? Ý anh là, anh không thấy có tập tài liệu nào ở đây đề ‘Bản đồ các kho báu cướp biển.’ Đúng không?”

“Đúng. Những tấm bản đồ kho báu của cướp biển duy nhất chỉ có trong cửa hàng đồ lưu niệm. Tuy nhiên, có nhiều tài liệu ở đây và ở các bảo tàng khác cũng như các hội lịch sử chưa có ai đọc đến, hoặc nếu có đọc thì cũng không nghĩ ra được ý nghĩa của nó. Anh hiểu chứ?”

“Anh hiểu.”

Nàng tiếp tục, “Anh biết đấy, John, những người thường đến tìm hiểu tư liệu ở cơ quan Tư liệu công cộng ở London hay bảo tàng Anh quốc thường tìm thấy những điều mới mẻ mà những người khác đã bỏ qua hoặc không hiểu được. Vì vậy, có thể có những thông tin ở đây hoặc những nơi tập hợp khác hay trong các nhà riêng.”

“Nhà riêng?”

“Vâng, ít nhất một lần mỗi năm chúng em được hiến tặng thứ gì đó tìm được trong một ngôi nhà cũ. Chẳng hạn như di chúc hay văn tự cổ. Em đoán - và chỉ là đoán thôi - rằng một ai đó như vợ chồng Gordon, không phải là người làm tư liệu chuyên nghiệp hay sử gia gì cả, tình cờ vớ được một thứ gì đó rõ ràng đến mức ngay cả họ cũng có thể hiểu được.”

“Chẳng hạn như bản đồ.”

“Vâng. Chẳng hạn như một tấm bản đồ về một nơi nào đó có thể nhận ra được, trên đó có các điểm đánh dấu, hướng đi, số bước chân, la bàn, đủ các loại. Nếu họ có được thứ gì đó như thế, họ có thể dễ dàng tới được địa điểm trên bản đồ và đào lên.” Nàng ngẫm nghĩ một chút rồi nói tiếp, “Vợ chồng Gordon đã làm rất nhiều công việc đào bới khảo cổ trên Đảo Plum... có thể họ muốn tìm kiếm kho báu.”

“Không còn chữ có thể ở đây nữa.”

Nàng nhìn tôi một lúc lâu rồi nói, “Từ những gì em nghe được, họ đã đào nhũng chiếc hố khắp trên đảo. Có vẻ như không phải họ biết chính xác là cái gì và ở đâu-"

“Khảo cổ chỉ là cái cớ để họ có thể vác xẻng đi khắp những chỗ xa xôi trên đảo. Anh cũng sẽ không ngạc nhiên nếu phần lớn việc tìm hiểu tư liệu không phải là cái cớ che đậy việc khác.”

“Tại sao?”

“Họ sẽ không được phép lấy bất cứ thứ gì tìm được trên Đảo Plum. Đó là đất của chính quyền. Vì thế họ phải bịa ra một câu chuyện cho riêng mình. Câu chuyện về Tom và Judy Gordon tìm thấy thứ gì đó trong những đống tư liệu - ở đây hoặc ở London - có nhắc đến những cái cây của thuyền trưởng Kidd, hay những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd, và sau đó họ tuyên bố rằng việc này khiến họ nghĩ đến chuyện đi tìm kho báu.” Tôi nói thêm, “Thực tế, họ đã biết kho báu có trên Đảo Plum.”

“Thật không thể tin được.”

“Đúng thế, nhưng em phải quay lại điểm xuất phát của vấn đề. Bắt đầu từ một tấm bản đồ thật hoặc bản viết tay hướng dẫn xác định địa điểm cất giấu kho báu trên Đảo Plum. Giả dụ em có thông tin này trong tay. Em sẽ làm gì, Emma Whitestone?”

Nàng không cần nghĩ lâu và nói, “Em sẽ đưa thông tin này cho chính phủ. Đây là một tài liệu lịch sử quan trọng, và kho báu, nếu có, cũng quan trọng về mặt lịch sử. Nếu nó nằm trên Đảo Plum thì sẽ được tìm thấy trên Đảo Plum. Nếu không làm thế thì vừa là không lương thiện, lại vừa có tội với lịch sử.”

“Lịch sử đầy những lời nói dối, lừa đảo và tội lỗi. Đó là lý do vì sao lại có kho báu này. Tại sao lại không lừa dối thêm chỉ một lần nữa? Tìm được thì giữ. Đúng không?”

“Không. Nếu kho báu đang ở trên đất của người khác - kể cả của chính quyền - thì họ là người sở hữu. Nếu em tìm được vị trí của nó, em sẽ chấp nhận một phần thưởng.”

Tôi mỉm cười.

Nàng nhìn tôi. “Thế nếu là anh thì anh sẽ làm gì?”

“Ồ... với tinh thần của thuyền trưởng Kidd, anh sẽ tìm kiếm một thỏa thuận. Anh sẽ không chỉ vị trí kho báu cho người có đất đai nằm trên tấm bản đồ. Đổi bí mật để lấy phần của mình cũng là hời rồi. Đến Chú Sam cũng sẽ thỏa thuận.”

Nàng suy nghĩ về điều này và nói, “Em đoán thế. Chỉ có điều vợ chồng Gordon lại không làm như vậy.”

“Không. Vợ chồng Gordon có đối tác. Anh cho rằng đối tác là một người hoặc những người mưu mô hơn vợ chồng họ. Và có lẽ rất độc ác. Quả thật là chúng ta chưa biết vợ chồng Gordon làm điều gì, hoặc định làm gì, vì kết cục họ đã chết. Chúng ta có thể đoán là họ bắt đầu từ thông tin chính xác về vị trí của kho báu trên Đảo Plum, và tất cả những điều mà ta thấy họ làm sau đó là một kế hoạch có tính toán và khôn ngoan - hội Lịch sử Peconic, đào bới khảo cổ, tìm hiểu tư liệu, thậm chí cả một tuần ở cơ quan Tư liệu công cộng bên London - tất cả là để chuẩn bị cho việc vận chuyển và chôn lại kho báu từ đất của Chú Sam sang đất của Gordon.”

Emma gật đầu. “Và đó là lí do vợ chồng Gordon mua mảnh đất đó từ bà Wiley làm nơi chôn lại kho báu... những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd-"

“Đúng vậy. Em thấy chuyện này có lý hay anh là thằng khùng.”

“Anh khùng, nhưng em vẫn thấy nó hợp lý.”

Tôi lờ đi và tiếp tục nói, “Nếu có mười, hai mươi triệu đô la có thể kiếm được, em sẽ làm đúng cách. Em sử dụng thời gian, em che đậy mọi dấu vết trước khi có ai đó biết được là em đang để lại dấu vết, em dự tính có vấn đề với các nhà sử học, các nhà khảo cổ và cả chính quyền. Em sẽ không chỉ giàu mà còn nổi tiếng, sẽ trở thành trung tâm của mọi sự chú ý để sau đó mọi việc sẽ tốt lên hoặc tệ đi. Em trẻ, đẹp, thông minh và tiền ngập đầu. Và em không muốn gặp phải bất cứ rắc rồi nào.”

Nàng im lặng một lúc rồi nói, “Nhưng có điều gì đó đã diễn ra không như dự tính.”

“Chắc chắn rồi - và họ đã chết.”

Cả hai chúng tôi đều im lặng một lúc lâu. Giờ tôi có được nhiều câu trả lời, nhưng cũng lại có thêm nhiều câu hỏi. Có những câu sẽ không bao giờ trả lời được, vì Tom và Judy Gordon, giống như William Kidd, đã mang theo nhiều bí mật xuống mồ.

Cuối cùng, Emma hỏi tôi, “Anh nghĩ ai đã giết họ?”

“Có lẽ là đối tác của họ.”

“Em biết... nhưng là ai?”

“Anh cũng chưa biết. Em có nghi ngờ ai không?”

Nàng lắc đầu, nhưng tôi nghĩ nàng đã nghi ngờ một người.

Tôi đã thổ lộ rất nhiều thông tin với Emma Whitestone, người mà tôi thực sự không quen từ trước. Nhưng tôi có linh cảm rất tốt về người mà tôi có thể tin tưởng. Nếu chẳng may tôi đánh giá sai, nghĩa là nàng cũng nằm trong âm mưu này, thì điều đó cũng không quan trọng lắm vì đằng nào thì nàng cũng biết cả rồi. Còn nếu nàng đến nói với Fredric Tobin hay một người khác rằng tôi đã lần ra thì lại càng tốt. Fredric Tobin sống ở trên tháp cao, phải có rất nhiều khói mới bốc lên được đến chỗ của hắn. Còn nếu một người nào khác dính vào mà tôi lại không biết thì khói cũng sẽ tới được chỗ người đó. Trong một cuộc điều tra, có những lúc ta phải để cho nó tự bộc lộ. Nhất là khi thời gian đang sắp hết.

Tôi cân nhắc câu hỏi tiếp theo, rồi quyết định dùng lá bài cuối. Tôi nói với nàng, “Anh nghe nói một số người của hội Lịch sử Peconic đã đến Đảo Plum để khảo sát khả năng đào bới khảo cổ.”

Nàng gật đầu.

“Fredric Tobin có trong số đó không?”

Nàng thật sự ngập ngừng, điều tôi đoán là do thói quen cũ không muốn phản bội. Cuối cùng, nàng nói, “Có. Ông ấy có đến hòn đảo ấy một lần.”

“Và vợ chồng Gordon là người hướng dẫn?”

“Vâng.” Nàng nhìn tôi và hỏi, “Anh có nghĩ... ý em là...?”

Tôi nói với nàng, “Anh có thể phỏng đoán về động cơ và phương pháp, nhưng anh không bao giờ nói ra phỏng đoán về kẻ tình nghi.” Tôi nói thêm, “Em nên giữ kín chuyện này, quan trọng đấy.”

Nàng gật đầu.

Tôi nhìn Emma. Có lẽ bản chất nàng giống như vẻ bề ngoài - một người phụ nữ trung thực, thông minh và hơi khùng một cách đáng yêu. Tôi thích nàng. Tôi cầm tay nàng và chúng tôi xiết chặt tay nhau.

Tôi nói, “Cám ơn em vì cho anh thời gian và kiến thức.”

“Em cũng vui mà.”

Tôi gật đầu. Suy nghĩ của tôi trở lại với William Kidd. Tôi nói, “Thế là họ treo cổ ông ấy lên à?”

“Vâng. Họ giam ông ấy trong tù ở Anh hơn một năm trước khi đưa ra xử ở Old Bailey, ông không được phép có người bào chữa, không nhân chứng, không chứng cứ. Ông bị khép tội và treo cổ ở Bãi hành quyết bên sông Thames. Cơ thể ông ấy bị phủ ắc ín và treo trên dây xích để cảnh cáo các thủy thủ đi qua sông. Lũ quạ ăn thịt xác thối cả mấy tháng liền.”

Tôi đứng dậy. “Ta đi uống gì đi.”

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.