Tôi không mong gì đi quay lại đoạn đường dài qua căn hầm tối. Mà tốt hơn hết là không nên quay lại nơi mình đã đi tới, biết đâu có người đang chờ phục ở đó.
Tôi nhìn lên khoảng trống trên đầu. Bầu trời tối trong khi có bão chưa bao giờ trông mời gọi đến thế. Tôi đi tới chiếc dàn bằng thép bắc từ sàn nhà tới trần của kho đạn. Như tôi đã nói, đây là chiếc thang máy đã có thời dùng để tời những quả đạn pháo khổng lồ và thuốc súng tới các công sự bên trên, vì thế tôi đoán nó được lắp đặt khá vững. Tôi bước lên bậc đầu tiên và thấy chắc chắn. Tôi bước thêm mấy bước nữa và nhận ra nó đã khá hoen rỉ, những vẫn còn chắc.
Những hạt mưa xuyên qua lỗ hở bên trên rơi xuống mặt. Tiếng kêu gào của Fredric Tobin vọng lên từ bên dưới. Hẳn bạn sẽ nghĩ rằng người ta chỉ gào được một lúc thôi. Ý tôi là, sau khi nỗi khiếp sợ ban đầu qua đi, gã kia sẽ bình tĩnh lại và nghĩ đến việc nhồi mớ ruột trở lại vị trí cũ của nó rồi câm miệng lại.
Càng trèo lên cao, không khí càng dễ chịu. Khi lên được khoảng bốn mét ruỡi, tôi cảm thấy được gió thổi qua chiếc lỗ. Đến độ sáu mét thì tới được miệng lỗ. Mưa tạt ngang xối xả; cơn bão đã trở lại.
Giờ tôi thấy miệng lỗ bên trên được vây quanh bằng một hàng rào dây thép gai, rõ ràng là được đặt để tránh cho động vật khỏi rơi xuống hố khi các công sự pháo được dùng làm nơi nhốt động vật. “Chết tiệt.”
Tôi đứng trên bậc trên cùng của chiếc thang, một nửa người nhô lên khỏi lỗ. Tiếng gió và mưa đã át đi tiếng gào thét của Tobin.
Tôi nhìn hàng rào dây thép gai cao mét hai vây quanh tôi và suy tính. Tôi có thể trèo qua hàng rào hoặc leo xuống và đi ra qua đường hầm. Tôi nghĩ tới Tobin ở bên dưới đang gào thét chờ chết với mớ ruột lòng thòng khắp sàn nhà. Nếu hắn bình tĩnh trở lại và tìm được một trong hai khẩu súng thì sao? Đã đến thế này rồi, tôi quyết định vượt qua mét hai cuối cùng bên trên.
Đau đớn chỉ là vấn đề của cảm giác, thế nên tôi xua đi mọi cảm giác trong đầu và trèo lên hàng rào thép gai và nhảy sang bên kia. Tôi nằm đó một lát để thở, xoa xoa những vết đứt ở chân tay và mừng vì các bác sĩ ở bệnh viện đã tiêm phòng uốn ván cho tôi phòng trường hợp ba vết thương do đạn bắn bị dính bẩn.
Tôi cố nén đau đứng dậy và quan sát xung quanh. Tôi đang ở trong một công sự pháo hình tròn với đường kính khoảng chín mét. Công sự xây sâu vào sườn đồi và vây quanh bằng một bức tường bê tông cao đến vai dùng để bảo vệ khẩu pháo lớn bên trong. Gắn trên nền bê tông là một bệ xoay bằng thép thời đó dùng để quay hướng pháo một góc 180 độ. Tôi nhìn thấy ở phía bên kia của công sự là một đoạn dốc thoải bằng bê tông dẫn tới cái gì đó trông như đài quan sát. Tôi đoán mình đang ở sườn phía nam của pork chop bone, và khẩu pháo ở đây chĩa về phía nam, hướng ra biển. Tôi có thể nghe thấy tiếng sóng xô vào bờ ở gần đó.
Tôi có thể thấy những công sự này dùng làm nơi nhốt động vật tốt đến nhường nào, và điều ấy lại làm tôi nhớ ra rằng không khí ở đây giờ mang theo đầy rẫy bệnh tật. Không phải là có thể dễ dàng quên đi chuyện ấy, mà có lẽ tôi đang cố xua đuổi nó ra khỏi đầu. Cái chính là tôi có thể nghe được âm thanh rền rĩ của tiếng còi báo động nếu tập trung lắng nghe. Tôi cũng có thể nghe được những tiếng gào thét của Tobin - không phải theo nghĩa đen, mà là trong đầu tôi, và tôi biết tôi sẽ nghe thấy nó thêm một thời gian nữa.
Vâng, tôi lúc đó là như thế - Tobin ở trong đầu, tiếng còi báo động ở bên tai, gió và mưa trên mặt, lạnh, run, khát, đói, mình đầy vết rách và ở trần. Tôi cảm thấy như đang trên đỉnh của thế giới. Tôi reo một tiếng nhỏ và nhảy cẫng lên. Tôi hét lên trong gió, “Còn sống! Còn sống!”
Rồi một giọng nói trong đầu tôi vang lên, “Không lâu đâu.”
Tôi dừng điệu nhảy chiến thắng. “Cái gì?”
“Không lâu đâu.”
Giọng nói quả thật không phải phát ra trong đầu mà từ phía sau. Tôi quay lại.
Đứng trên bức tường cao mét rưỡi là một bóng người to lớn đang nhìn xuống tôi. Người đó mặc bộ áo mưa tối màu có mũ trùm đầu chỉ còn hở khuôn mặt. Trông bộ dạng ấy như thể Thần Chết đang đứng đó trong cơn bão và mỉm cười. Sởn gai ốc. Tôi hỏi, “Ông là ai?”
Người kia - dáng vóc và giọng nói thì là một người đàn ông - không đáp.
Có lẽ tôi cảm thấy hơi ngượng vì bị bắt quả tang đang nhảy múa dưới trời mưa và hú lên vì mừng. Nhưng tôi có cảm giác rất rõ rằng đó chỉ là điều ít rắc rối nhất của tôi lúc này. “Ông là ai?”
Vẫn không đáp. Nhưng giờ tôi nhìn thấy người kia đang cầm vật gì đó ngang ngực. Một chiếc lưỡi hái của Thần Chết? Hy vọng là thế. Với lưỡi hái thì tôi đối phó được. Nhưng, không được may mắn như thế. Cái người kia cầm là một khẩu súng dài. Chết tiệt.
Tôi tính toán mấy lựa chọn. Tôi đang đứng dưới một chiếc hố tròn sâu mét rưỡi và một người cầm súng dài đang đứng trên tường gần đoạn dốc thoải đi ra. Nói ngắn gọn, tôi đang đứng trong một cái lỗ sâu, tròn và hẹp. Quá bất lợi cho tôi.
Người kia cứ đứng đó nhìn chằm chặp xuống tôi từ khoảng cách chín mét - cự ly bắn dễ dàng với một khẩu súng trường. Hắn đứng quá gần lối ra. Cơ hội duy nhất là chiếc lỗ mà tôi vừa chui lên, nhưng điều đó nghĩa là phải chạy phải chạy một quãng hơn bốn mét về phía hắn, nhảy qua hàng rào dây thép gai và lao bừa xuống chiếc thang. Làm như thế sẽ mất khoảng bốn giây, và cái gã cầm súng kia có thể ngắm và bắn hai lần trong bốn giây. Nhưng biết đâu gã chẳng gây hại gì cho tôi. Có thể đó là một nhân viên Chữ thập đỏ vừa uống rượu. Đúng rồi. Tôi nói, “Này, anh bạn, điều gì khiến anh ra ngoài trong đêm như thế này?”
“Mày.”
“Tôi?”
“Đúng, mày. Mày và Fredric Tobin.”
Giờ tôi đã nhận ra giọng người ấy. Tôi nói, “Ồ, Paul, tôi đang đi khỏi đây mà.”
“Đúng,” Stevens đáp, “mày đang ra đi.”
Tôi không thích cái cách hắn nói câu ấy. Tôi đoán hắn vẫn căm giận tôi về chuyện bị tôi nện ở bãi cỏ sau nhà hắn, chưa kể tất cả những điều tệ hại mà tôi gây cho hắn. Và giờ, ở đây, trong tay hắn là khẩu súng trường. Đời đôi khi cũng vui.
Hắn nói lần nữa, “Mày sắp đi rồi.”
“Tốt. Tôi cũng đang đi qua, và-"
“Tobin đâu?”
“Ngay sau lưng ấy.”
Stevens liếc nhanh ra phía sau, rồi lại nhìn tôi. Hắn nói, “Hai chiếc tàu được phát hiện từ ngọn hải đăng - một chiếc Christ-Craft và một chiếc tàu cao tốc. Chiếc Christ-Craft quay lại ở đoạn eo biển, còn chiếc tàu cao tốc thì đi qua.”
“Đúng, chính là tôi trên chiếc tàu cao tốc. Chỉ đi dạo một vòng thôi mà.” Tôi hỏi, “Sao anh biết chiếc Christ-Craft là của Tobin.”
“Tao biết tàu của hắn. Tao đợi lâu rồi.”
“Tại sao?”
“Mày biết rồi còn gì.” Hắn nói thêm, “Các máy cảm biến và micrô nhận ra ít nhất hai người ở pháo đài Terry, cộng thêm một chiếc xe. Tao đã kiểm tra và thế là tao đến đây.” Hắn nói, “Có người đã giết hai nhân viên cứu hỏa. Mày phải không?”
“Không phải tôi.” Tôi nói, “Này, Paul, cổ tôi đang cứng đơ vì phải nhìn lên cao và tôi đang bị lạnh. Tôi sẽ lên lối dốc kia và chúng ta sẽ quay về chỗ phòng thí nghiệm uống một chút cà phê -”
Paul Stevens nâng khẩu súng lên và chĩa vào tôi. Hắn nói, “Nếu mày nhúc nhích, tao giết.”
“Hiểu rồi.”
Hắn nhắc tôi, “Tao nợ mày việc mày làm với tao.”
“Anh phải giải quyết sự giận dữ bằng cách phù hợp - ”
“Câm mồm.”
“Được.” Bằng bản năng, tôi biết Paul Stevens nguy hiểm hơn Fredric Tobin. Tobin chỉ là một tên giết người hèn nhát, và nếu cảm thấy nguy hiểm, hắn sẽ bỏ chạy. Còn Stevens, tôi chắc hắn là một kẻ giết người lạnh lùng hơn, thuộc kiểu người sẵn sàng đối chọi tay đôi. Tôi nói, “Sao anh biết Tobin và tôi ở đây?”
Vẫn chĩa súng vào tôi, hắn nói, “Tất nhiên là tao biết. Kho báu của thuyền trưởng Kidd.”
Tôi nói, “Tôi có thể giúp anh tìm ra kho báu.”
“Không, mày không thể. Kho báu trong tay tao.”
Ôi, trời. Tôi nói, “Làm thế nào mà - ”
“Mày tưởng tao ngu lắm à? Vợ chồng Gordon tưởng tao ngu. Tao đã biết đích xác chuyện gì đang diễn ra đằng sau việc đào bới khảo cổ ngớ ngẩn ấy. Tao đã theo dõi mọi bước đi của chúng nó. Tao không biết chắc về kẻ cùng mưu mô với chúng nó cho đến tháng Tám khi Tobin đến đây với tư cách là đại diện của hội Lịch sử Peconic.”
“Điều tra tốt đấy. Tôi đảm bảo là anh sẽ được bằng khen của chính phủ về làm việc hiệu quả -”
“Câm cái mồm chó của mày đi.”
“Vâng. Mà này, anh không đeo mặt nạ hay thứ gì đó à?”
“Tại sao?”
“Tại sao ư? Chẳng phải là còi báo động nguy hiểm sinh học sao?”
“Đúng. Đó là thử nghiệm. Tao đã ra lệnh báo động thử. Tất cả mọi người trực bão trên đảo đều đang ở trong phòng thí nghiệm và mặc đồ phòng độc để diễn tập.”
“Nói cách khác, không phải chúng ta sắp chết?”
“Không. Chỉ có mày là sắp chết.”
Tôi sợ hắn nói điều ấy. Tôi nói với hắn bằng giọng trịnh trọng, “Bất kể điều gì anh làm từ trước đến nay cũng không nghiêm trọng bằng tội giết người.”
“Tao thực sự chưa bao giờ phạm tội gì, và giết mày sẽ làm tao hả dạ.”
“Giết một cảnh sát là –”
“Mày là kẻ xâm phạm, và với tất cả những điều tao biết, một tên phá hoại, một tên khủng bố, một kẻ giết người. Xin lỗi vì tao không nhận ra mày.”
Tôi gồng người chuẩn bị tư thế để lao xuống cái lỗ, biết rằng đó là cố gắng chẳng mang lại kết quả gì, nhưng tôi buộc phải thử.
Stevens nói tiếp, “Mày làm tao gãy mất hai cái răng và trều môi. Cộng với việc mày đã biết quá nhiều.” Hắn nói thêm, “Tao giàu, còn mày sẽ chết. Tạm biệt.”
Tôi chửi hắn, “Đ. mẹ mày, đồ chó chết.” Tôi lao về phía chiếc lỗ, mắt không nhìn vào hàng rào thép gai mà nhìn vào hắn trong lúc chạy. Hắn giương súng lên và nhắm bắn. Chắc không thể nào trật được.
Một tiếng nổ vang lên, nhưng không thấy chớp lửa đạn phía trước khẩu súng trường của hắn, cũng không có cảm giác đau đớn của đường đạn xuyên qua cơ thể. Khi tới được hàng rào, chuẩn bị nhảy qua lớp dây thép gai và lao đầu xuống chiếc lỗ, tôi nhìn thấy Stevens nhảy xuống bên trong hố để kết thúc tôi. Ít nhất đó cũng là điều mà tôi nghĩ. Nhưng hắn lại đổ về phía trước và ngã sấp mặt xuống nền bê tông. Tôi đụng vào hàng rào thép gai và đứng khựng lại.
Tôi đứng như trời trồng trong giây lát và nhìn hắn. Thân thể hắn co giật một hồi như thể đã bị trúng đạn vào cột sống, về cơ bản là toi rồi. Tôi nghe thấy tiếng ực ực không thể lẫn được của người sắp chết. Cuối cùng, những cử động co giật và tiếng ực ực cũng thôi hẳn. Tôi ngước lên trên tường. Beth Penrose đang nhìn xuống Paul Stevens bên dưới, khấu súng ngắn chĩa vào người hắn.
Tôi nói, “Làm sao em tới được đây?”
“Đi bộ.”
“Ý anh là –”
“Em đi tìm anh. Dọc đường gặp hắn và em đi theo.”
“May cho anh quá.”
“Không được may cho hắn,” nàng đáp.
Tôi nói, “Quát lên ‘Đứng im, cảnh sát đây!’ đi chứ.”
Nàng đáp, “Vớ vẩn.”
“Anh gặp em rồi.” Tôi nói thêm, “Hắn đang định giết anh.”
“Em biết.”
“Em có thể bắn sớm hơn một chút.”
“Hy vọng anh không chê em bắn.”
“Không. Bắn tốt lắm.”
Nàng hỏi tôi, “Anh có sao không?”
“Không sao. Còn em?”
“Em ổn mà. Tobin đâu rồi?”
“Hắn... không có ở đây.”
Nàng nhìn xuống Stevens và hỏi tôi, “Hắn là thế nào?”
“Chỉ là kẻ phỗng tay trên.”
“Anh đã tìm thấy kho báu chưa?”
“Chưa, nhưng Stevens đã tìm thấy.”
“Anh có biết nó đang ở đâu không?”
“Lúc nãy anh đang định hỏi hắn.”
“Không, John, hắn định cho anh ăn đạn thì có.”
“Cám ơn em đã cứu mạng anh.”
“Anh nợ em chuyện này nhé.”
“Đúng rồi. Vậy là xong - vụ án kết thúc.” Tôi nói.
“Trừ kho báu. Và Tobin. Hắn đang ở đâu?”
“Ồ, hắn đang ở đâu đó quanh đây.”
“Hắn có súng không? Hắn có nguy hiểm không?”
“Không,” tôi đáp, “hắn không có ruột.”
Chúng tôi trú bão trong một boongke bằng bê tông. Tôi và nàng ôm nhau cho ấm, nhưng vẫn cảm thấy lạnh không thể nào ngủ được. Chúng tôi nói chuyện trong đêm tối, xoa chân tay cho nhau để khỏi bị mất nhiệt.
Beth hỏi tôi về Tobin. Tôi kể cho nàng nghe câu chuyện có thêm bớt về cuộc đối mặt trong kho chứa đạn, bảo rằng tôi đã đâm hắn bị thương nặng sắp chết.
Nàng nói, “Ta có nên cứu hắn không?”
Tôi đáp, “Tất nhiên. Điều đầu tiên phải làm vào sáng mai.”
Nàng không nói gì khoảng vài giây rồi đáp, mỗi một tiếng, “Tốt.”
Trước khi trời sáng, chúng tôi tìm đường trở lại bãi biển.
Cơn bão đã đi qua và trước khi trục thăng hay tàu tuần tra tới, chúng tôi lắp chiếc chốt vào chân vịt con thuyền Whaler và dùng nó ra chỗ tàu Christ-Craft. Tôi tháo chiếc nút tự xả nước của chiếc Whaler và để nó chìm dần xuống biển. Sau đó tôi dùng con tàu tuần dương của Tobin tới Greenport. Đến nơi, tôi gọi cho Max. Anh đến gặp chúng tôi ở cầu tàu và đưa chúng tôi về trụ sở cảnh sát cho tắm rửa và mặc quần áo ấm. Một bác sĩ ở địa phương kiểm tra sức khỏe cho chúng tôi và đề nghị dùng thuốc kháng sinh, ăn thịt muối xông khói và trứng, những thứ nghe rất được.
Chúng tôi ăn sáng trong phòng họp của Max và tường trình mọi việc với anh chàng cảnh sát trưởng. Max hết ngạc nhiên lại nghi ngờ, bực mình, vui vẻ, ganh tỵ, thở phào, lo lắng, vân vân. Anh cứ nhắc đi nhắc lại, “Kho báu của thuyền trưởng Kidd? Cậu chắc không?”
Khi tôi ăn suất sáng thứ hai, Max hỏi, “Vậy là chỉ có Stevens biết vị trí của kho báu này?”
Tôi đáp, “Tôi nghĩ thế.”
Anh nhìn tôi rồi lại nhìn Beth và nói, “Cậu không định giấu tôi đấy chứ?”
Tôi đáp, “Tất nhiên là tôi sẽ giấu. Nếu chúng tôi mà biết hai mười triệu đô la vàng và đồ trang sức đang ở đâu thì anh sẽ là người được biết cuối cùng, Max. Nhưng quả thực là kho báu lại mất tích lần nữa.” Tôi nói thêm, “Tuy nhiên, chúng tôi đã biết là nó tồn tại thật và Stevens đã có nó trong tay một thời gian ngắn. Vì vậy, có thể nếu may mắn thì cảnh sát hoặc các cơ quan liên bang có thể tìm thấy nó.”
Beth nói thêm, “Kho báu đó đã gây ra cái chết cho nhiều người đến mức em thực sự nghĩ nó đáng nguyền rủa.”
Max nhún vai đáp, “Nguyền rủa hay không, tôi cũng muốn tìm được nó.” Anh nói thêm, “Vì những lí do lịch sử?”
“Đúng như vậy.”
Max có vẻ như không thể hiểu hết toàn bộ các chi tiết và xử lí nó. Anh cứ nhắc đi nhắc lại những câu hỏi đã được trả lời.
Tôi nói, “Nếu đây đang trở thành một cuộc thẩm vấn thì tôi buộc lòng phải gọi cho luật sư hoặc tẩn cho anh một trận.”
Max gượng cười và nói, “Xin lỗi... chỉ vì chuyện này quá li kỳ...”
Beth nói, “Cám ơn bọn em vì đã làm việc tốt đi.”
“Cám ơn các bạn đã làm việc tốt.” Anh nói với tôi, “Tôi rất vui vì đã thuê cậu.”
“Anh đã sa thải tôi.”
“Tôi ư? Thôi quên nó đi.” Anh hỏi tôi, “Tôi đã nghe cậu nói là Tobin chết rồi thì phải?”
“Ờ... lần cuối cùng tôi nhìn thấy hắn thì chưa... Ý tôi là, lẽ ra tôi phải nói sớm hơn với anh rằng anh cần chăm sóc y tế cho hắn.”
Max nhìn tôi rồi hỏi, “Căn phòng dưới lòng đất ấy chính xác là ở đâu?”
Tôi chỉ đường cho anh theo trí nhớ tốt nhất của mình. Max vội vàng chạy biến đi gọi điện thoại.
Beth và tôi nhìn nhau qua chiếc bàn trong phòng họp của Max. Tôi bảo nàng, “Em sắp thành một điều tra viên giỏi đấy.”
“Em là điều tra viên giỏi.”
“Ừ, đúng thế. Anh phải trả ơn cứu mạng của em thế nào nhỉ?”
“Một nghìn đô la được không?”
“Mạng của anh giá ngần ấy sao?”
“Thế thì năm trăm.”
“Anh mời em đi ăn tối nay nhé?”
“John...” Nàng nhìn tôi và mỉm cười vẻ như bâng khuâng rồi nói, “John... em rất quý mến anh, nhưng... Chuyện này quá... phức tạp... Ý em là với tất cả những cái chết kia... Emma...”
Tôi gật đầu, “Em nói đúng.”
Điện thoại trên bàn reo vang. Tôi nhấc máy, nghe bên kia nói và trả lời, “Được rồi... tôi sẽ nói với cô ấy.” Tôi đặt ống nghe xuống vào bảo Beth, “Chiếc limousine của cảnh sát quận đã đến đây đón cô, thưa cô.”
Nàng đứng lên và đi ra. Khi tới cửa, nàng quay lại phía tôi và nói, “Gọi cho em trong vòng một tháng. Được chứ? Anh sẽ gọi chứ?”
“Được, anh sẽ gọi cho em.” Nhưng tôi biết tôi sẽ không làm thế.
Ánh mắt hai người gặp nhau, tôi nháy mắt, nàng nháy lại, tôi hôn gió, nàng cũng làm theo. Beth Penrose quay ra và đi khỏi.
Vài phút sau, Max quay lại và nói với tôi, “Tôi đã gọi cho Đảo Plum. Nói chuyện với Kenneth Gibbs. Cậu nhớ anh chàng ấy chứ? Trợ lý của Stevens. Các nhân viên an ninh đã tìm thấy sếp của mình. Chết. Gibbs có vẻ không lấy gì làm đau khổ hay thậm chí quá tò mò.”
“Chưa bao giờ phải cân nhắc quá nhiều trước cơ hội thăng tiến không đợi mà có.”
“Ừ. Ngoài ra, tôi cũng bảo anh ta tìm Tobin ở trong các phòng kho chứa đạn dưới lòng đất. Đúng không nhỉ?”
“Đúng. Không nhớ được là phòng nào. Trời lúc đó tối quá.”
“Đúng thế.” Anh thoáng suy nghĩ rồi nói, “Thật là hổ lốn. Phải làm cả tấn công việc bàn giấy đây -”Anh nhìn quanh phòng và hỏi, “Beth đâu?”
“Cảnh sát quận đến đón đi rồi.”
“Ồ... không sao...” Anh cho tôi biết, “Tôi vừa nhận được fax trông có vẻ là văn bản chính thức từ sở Cảnh sát New York đề nghị tôi tìm xem cậu ở đâu và trông chừng cậu cho tới lúc họ đến, khoảng trưa nay”.
“Ồ, tôi ở đây.”
“Cậu sẽ lại trốn tôi?”
“Không.”
“Hứa đi. Hoặc là tôi sẽ cho cậu một căn phòng có song sắt.”
“Tôi hứa.”
“Được rồi.”
“Anh cho người đưa tôi về nhà. Tôi cần một ít đồ.”
“Được thôi.”
Anh đi ra và một sỹ quan mặc quân phục, lại anh bạn Bob Johnson hôm trước, ló đầu vào phòng và hỏi, “Cần đi phải không?”
“Đúng.”
Tôi đi ra cùng Bob và anh đưa tôi về ngôi nhà của cậu Harry. Tôi mặc bộ quần áo dễ chịu không có dòng chữ “Cảnh sát thị trấn Southold” bên trên, lấy một chai bia và ngồi ra hiên phía sau nhà, ngắm nhìn bầu trời đang trong xanh trở lại và mặt vịnh hiền hòa.
Bầu trời mang màu xanh chói chang thường thấy sau khi có bão với những chất ô nhiễm bị thổi tan đi và không khí được làm sạch. Đây là bầu trời của một trăm năm trước, thời còn chưa có những con tàu và xe tải chạy dầu diesel, những chiếc xe hơi và tàu biển, những lò luyện kim dùng dầu và máy xén cỏ, chất hóa học và thuốc trừ sâu, rồi ai mà biết còn thứ gì đang trôi nổi trong không khí.
Bãi cỏ trở thành một nơi hỗn độn vì cơn bão, nhưng căn nhà không hề hấn gì, dù điện vẫn mất và bia trong tủ đã mất lạnh, tệ thật, nhưng có tin mừng là tôi không mở được máy trả lời tự động.
Có lẽ tôi nên chờ người của sở Cảnh sát New York đến như đã hứa với Max, nhưng thay vào đó, tôi lại gọi taxi ra ga tàu ở Riverhead và đi tàu về Manhattan.
* * *
Trở lại nơi ở của tôi trên phố Bảy mươi hai đông sau những ngày tháng nghỉ dưỡng, tôi nhận được ba mươi sáu lời nhắn từ chiếc máy trả lời tự động, máy chỉ lưu được có thế.
Chị dọn nhà thuê đã chất đống thư lên chiếc bàn trên bếp, tất cả khoảng bốn cân rưỡi.
Trong đám giấy tờ nhăng nhít ấy có quyết định cho ly hôn cuối cùng của tòa án. Tôi đính nó lên thành tủ lạnh bằng một chiếc nam châm.
Khi tôi định bỏ đi trước đống thư không chờ đợi thì một chiếc bì thư màu trắng trơn làm tôi chú ý. Thư đề địa chỉ bằng chữ viết tay, còn địa chỉ người gửi là của vợ chồng Gordon, mặc dù dấu bưu điện là ở bang Indiana.
Tôi mở bì thư và lấy ra bên trong ba tờ giấy kẻ ngang, mỗi tờ đều viết kín hai mặt với nét chữ gọn gàng viết bằng mực xanh. Tôi đọc:
John thân mến, Khi anh đọc những dòng này, nghĩa là chúng em đã chết - vậy, gửi lời chào tới anh từ bên kia thế giới.
Tôi đặt bức thư xuống, tới tủ lạnh lấy một chai bia. Tôi nói, “Xin gửi lời chào từ mảnh đất của những người chết đang sống.”
Tôi đọc tiếp:
Anh có biết kho báu của thuyền trưởng Kidd chôn gần đây không nhỉ? Ồ, đến lúc này chắc là anh có biết. Anh là người thông minh, và chúng em chắc hẳn rằng anh đã khám phá ra phần nào của việc này. Nếu không, đây là toàn bộ câu chuyện.
Tôi nhấp một ngụm bia và đọc ba trang thư tiếp theo nói đến thời gian chi tiết của các sự kiện có liên quan đến kho báu của Kidd, Đảo Plum, và quan hệ của vợ chồng Gordon với Fredric Tobin. Không có điều gì đáng ngạc nhiên trong bức thư, chỉ có một số chi tiết mà tôi đã bỏ qua. Về những điều mà tôi phỏng đoán, chẳng hạn như việc tìm ra vị trí của kho báu trên Đảo Plum như thế nào, vợ chồng Gordon viết:
Không lâu sau khi tới Long Island, chúng em nhận được lời mời của Fredric Tobin tham dự một bữa tiệc nếm rượu vang. Chúng em tới vườn nho Tobin để dự tiệc và gặp Fredric Tobin lần đầu tiên. Tiếp theo đó là những lời mời dự tiệc tùng.
Chuyện Fredric Tobin lôi kéo vợ chồng Gordon đã bắt đầu như thế. Theo bức thư, một hôm, Tobin cho họ xem một tấm bản đồ vẽ phác họa trên một tấm da nhưng không cho họ biết làm sao hắn có được. Tấm bản đồ là của “Pruym Eyland”, tên tiếng Hà Lan của Đảo Plum, với những kim la bàn chỉ hướng, số bước đi, các điểm mốc, và một chữ X lớn. Phần còn lại của câu chuyện là có thể đoán được, và không lâu sau, Tom, Judy và Fredric đã lập một thỏa thuận ma quỷ.
Vợ chồng Gordon nói rõ rằng họ không tin Tobin và hắn có thể sẽ là nguyên nhân gây ra cái chết cho họ, ngay cả khi nó được dựng lên cho giống một tai nạn hoặc do điệp viên nước ngoài gây ra, hay là cái gì đó. Tom và Judy cuối cùng đã hiểu được Fredric Tobin, nhưng họ phải mất quá lâu và khi hiểu được thì đã quá muộn. Trong thư không nhắc gì tới Paul Stevens, người mà họ hoàn toàn không hay biết gì.
Tôi chợt nghĩ Tom và Judy cũng giống như những con vật mà họ làm thí nghiệm - vô tội, không nói được thành lời và chịu số phận bi đát từ ngay phút đầu tiên họ đặt chân lên Đảo Plum.
Phần cuối của bức thư viết:
Cả hai chúng em đều quý anh và rất tin anh, John, và chúng em biết anh sẽ làm mọi thứ có thể để mang lại công lý. Thân, Tom và Judy.
Tôi đặt bức thư xuống và nhìn vào khoảng không hư vô trước mặt hồi lâu.
Nếu bức thư này đến với tôi sớm hơn thì một tuần vừa qua trong cuộc đời tôi đã rất khác rồi. Emma sẽ vẫn còn sống, dù có thể tôi chẳng bao giờ gặp được nàng.
Một thế kỷ trước, người ta thi thoảng mới phải đứng trước những ngã ba của cuộc đời và phải chọn lấy một hướng đi. Hôm nay, chúng ta sống bên trong một tấm vi mạch với hàng triệu con đường mở ra và đóng lại trong mỗi một phần tỉ giây. Điều tệ hơn là có ai đó đang bấm những chiếc nút.
Sau khoảng nửa giờ trầm ngâm suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống thì chuông điện thoại reo và tôi nhấc máy. Đó là mấy tay cảnh sát thô lỗ từ Phòng Nội bộ có vẻ như khó chịu với tôi vì lí do gì đó. Tôi xuống trụ sở sở Cảnh sát New York cùng họ để giải thích lý do tại sao tôi không gọi lại trả lời các cuộc điện thoại chính thức và tại sao tôi bỏ hẹn, đó là chưa kể việc làm thêm cho cảnh sát thị trấn Southold. Sếp tôi, trung úy Wolfe, có mặt ở đó, thật khó chịu, nhưng Dom Fanelli cũng ở đó và chúng tôi có cuộc hội ngộ với những tiếng cười vui vẻ.
Các sếp đòi làm cho xong tất cả những rắc rối mà tôi gặp phải, thế là tôi gọi cho luật sư của mình và đại diện của hiệp hội Điều tra viên tài năng. Đến đêm thì chúng tôi đã gần đạt được thỏa thuận.
Cuộc sống là vậy. Ý nghĩa của cuộc sống không liên quan gì nhiều đến chuyện tốt hay xấu, đúng hay sai, trách nhiệm, danh dự, đất nước, hay những điều như thế. Nó là chuyện đạt được một thỏa thuận đúng.