Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Hành lang hình bán nguyệt của phòng thí nghiệm Đảo Plum với một gác lửng chạy xung quanh cầu thang trung tâm. Không gian sáng sủa và thoáng mát, dễ chịu và đón mời. Lũ động vật đáng thương có lẽ được nhốt ở phía sau.

Trên bức tường bên trái là những bức ảnh các quan chức chính phủ từ cao xuống thấp - tổng thống, bộ trưởng nông nghiệp, và tiến sỹ Karl Zollner, một đường khá ngắn đối với một cơ quan chính phủ. Điều đó khiến tôi tin rằng Tiến sĩ Zollner là người rất gần gũi với Phòng Bầu dục[1].

Ở quầy lễ tân, chúng tôi phải đăng nhập và đổi những tấm thẻ xanh kẹp trên áo bằng thẻ trắng với một sợi dây nhựa quàng qua cổ. Một thủ tục an ninh tốt, tôi nghĩ - hòn đảo được phân chia giữa tòa nhà này và tất cả mọi thứ khác. Và trong tòa nhà này là các Vùng. Tôi không nên đánh giá thấp Stevens.

Một cô gái trẻ đẹp mặc váy đến gối đã xuống tới thang gác trước khi tôi có cơ hội nhìn ngước lên cặp đùi. Cô gái tự giới thiệu là Donna Alba, trợ lý của tiến sĩ Zollner. Cô mỉm cười nói, “Tiến sĩ Zollner sẽ gặp mọi người ngay thôi. Trong lúc chờ, tôi sẽ dẫn các bạn đi xem quanh đây.”

Paul Stevens nói với tôi, “Tôi sẽ tranh thủ lúc này về văn phòng kiểm tra xem có gì mới không.” Gã nói thêm, “Donna sẽ phục vụ mọi người chu đáo.” Gã nhìn tôi nói, “Xin nhớ luôn ở cạnh cô Alba.”

“Nếu tôi đi vệ sinh thì sao?”

“Anh đã đi rồi.” Gã đi lên cầu thang, dừng lại. Tôi chắc là gã dừng ở phòng của tiến sĩ Zollner để báo cáo về năm kẻ xâm phạm.”

Tôi nhìn Donna Alba. Cô chừng hai nhăm, hai sáu tuổi, da trắng tóc đen, khuôn mặt dễ nhìn, cơ thể đẹp, váy xanh, áo bờ lu trắng, đi giày thể thao. Nếu bạn nghĩ đến chuyện đi lại bằng tàu hàng ngày đến nơi làm việc và khả năng phải đi đâu đó trên đảo thì giày cao gót quả không tiện cho lắm. Thực sự là nếu ai đó thích đi về hàng ngày đúng giờ và một ngày làm việc trung bình ở văn phòng thì Đảo Plum không phải nơi phù hợp.

Dù thế nào, Donna cũng đủ hấp dẫn để tôi nhớ ra cô đã đi trên chuyến phà lúc 8 giờ với chúng tôi sáng nay. Vì thế, cô chưa biết Nash và Foster và có lẽ không phải tay trong của gã mật vụ nào.

Donna yêu cầu chúng tôi tự giới thiệu. Chúng tôi làm theo, không sử dụng mấy cái mác khiến người khác lo lắng như “điều tra viên án giết người”, “FBI” hay “CIA.”

Cô bắt tay một vòng vào trao cho Nash một nụ cười đặc biệt. Phụ nữ là những thẩm phán tồi trong đánh giá tính cách.

Donna bắt đầu, “Chào mừng mọi người đã đến với Trung tâm nghiên cứu bệnh dịch động vật. Tôi chắc rằng Paul đã giới thiệu qua với các bạn và kể về lịch sử của hòn đảo cùng một chuyến du ngoạn vòng quanh đảo.” Cô liếc nhìn xung quanh như thể đang ở một nước độc tài và nói, “Tôi không được bàn luận hay nhận xét bất cứ điều gì trong chuyện đó. Nhưng tôi nghĩ tôi nên nói ra cảm xúc của mình.”

Beth liếc nhìn tôi. Có lẽ nàng đã nhìn thấy một yếu điểm trên chiếc áo giáp của Đảo Plum. Nàng nói với Donna, “John và Max là bạn tốt của Tom và Judy.”

Tôi nhìn vào mắt Donna Alba và nói, “Chúng tôi đánh giá cao mọi sự giúp đỡ và hợp tác mà chúng tôi nhận được từ các nhân viên ở đây.” Cho đến giờ, điều này có cả việc Stevens tặng chúng tôi một chuyến du lịch năm mươi xen tới những đống đổ nát và hoang tàn. Nhưng điều quan trọng là làm cho Donna tin rằng cô có thể nói tự do, tất nhiên không phải ở đây, vào lúc này, mà là khi chúng tôi đến thăm nhà cô.

Donna nói, “Tôi sẽ đưa mọi người đi xem một vòng. Xin đi theo tôi.”

Chúng tôi đi quanh dãy hành lang. Donna giới thiệu những thứ trên tường, có cả những bài báo, những câu chuyện hãi hùng từ khắp nơi trên thế giới về bệnh bò điên và thứ gì đó gọi là Rinderpest và bệnh sốt xuất huyết lợn cùng những thứ bệnh ghê gớm khác. Có những tấm bản đồ về sự bùng phát của bệnh này bệnh kia, những biểu đồ, đồ thị và hình ảnh về gia súc với cái môi phồng rộp, nước dãi chảy dài như sợi dây từ trong miệng, về loài lợn với những vết lở loét rỉ nước trông hãi hùng. Không thể nhầm được với hành lang của một nhà hàng chuyên thịt bò nướng.

Donna hướng sự chú ý của chúng tôi vào những cánh cửa ở phía sau hành lang. Chúng được sơn màu vàng cảnh báo đặc biệt, giống màu của Đảo Plum trên bản đồ, khiến chúng nổi bật trên nền của hành lang chủ yếu là màu xám. Cánh cửa bên trái có tấm biển đề “Phòng thay đồ - Nữ” và bên phải là “Phòng thay đồ - Nam.” Cả hai cửa đều có tấm biển, “Chỉ dành cho người có thẩm quyền.”

Donna nói, “Những cánh cửa này dẫn đến các khu vục kiểm soát sinh học. Hành lang này cùng với các phòng hành chính thực ra là một tòa nhà riêng biệt với khu kiểm soát sinh học, dù bề ngoài trông như liền làm một. Hai phòng thay đồ chính là nơi nối khu này với khu kiểm soát sinh học.”

Max hỏi, “Vậy có đường nào khác ra vào khu kiểm soát sinh học không?”

Donna đáp, “Anh có thể đi vào theo lối dành cho nhân viên phục vụ động vật, đưa thức ăn và mọi thứ khác vào. Nhưng anh không thể đi ra theo lối đó. Bất cứ thứ gì và bất cứ ai đi ra đều phải qua khu khử trùng, trong đó có các phòng tắm.”

Foster hỏi, “Vậy các sản phẩm mổ xẻ - những thứ bỏ đi và mọi thứ khác - thì xử lí ra sao?”

“Qua lò thiêu hoặc ống dẫn tới xưởng khử trùng nước và chất thải,” Donna đáp. Cô nói thêm, “Tất cả có vậy - hai chiếc cửa này đi vào, một cửa sau, ống thoát nước và lò thiêu hủy, trên nóc nhà có thiết bị lọc không khí có thể chặn được các loại virut nhỏ nhất. Đây là tòa nhà rất kín.”

Mỗi người chúng tôi đều theo đuổi những ý nghĩ riêng về vợ chồng Gordon, về chuyện mang vi sinh vật ra khỏi phòng thí nghiệm.

Donna nói tiếp, “Các phòng thay quần áo vẫn là Vùng một, giống như hành lang này. Nhưng khi đi từ phòng thay quần áo là các bạn đã vào Vùng hai và phải mặc quần áo trắng của phòng thí nghiệm. Trước khi ra khỏi Vùng hai, ba, bốn và trở lại Vùng một, các bạn phải tắm. Phòng tắm thuộc Vùng một.”

“Phòng tắm dùng chung cả nam và nữ à?” Tôi hỏi.

Cô bật cười. “Tất nhiên là không.” Cô nói thêm, “Tôi hiểu là mọi người đều đã được chấp nhận vào Vùng hai, ba, bốn nếu muốn.”

Ted Nash cười ngớ ngẩn và hỏi, “Cô có đi cùng chúng tôi không?”

Cô lắc đầu. “Tôi không được trả lương cho việc đó.”

Tôi cũng có được trả xu nào đâu. Tôi hỏi Donna “Sao chúng tôi không được vào Vùng năm?”

Cô nhìn tôi, vẻ như ngạc nhiên. “Vùng năm? Sao anh lại muốn vào đó?”

“Tôi không biết. Vì nó ở đó.”

Cô lắc đầu. “Chỉ có khoảng mười người được quyền vào Vùng năm. Khi vào phải mặc bộ đồ như của nhà du hành vũ trụ này-"

“Ông bà Gordon có được vào Vùng năm không?”

Cô gật đầu.

“Có thứ gì trong Vùng năm?”

“Anh nên hỏi tiến sĩ Zollner câu đó.” Cô liếc nhìn đồng hồ rồi nói, “Xin đi theo tôi.”

“Hãy ở cùng nhau.” Tôi thêm vào.

Chúng tôi lên cầu thang, tôi tụt lại phía sau vì cái chân tệ hại của tôi đang bắt đầu kéo lê và cũng vì tôi muốn ngắm chân và mông của Donna. Tôi biết tôi là giống lợn - tôi có thể nhiễm bệnh sốt xuất huyết lợn.

Chúng tôi bắt đầu cuộc dạo thăm hai bên của hành lang hai tầng. Mọi thứ đều được sơn cùng một màu xám bồ câu hoặc xám pha tối mà tôi đoán là đã thay thế thứ màu xanh trông buồn nôn của các tòa nhà liên bang cũ. Trên tường của các hành lang là ảnh của các vị giám đốc, nhà khoa học và nhà nghiên cứu trước đây của phòng thí nghiệm.

Tôi nhận ra hầu hết các cánh cửa trên những hàng lang dài này đều đóng và có đánh số, nhưng không có tên của người hay chức năng trên đó, trừ các phòng vệ sinh. An ninh tốt đấy, tôi nghĩ, và một lần nữa tôi có ấn tượng với cái đầu hoang tưởng của Paul Stevens.

Chúng tôi vào thư viện nghiên cứu nơi một vài nhà nghiên cứu đang tìm kiếm trên giá sách hoặc đang ngồi đọc trước bàn. Donna nói, “Đây là một trong những thư viện tốt nhất thuộc loại này trên thế giới.”

Tôi không thể tưởng tượng có quá nhiều thư viện về bệnh động vật trên vũ trụ này, nhưng vẫn nói với Donna, “Chà!”

Donna lấy ra một tập sách nhỏ, tài liệu báo chí phát hành và các sách báo tuyên truyền khác từ một chiếc bàn dài và đưa cho chúng tôi. Nhũng cuốn sách nhỏ gập ba có tiêu đề như, “Bệnh dịch tả ở lợn”, “Bệnh sốt lợn châu Phi”, “Bệnh ngựa châu Phi” và thứ gì đó gọi là “Bệnh bướu da” mà cứ theo những bức ảnh đáng sợ từ cuốn sách thì tôi nghĩ là một cô bạn gái cũ của tôi đã mắc chứng bệnh này. Tôi không thể chờ về nhà và đọc mấy thứ này, tôi nói với Donna, “Cho tôi thêm hai cuốn về bệnh rinderpest được không?”

“Hai cuốn nữa...? Tất nhiên là được...” Cô lấy hai cuốn đưa cho tôi. Cô này tốt thật. Sau đó cô lấy cho chúng tôi mỗi người một cuốn tạp chí hàng tháng có tên là Nghiên cứu nông nghiệp, ngoài bìa có một tiêu đề nóng bỏng “Pheromone kích thích tố đánh lừa loài sâu hại quả Nam Việt quất”. Tôi hỏi Donna, “Cho tôi một tờ giấy gói màu nâu để bọc cái này nhé?”

“Ờ... ồ, anh lại đùa rồi. Phải không?”

George Foster nói với cô gái, “Đừng để ý quá tới anh ấy.”

Ngược lại, Foster - chú mày nên rất để ý tới tao mới phải. Nhưng nếu chú mày nhầm sự khôi hài ngớ ngẩn của tao với sự cẩu thả hay lơ đễnh, thế lại càng tốt.

Chúng tôi tiếp tục chuyến du lịch năm mươi xen. Chúng tôi thấy thính phòng, quầy ăn tự phục vụ ở tầng hai, một căn phòng đẹp, sạch sẽ và hiện đại với những cửa sổ to từ đó có thể nhìn thấy ngọn hải đăng, eo biển và Orient Point. Donna mời chúng tôi dùng cà phê. Chúng tôi ngồi bên một chiếc bàn tròn trong khu vực ăn uống gần như không có ai.

Chúng tôi nói chuyện phiếm một lát, rồi Donna nói, “Các nhà nghiên cứu trong khu vục kiểm soát sinh học gửi fax đặt bữa trưa cho nhà bếp. Họ không muốn mất thời gian tắm để ra ăn trưa. Một ai đó sẽ mang đồ ăn cho tất cả mọi người trong Vùng hai, dù là ai mang tới cũng phải tắm khi đi ra. Các nhà khoa học rất miệt mài. Họ làm việc tám đến mười tiếng mỗi ngày trong phòng kiểm soát sinh học. Tôi không biết họ làm cách nào.”

Tôi hỏi Donna, “Họ có gọi bánh hăm-bơ-gơ không?”

“Xin lỗi?”

“Các nhà khoa học ấy. Họ có gọi thịt bò, giăm bông, thịt cừu hay những thứ đại loại như thế từ nhà bếp không?”

“Tôi đoán... Tôi có hẹn với một trong số nhà nghiên cứu. Anh ấy thích món thịt bò.”

“Anh ta có mổ xẻ những con bò bị bệnh và thối rữa không?”

“Có. Tôi đoán anh quen với thứ đó.”

Tôi gật đầu. Vợ chồng Gordon cũng làm việc mổ xẻ, và họ vẫn thích món thịt bò. Tài thật. Ý tôi là tôi không thể nào quen được với những xác người chết đã bốc mùi. Dù sao, có lẽ với động vật nó cũng khác. Khác loài, khác mọi thứ.

Tôi biết đây có thể là cơ hội duy nhất để tôi tách khỏi những người đi cùng. Tôi liếc nhìn Max và đứng lên hỏi, “Phòng vệ sinh nam ở đâu.”

“Ở đằng kia,” Donna chỉ tới một lối cửa. “Đừng rời khỏi phòng ăn nhé.”

Tôi đặt tay lên vai Beth và ấn xuống, ngầm để nàng biết nàng nên ở đây với hai gã người của liên bang kia. Tôi nói với nàng, “Đừng để Stevens quay lại thả vi trùng bệnh than vào cà phê của tôi đấy nhé.”

Tôi đi tới chỗ có hai phòng vệ sinh. Max đi cùng tôi và chúng tôi đứng ở cuối hành lang. Phòng vệ sinh dễ bị nghe trộm hơn ở hành lang nhiều. Tôi nói, “Họ có thể nói là đã hợp tác đầy đủ, đã đưa chúng ta đi xem mọi nơi trên đảo, và toàn bộ cơ sở nghiên cứu trừ Vùng năm. Thực ra phải mất vài ngày để kiểm tra hết tòa nhà này, tính cả tầng hầm, và sẽ mất cả một tuần để thẩm vấn các nhân viên.”

Max gật đầu. Anh nói, “Chúng ta phải giả định rằng mọi người ở đây đều lo lắng khi chúng ta sắp tìm ra thứ gì bị mất nếu có.” Anh nói thêm, “Cứ tin tưởng họ về điểm này.”

Tôi đáp, “Ngay cả nếu họ phát hiện ra hoặc biết vợ chồng Gordon đã lấy cắp thứ gì, họ sẽ không nói với ta. Họ sẽ nói với Foster và Nash.”

“Thế thì sao? Chúng ta đang điều tra một vụ án mạng.”

“Khi tôi biết nguyên nhân là gì và tại sao, tôi sẽ tìm ra thủ phạm là ai.” Tôi nói.

“Đó là các vụ thông thường - còn với các vụ về an ninh quốc gia, nếu họ nói cho anh điều gì đã là may lắm rồi. Trên đảo này không có thứ gì cho chúng ta. Họ kiểm soát hòn đảo, tức nơi làm việc của nạn nhân. Chúng ta kiểm soát hiện trường vụ án, tức nhà của nạn nhân. Chúng ta có thể trao đổi một vài thông tin với Nash và Foster. Nhưng tôi không nghĩ họ lại quan tâm tới chuyện ai giết vợ chồng Gordon. Họ muốn chắc chắn rằng vợ chồng Gordon không giết phần còn lại của đất nước này. Anh hiểu chứ?”

“Tôi hiểu, Max. Nhưng bản năng cảnh sát của tôi mách bảo-"

“Này, sẽ ra sao nếu chúng ta bắt được kẻ giết người nhưng không thể đưa hắn ra tòa vì không có đủ mười hai người còn sống ở cả bang New York này để lập một bồi thẩm đoàn?”

“Thôi đừng cường điệu thế.” Tôi suy nghĩ một chút rồi nói, “Vụ này có thể không liên quan gì đến vi trùng. Anh nghĩ tới ma túy chưa?”

Anh gật đầu. “Tôi đã nghĩ đến rồi. Tôi thích khả năng đó.”

“Đúng vậy. Anh nghĩ thế nào về Stevens?”

Max nhìn qua vai tôi. Tôi quay lại và thấy một người bảo vệ mặc đồng phục màu xanh đi tới chỗ chúng tôi. Gã nói, “Tôi có thể giúp các ngài tìm gì không?”

Max từ chối lời đề nghị và chúng tôi trở lại bàn. Khi họ cho người tới phá một cuộc nói chuyện riêng thì có nghĩa là họ không thể nghe trộm được.

Sau vài phút uống cà phê và chuyện phiếm, Alba nhìn đồng hồ và báo, “Chúng ta có thể xem phần còn lại của chỗ này rồi tới văn phòng của tiến sĩ Zollner.”

“Cô nói câu này cách đây nửa giờ rồi, Donna.” Tôi nhắc khéo.

“Sáng nay ông ấy rất bận,” cô đáp. “Điện thoại chưa lúc nào ngừng. Washington, rồi các cơ quan truyền thông trên toàn quốc.” Cô dường như ngạc nhiên và nghi ngờ. Cô nói, “Tôi không tin điều họ nói về ông bà Gordon. Không tin dù chỉ là một phút. Không có cách nào.”

Tất cả chúng tôi rời phòng ăn và đi quanh những hành lang màu xám âm u một lúc. Cuối cùng, trong lúc đang xem phòng máy tính, tôi thấy đã đủ và nói với Donna, “Tôi muốn đến phòng thí nghiệm nơi ông bà Gordon làm việc.”

“Đó là khu kiểm soát sinh học. Anh có thể xem chỗ đó sau.”

“Thôi được. Vậy đâu là phòng của Tom và Judy trong khu hành chính này?”

Cô ngập ngừng rồi nói, “Anh có thể hỏi tiến sĩ Zollner. Ông ấy không bảo tôi dẫn mọi người đến phòng của ông bà Gordon.”

Tôi không muốn làm căng với Donna, vì thế tôi liếc nhìn Max theo kiểu cảnh sát hiểu nhau - Max, anh đang là cảnh sát tồi đấy.

Max nói với Alba, “Với tư cách là cảnh sát trưởng của thị trấn Southold, trong đó hòn đảo này là một bộ phận, tôi yêu cầu cô ngay bây giờ đưa chúng tôi đến phòng của Tom và Judy Gordon, hai nạn nhân trong vụ giết người mà tôi đang điều tra.”

Không tồi lắm, Max, dù câu cú và ngữ pháp hơi vụng về.

Donna Alba tội nghiệp trông như thể sắp ngất xỉu.

Beth nói với cô, “Việc này không có gì. Cứ làm theo những gì cảnh sát trưởng Maxwell yêu cầu.”

Giờ đến lượt Foster và Nash và tôi biết họ sắp nói gì. George Foster hóa ra lại là một gã đầu đất được giao việc. Gã nói, “Do tính chất công việc của vợ chồng Gordon và khả năng văn phòng của họ có giấy tờ và tài liệu-"

“Liên quan đến an ninh quốc gia,” tôi xen vào, “vân vân, và đủ thứ.”

Gấu bông Ted Nash nghĩ gã nên xuất hiện và nói, “Ông bà Gordon được phép tiếp cận bí mật, và vì thế giấy tờ của họ là tài liệu mật.”

“Vớ vẩn.”

“Xin lỗi, điều tra viên Corey - Tôi đang nói.” Gã ném ánh mắt thực sự khó chịu về phía tôi, rồi nói, “Tuy nhiên, vì những mối quan tâm chung và để tránh những tranh cãi về quyền hạn pháp lý, tôi sẽ gọi một cuộc điện thoại mà tôi tin rằng sẽ cho phép chúng ta được quyền vào phòng của ông bà Gordon.” Gã nhìn tôi, Max, Beth và hỏi, “Được chứ?”

Họ gật đầu.

Tất nhiên phòng làm việc của vợ chồng Gordon đã được kiểm tra kỹ lưỡng và dọn dẹp sạch sẽ tối qua hoặc sáng sớm nay. Như Beth đã nói, chúng tôi sẽ chỉ thấy những gì họ muốn chúng tôi thấy. Nhưng tôi đã cho George và Ted hửng mũi mà nghĩ đến chuyện làm mình làm mẩy về điều này, như thể chúng tôi sẽ tìm được những thứ thực sự hay ho trong phòng của vợ chồng Gordon.

Donna Alba dường như trút được gánh nặng và nói với Nash, “Tôi sẽ gọi cho tiến sĩ Zollner.” Cô nhấc điện thoại và bấm nút gọi nội mạng. Cùng lúc đó, Ted Nash rút điện thoại di động và đi ra chỗ cách xa chúng tôi, quay lưng lại nói chuyện hoặc làm ra vẻ đang nói chuyện với những ông trùm bộ máy an ninh quốc gia ở thủ đô vĩ đại của đế chế Rối ren.

Hết màn kịch, gã trở lại với đám người trần mắt thịt chúng tôi vừa đúng lúc Donna kết thúc cuộc gọi cho tiến sĩ Zollner. Donna gật đầu bảo được, Nash cũng gật đầu.

Donna nói, “Hãy đi theo tôi.”

Chúng tôi đi theo cô vào trong hành lang và hướng ra sườn phía đông của tòa nhà, đi qua cầu thang mà chúng tôi đến lúc trước. Chúng tôi đến phòng 265, Donna mở cửa bằng chìa khóa vạn năng.

Trong phòng có hai chiếc bàn làm việc, mỗi chiếc có một máy tính cá nhân, một bộ modem, giá sách và một chiếc bàn dài để sách báo, giấy tờ bên trên. Không có thiết bị thí nghiệm hay bất cứ thứ gì như vậy - chỉ có đồ văn phòng, trong đó có một máy fax.

Chúng tôi tìm kiếm một hồi quanh hai chiếc bàn của vợ chồng Gordon, mở ngăn kéo, xem xét các loại giấy tờ. Nhưng như tôi đã nói, căn phòng đã bị dọn sạch từ lúc trước. Trong bất kỳ trường hợp nào, những người dính líu đến một âm mưu nào đó không đời nào ghi chép hoặc để lại thư báo tố tội quanh đó.

Tuy nhiên, bạn sẽ không bao giờ biết bạn có thể tìm được gì. Tôi xem cuốn lưu danh thiếp của họ, để ý thấy họ quen biết nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, hầu hết là trong giới khoa học, có vẻ như vậy. Tôi tìm vào mục Gordon và thấy một tấm danh thiếp của cha mẹ Tom và tên của những người chắc hẳn là của anh chị em và những người trong gia đình Tom. Tất cả đều ở bang Indiana. Tôi không biết tên thời con gái của Judy.

Tôi tìm “Corey, John” và thấy tên tôi, dù tôi không nhớ là họ đã bao giờ gọi cho tôi từ nơi làm việc chưa. Tôi tìm “Maxwell, Sylvester” và thấy số điện thoại văn phòng và nhà riêng của anh. Tôi tìm “Wiley, Margaret” nhưng không thấy, cũng không ngạc nhiên. Rồi tôi tìm đến “Murphy”, người láng giềng ngay cạnh nhà của Gordon, thấy có họ trong đó, là Edgar và Agnes, một điều đáng chú ý. Tôi tìm thấy “Tom, Fredric” và nhớ lại lần tôi đi cùng vợ chồng Gordon tới xưởng rượu của Fredric Tobin trong một buổi lễ nếm rượu vang. Tôi tìm và thấy số điện thoại của hội Lịch sử Peconic và số máy nhà riêng của chủ tịch hội, một người tên là Emma Whitestone.

Tôi lật đến hàng “D” để tìm người vận chuyển ma túy, Pedro, và “C” để tìm tập đoàn ma túy Colombia, nhưng không thấy gì. Tôi thử lật đến hàng “T” tìm những tên khủng bố và “A” để tìm khủng bố người Arập, cũng không hơn gì. Tôi không thấy có “Stevens” hay “Zollner”, nhưng tôi đoán là có danh mục riêng của tất cả mọi nhân viên trên đảo và định kiếm một bản.

Nash say sưa với chiếc máy tính của Tom, Foster với chiếc máy của Judy. Đây có lẽ là thứ họ không có thời gian kiểm tra hết sáng sớm nay.

Tôi để ý hầu như không có thứ đồ cá nhân nào trong phòng, không một tấm ảnh, một tác phẩm nghệ thuật, thậm chí không có gì ngoài những thứ do chính phủ phát. Tôi hỏi Donna về điều này, cô trả lời, “Không có quy định cấm mang đồ cá nhân trong Vùng một. Nhưng mọi người thường không mang nhiều đồ trên phà để đưa vào văn phòng của mình, có lẽ trừ mỹ phẩm, thuốc thang và những thứ như vậy. Tôi không biết tại sao. Thực ra, chúng tôi có thể đòi hỏi hầu như bất cứ thứ gì chúng tôi muốn, miễn là có lí do. Chúng tôi hơi được chiều chuộng theo cách đó.”

“Tiền thuế của tôi được sử dụng đấy.”

Cô mỉm cười. “Chúng tôi phải được vui vẻ trên hòn đảo điên rồ này.”

Tôi bước tới một chiếc bảng lớn nơi Beth và Max đang đọc những đoạn báo cắt ra đính trên ghim. Ở khoảng cách hai gã kia không nghe được, tôi nói, “Chỗ này đã bị dọn dẹp sạch rồi.”

Max hỏi, “Ai dọn?”

Beth nói, “John và tôi đã thấy hai anh bạn của chúng ta từ dưới phà đi lên sáng nay. Họ đã ở đây rồi, đã gặp Stevens, đã xem căn phòng này rồi.”

Max tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi khó chịu. Anh nói, “Chết tiệt... làm vậy là trái luật.”

Tôi nói, “Anh không nên nói gì. Nhưng anh có thể hiểu được tại sao tâm trạng tôi không được vui.”

“Tôi không nhận ra điều gì khác thường, nhưng lúc này tôi rất cáu.”

Với giọng nói dễ chịu nhất, Donna xen vào cắt ngang cuộc nói chuyện của chúng tôi và bảo “Chúng ta đã hơi muộn rồi. Mọi người có thể quay lại đây sau.”

Beth nói với Donna, “Điều tôi muốn cô làm là thấy căn phòng này được khóa lại. Tôi sẽ cử người của cảnh sát quận tới đây xem xét.”

Nahs nói, “Tôi đoán ý cô nói xem xét có nghĩa là thu giữ các thứ đồ trong này.”

“Anh có thể đoán như vậy.”

Foster nói, “Tôi tin rằng luật liên bang đã bị vi phạm, và tôi có ý định lấy bất cứ bằng chứng nào tôi cần từ nơi thuộc sở hữu của liên bang, Beth. Nhưng tôi sẽ để cảnh sát quận Suffolk được xem mọi thứ.”

Beth nói, “Không, George, Tôi sẽ thu giữ toàn bộ phòng này và cho phép anh được xem.”

Cảm thấy sắp có tranh cãi, Donna nói nhanh, “Chúng ta đi xem phòng thường trực thôi. Sau đó sẽ gặp tiến sĩ Zollner.”

Chúng tôi trở lại hành lang và đi theo Donna tới một căn phòng đánh số “237”. Cô nhập mã số vào chiếc bàn phím nhỏ và mở cửa, bên trong là một căn phòng lớn không có cửa sổ. Cô nói, “Đây là phòng thường trực, trung tâm chỉ huy, kiểm soát và liên lạc của toàn bộ Đảo Plum.”

Chúng tôi vào cả bên trong, tôi nhìn xung quanh. Những chiếc bệ chạy dọc theo các bức tường. Một người đàn ông còn trẻ đang ngồi quay lưng lại phía chúng tôi và nói chuyện qua điện thoại.

Donna nói, “Đó là Kenneth Gibbs, trợ lý của Paul Stevens. Kenneth hôm nay đang trực.”

Kenneth Gibbs xoay chiếc ghế lại và vẫy chúng tôi.

Tôi nhìn quanh căn phòng. Trên những chiếc bàn là máy thu, máy phát radio các loại, một bộ máy tính, một bộ ti vi, hai chiếc máy fax, điện thoại bàn, điện thoại cầm tay, một máy điện báo đánh chữ và một vài thiết bị điện tử khác. Hai máy quay phim trên trần nhà quét trọn căn phòng.

Trên tường là các loại bản đồ, tần số radio, sổ ghi, bảng phân công trực, vân vân. Đây là hoạt động của Paul Stevens - Chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, còn gọi là CCC hay 3C. Nhưng tôi không thấy cánh cửa nào có thể dẫn đến phòng làm việc riêng của Stevens.

Donna nói, “Từ đây, chúng tôi liên lạc trực tiếp với Washington và các cơ sở nghiên cứu khác trên toàn nước Mỹ, ở Canada, Mexico và cả thế giới. Chúng tôi cũng nối với các trung tâm kiểm soát bệnh dịch ở Atlanta. Ngoài ra, chúng tôi có đường dây trực tiếp với bộ phận cứu hỏa và các nơi trọng yếu khác trên đảo, cộng thêm cơ quan Thời tiết quốc gia và nhiều cơ quan, tổ chức khác hỗ trợ cho Đảo Plum.”

“Như quân đội?” Tôi hỏi.

“Đúng. Đặc biệt là lực lượng bảo vệ bờ biển.”

Gibbs đặt điện thoại xuống và tới chỗ chúng tôi. Mọi người giới thiệu với nhau.

Gibbs vóc người cao, khoảng trên ba mươi tuổi, mắt xanh, tóc vàng ngắn giống ông chủ, quần áo là lượt cẩn thận, thắt cà vạt xanh. Một chiếc áo khoác xanh có phù hiệu treo trên ghế. Tôi chắc rằng Gibbs là sản phẩm của phòng thí nghiệm nơi này, được nhân bản vô tính từ chỗ kín của Stevens hay thứ gì đó. Gibbs nói, “Tôi có thể trả lời bất kì câu hỏi nào của các bạn về văn phòng này.”

Beth nói với Donna, “Cô có phiền nếu chúng tôi nói chuyện riêng với ông Gibb đây một lát?”

Cô nhìn Gibbs, gã gật đầu.

Donna đi ra hành lang.

Là người duy nhất trong chúng tôi ở gần Đảo Plum, Max có tính toán riêng của mình. Anh hỏi Gibbs, “Các anh đối phó thế nào nếu có một trận gió đông bắc lớn hoặc một cơn bão sắp đổ vào?”

Gibbs đáp, “Trong giờ làm việc, chúng tôi sơ tán.”

“Tất cả mọi người?”

“Một số phải ở lại để trông coi kho. Trong số này có tôi, cả ông Stevens, một số nhân viên an ninh khác, nhân viên cứu hỏa và một hai nhân viên sửa chữa để đảm bảo cho các máy phát điện và thiết bị lọc không khí duy trì hoạt động. Ngoài ra có thể có một hoặc hai nhà khoa học để theo dõi đám vi trùng. Tôi đoán là tiến sĩ Zollner cũng muốn xuống tàu của ông.” Gã cười.

Có thể đó chính là tôi, nhưng tôi không thể tham dự vào cái phần khôi hài của những căn bệnh chết người bay theo gió ở khắp nơi này.

Gibbs tiếp tục, “Trong thời gian không làm việc, khi hòn đảo gần như không còn ai, chúng tôi sẽ phải để những người chủ chốt trên đảo. Sau đó, chúng tôi sẽ phải đưa các tàu thuyền tới các bến tàu ngầm ở New London để đảm bảo an toàn. Các tàu ngầm sẽ ra ngoài đại dương và lặn xuống độ sâu an toàn.” Gã nói thêm, “Chúng tôi biết mình đang làm gì ở đây. Chúng tôi được chuẩn bị để đối phó với những tình huống khẩn cấp.”

Max nói, “Nếu có một sự cố rò rỉ sinh học ở đây thì liệu các anh có gọi cho tôi không?”

“Anh sẽ hầu như là người đầu tiên được biết.” Gibbs khẳng định với cảnh sát trưởng.

Max đáp, “Tôi biết điều đó. Nhưng tôi muốn được báo qua điện thoại hoặc điện đài chứ không phải đến lúc ho ra máu hoặc thứ gì đó.”

Gibbs dường như hơi phật ý và nói, “Tài liệu hướng dẫn của tôi chỉ rõ tôi phải gọi cho ai và theo thứ tự nào. Anh nằm trong số những người đầu tiên.”

“Tôi đã yêu cầu lắp một hệ thống loa báo động ở đây để trong đất liền có thể nghe được.”

“Khi tôi gọi cho anh, anh có thể phát trên loa báo động cho người dân nếu anh muốn.” Gibbs nói thêm, “Tôi không nghĩ sẽ có bất cứ sự rò rỉ sinh học nào, vì vậy chuyện này không cần quan tâm.”

“Không, điều đáng quan tâm là nơi này làm tôi sợ đến vãi cả ra quần, và lúc này khi đã thấy tận mắt tôi cũng không thấy bớt lo hơn tí nào.”

“Anh không có gì phải lo lắng.”

Tôi mừng khi nghe điều này. Tôi hỏi Gibbs, “Vậy nếu có những kẻ xâm nhập có vũ trang đến đây thì sao?”

Gibbs nhìn tôi hỏi, “Ý anh là bọn khủng bố?”

“Đúng, chẳng hạn như khủng bố. Hoặc tệ hơn, các nhân viên bưu điện bất mãn.”

Gã không thích thú gì và đáp lại, “Nếu nhân viên an ninh của chúng tôi không thể giải quyết được, chúng tôi sẽ gọi cho lực lượng bảo vệ bờ biển. Từ chính căn phòng này.” Gã hướng ngón tay cái về phía một chiếc điện đài.

“Nhưng nếu căn phòng này bị chiếm đầu tiên thì sao?”

“Vẫn còn một hệ thống CCC khác trong tòa nhà này.”

“Ở tầng ngầm?”

“Có thể. Tôi tưởng các anh đang điều tra một vụ giết người?”

Tôi thích những gã làm bảo vệ ăn nói xấc xược với tôi. Tôi nói, “Đúng vậy. Anh ở đâu lúc 5 giờ 30 tối qua?”

Tôi?”

“Đúng, là anh"

“Ồ... để tôi nhớ-"

“Khẩu súng tự động nòng 45 của anh đâu?”

“Ờ... trong ngăn kéo đằng kia.”

“Gần đây anh có bắn lần nào không?”

“Không... à, tôi thỉnh thoảng mang đến bãi tập bắn-"

“Lần cuối cùng anh nhìn thấy ông bà Gordon là lúc nào?”

“Để tôi nhớ-"

“Anh có thân với ông bà Gordon không?”

“Không thân lắm.”

“Đã bao giờ anh uống chút gì đó với họ chưa?”

“Chưa.”

“Ăn trưa? Ăn tối?”

“Không. Tôi nói-"

“Anh đã bao giờ có dịp nói chuyện chính thức với họ chưa?”

“Không... à...”

“À?”

“Một vài lần. Về con tàu của họ. Họ thích sử dụng các bãi biển của Đảo Plum. Thỉnh thoảng họ đến đây vào sáng chủ nhật hoặc ngày nghỉ, neo tàu ở ngoài một trong các bãi biển vắng ở phía nam của đảo rồi bơi vào bờ, kéo theo một chiếc xuồng cao su. Họ làm picnic trên xuồng. Chúng tôi thấy điều này không có vấn đề gì. Thực ra, có lần chúng tôi đã tổ chức picnic ngày 4/7 cho tất cả mọi nhân viên và gia đình. Đó là lần duy nhất chúng tôi cho phép những người không phải là nhân viên ở đây lên đảo, nhưng sau đó chúng tôi chấm dứt ngay vì những lo ngại về trách nhiệm...”

Tôi cố tưởng tượng ra một ngày nghỉ như vậy, giống như hoạt động kiểm soát sinh học trùm cả bãi biển.

Gibbs tiếp tục, “Ông bà Gordon không bao giờ đưa theo người khác vì điều này trái qui định. Nhưng chiếc tàu của họ lại là một vấn đề.”

“Vấn đề gì?”

“Ví dụ, vào ban ngày, nó sẽ khiến những người đi tàu giải trí khác nghĩ rằng họ cũng có thể vào bờ và sử dụng hòn đảo này. Còn vào ban đêm, nó khiến cho các tàu tuần tra của chúng tôi có thể gặp nguy hiểm. Vì thế tôi nói chuyện với họ và chúng tôi đã cố giải quyết việc này.”

“Các anh giải quyết bằng cách nào?”

“Giải pháp đơn giản nhất là để họ vào trong một vũng nước nhỏ và sử dụng một trong những chiếc xe của chúng tôi đi tới chỗ xa nhất của đảo. Ông Stevens không thấy có vấn đề gì với cách làm này mặc dù nó không đúng lắm với quy định về việc sử dụng xe công. Như vậy vẫn còn hơn. Nhưng họ không muốn vào trong vũng nước sâu hay sử dụng xe. Họ muốn làm theo cách của họ - đưa tàu đến một trong các bãi biển, xuồng cao su và bơi. Họ bảo như vậy thích hơn. Thoải mái hơn và mạo hiểm hơn.”

“Ai là người cao nhất ở hòn đảo này? Stevens, Zollner hay vợ chồng Gordon.?”

“Chúng tôi phải chiều ý các nhà khoa học ở đây, nếu không họ sẽ thất vọng. Câu chuyện đùa của những người không làm khoa học ở đây là nếu ai đó làm một nhà khoa học phật ý hoặc cãi cọ với họ về bất cứ điều gì, người đó sẽ lâm bệnh một cách bí hiểm với một loại virut ba ngày.”

Mọi người tủm tỉm cười.

Kenneth Gibbs tiếp tục, “Dù sao, chúng tôi cũng buộc họ phải bật đèn vận hành, còn tôi báo cho các máy bay trực thăng và tàu của lực lượng bảo vệ bờ biển nhận biết tàu của họ. Chúng tôi cũng yêu cầu họ cam đoan chỉ neo tàu ở những nơi có tấm biển lớn đề “Khu vực cấm” trên bãi biển. Đó là để những kẻ nhát gan không lại gần.”

“Ông bà Gordon làm gì ở trên đảo?”

Gibbs nhún vai. “Picnic, tôi đoán vậy. Đi bộ.” Gã nói thêm, “Họ làm chủ gần chín trăm mẫu đất bỏ không trong những ngày nghỉ và sau giờ làm việc.”

“Tôi được biết họ là những nhà khảo cổ học không chuyên.”

“Ồ, đúng. Họ dành rất nhiều thời gian cho những đống đổ nát. Họ đang sưu tập những thứ đồ cho một viện bảo tàng Đảo Plum.”

“Bảo tàng?”

“Chỉ là một gian trưng bày. Hình như được dự kiến đặt ở hành lang. Các thứ đồ được cất trong tầng ngầm.”

“Là những thứ đồ gì?”

“Hầu hết là đạn súng hỏa mai và đầu mũi tên. Một chiếc chuông đeo cổ bò... một chiếc cúc áo quân phục bằng đồng của quân đội Đại lục, một số thứ lặt vặt từ thời chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha... một chai whisky... vân vân. Hầu hết là những thứ bỏ đi. Tất cả đều được ghi lại và lưu giữ ở tầng ngầm. Mọi người có thể xem nếu muốn.”

Beth nói, “Có thể sẽ xem sau.” Nàng hỏi, “Tôi được biết ông bà Gordon đang định tổ chức một cuộc khai quật chính thức. Anh có biết chuyện này không?”

“Có. Chúng tôi không cần một đám người từ trường Stony Brook hoặc hội Lịch sử Peconic đến đào bới khắp hòn đảo. Nhưng họ cố giải quyết với bộ Nông nghiệp và bộ Nội vụ.” Gã nói thêm, “Bộ Nội vụ có ý kiến cuối cùng về chuyện khảo cổ.”

Tôi hỏi Gibbs, “Đã bao giờ anh có ý nghĩ rằng ông bà Gordon dính líu đến chuyện gì đó chưa? Chẳng hạn như lén mang đồ ra khỏi tòa nhà chính và giấu ở một bãi biển trong cái gọi là một cuộc khai quật khảo cổ, rồi lấy lại sau với chiếc tàu của họ?”

Kenneth Gibbs không đáp.

Tôi gợi ý, “Đã bao giờ anh nghĩ chuyện đi picnic và khảo cổ là cái cớ che đậy cho một điều gì khác?”

“Tôi... nghĩ lại và đoán... này, mọi người đều chỉ trích tôi, nói tôi đáng lẽ phải nghi ngờ điều gì đó. Mọi người quên rằng hai người đó là vàng. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, bằng như ấn mặt ông Zollner vào một đống phân bò. Tôi không cần Monday morning quarterbacking.” Gã nói thêm, “Tôi làm phận sự của tôi.”

Có thể là gã làm. Và một lần nữa, tôi lại nghe tiếng bật trong đầu.

Beth đang nói chuyện với Gibbs, nàng hỏi, “Anh hoặc có ai đó trong số nhân viên ở đây nhìn thấy con tàu của nhà Gordon sau khi tàu rời đảo trưa hôm qua hay không?”

“Không. Tôi đã hỏi rồi.”

“Nói cách khác, anh có thể chắc chắn rằng con tàu không neo bên ngoài đảo vào trưa hôm qua?”

“Không, tôi không thể biết chắc điều đó.”

Max hỏi, “Tàu của các anh có thường xuyên tuần tra quanh đảo không?” Gibbs trả lời, “Chúng tôi thường sử dụng một trong hai chiếc tàu. Một vòng đi quanh đảo dài tám, chín dặm. Với tốc độ mười đến mười hai hải lý sẽ mất khoảng bốn mươi đến sáu mươi phút một vòng, trừ khi họ chặn ai đó lại vì lí do gì đó.”

Beth nói, “Vậy nếu một chiếc tàu nằm cách Đảo Plum khoảng nửa dặm và một người ở trên tàu quan sát bằng ống nhòm thì có thể thấy được chiếc tàu tuần tra của các anh - chiếc Prune, đúng không?”

“Chiếc Prune và chiếc Plum Pudding"

“Đúng, người đó sẽ thấy một trong hai chiếc tàu tuần tra đó, và nếu biết được chu trình đi lại, họ sẽ có bốn mươi tới sáu mươi phút để chạy vào bờ, neo tàu, lên bờ bằng một chiếc xuồng cao su, lấy bất cứ thứ gì rồi trở lại tàu mà không có ai nhìn thấy.”

Gibbs hắng giọng nói, “Có thể, nhưng cô quên mất là có những chiếc trực thăng và xe tuần tra quanh bãi biển. Trực thăng và xe tuần tra bất kì lúc nào.”

Beth gật đầu và nhận xét, “Chúng tôi vừa đi một vòng quanh đảo, và trong gần hai giờ đồng hồ, tôi chỉ nhìn thấy trực thăng của lực lượng bảo vệ bờ biển một lần, xe đưa đón trên đảo một lần và tàu tuần tra đúng một lần.”

“Như tôi đã nói, nó không theo quy luật. Cô định thử một lần chứ?”

“Có thể,” Beth nói. “Tùy thuộc vào mức lương.”

Gibbs thông tin cho chúng tôi, “Có tàu của lực lượng bảo vệ bờ biển chạy bất chợt, và nếu muốn tôi thật cởi mở, tôi xin nói là chúng tôi có các thiết bị điện tử làm hầu hết mọi công việc.”

Tôi hỏi Gibbs, “Vậy máy móc theo dõi ở đâu?” Tôi nhìn quanh căn phòng.

“Dưới tầng ngầm.”

“Các anh có những gì? Máy quay ti vi? Máy cảm biến chuyển động? Máy cảm biến âm thanh?”

“Tôi không được phép nói.”

“Thôi được,” Beth nói. “Hãy viết tên, địa chỉ và số điện thoại của anh. Anh sẽ được yêu cầu đến để thẩm vấn.”

Gibbs dường như khó chịu, nhưng cũng thấy nhẹ nhõm vì đã thoát được gánh nợ. Còn tôi lại cảm thấy rất nghi ngờ rằng Gibbs, Foster và Nash đã quen biết nhau trước vào sáng nay.

Tôi bước tới quan sát mấy thứ đồ trên tường gần những chiếc máy điện đài. Trên đó có một tấm bản đồ lớn của vùng phía đông đảo Long Island, biển Sound và phía nam Connecticut. Trên bản đồ là một loạt các vòng tròn đồng tâm với vùng New London của bang Connecticut ở trung tâm. Trông nó giống như một tấm bản đồ chỉ mức độ phá hủy của bom nguyên tử cho biết bạn bị nướng cháy đến mức độ nào tương quan với khoảng cách từ chỗ bạn đến khu vực số không. Trên tấm bản đồ, Đảo Plum nằm trong vòng tròn cuối cùng, điều tôi đoán vừa là tin tốt, vừa là tin xấu, tùy thuộc vào nội dung của bản đồ là về cái gì. Bản đồ lại không giải thích, nên tôi hỏi Gibbs, “Cái gì đây?”

Gã nhìn theo tay tôi chỉ và nói, “Ồ, có một lò phản ứng hạt nhân ở New London. Các vòng tròn này thể hiện các vùng nguy hiểm khác nhau nếu có một vụ nổ hoặc lõi lò bị chảy tan.”

Tôi nghĩ về sự trớ trêu của một lò hạt nhân ở New London trở thành một mối nguy hiểm đối với Đảo Plum, và chính Đảo Plum lại là mối nguy hiểm đối với mọi người ở New London, tùy thuộc vào hướng gió. Tôi hỏi Kenneth Gibbs, “Anh có nghĩ là những người bên lò phản ứng hạt nhân cũng có một tấm bản đồ thể hiện mối nguy hiểm đối với họ từ một vụ rò rỉ kiểm soát sinh học trên Đảo Plum?”

Dù mặt lạnh, Stevens cũng đã phải cười vì câu hỏi của tôi, dù đó là một nụ cười bí hiểm. Gibbs và Stevens có lẽ đã cùng nhau tập cười kiểu đó. Gibbs nói, “Thật sự là bên chỗ lò hạt nhân người ta cũng có một tấm bản đồ như anh tả.” Gã nói thêm, “Đôi khi tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu có một trận động đất làm rò rỉ kiểm soát sinh học và rò rỉ hạt nhân đồng thời. Liệu các tia phóng xạ có giết chết các vi trùng hay không?” Gã lại mỉm cười. Bí hiểm, bí hiểm. Gã triết lý, “Thế giới hiện đại đầy rẫy những điều kinh hoàng không thể tưởng tượng được.”

Có lẽ đây là câu thần chú của Đảo Plum. Tôi góp ý với tinh thần xây dựng, “Nếu tôi là anh, tôi sẽ chờ gió nam thổi tới và thả vi khuấn bệnh than ra. Phải thịt chúng trước khi chúng thịt anh.”

“Ý kiến hay đấy.”

Tôi hỏi Gibbs, “Phòng của ông Stevens ở đâu?”

“Phòng 250.”

“Cám ơn.”

Điện thoại nội bộ kêu, một giọng phụ nữ phát ra từ loa, “Tiến sĩ Zollner sẽ gặp các vị khách ngay bây giờ.”

Chúng tôi cám ơn Gibbs đã dành thời gian, còn gã cám ơn chúng tôi vì đã đến đây, và cả hai bên đều nói dối. Beth nhắc là sẽ gặp gã tại văn phòng của nàng.

Chúng tôi gặp Donna ở hành lang và chúng tôi cùng đi. Tôi nói với cô, “Những chiếc cửa này đều không có tên hay tước vị gì nhỉ.”

“An ninh.” Cô đáp cụt ngủn.

“Phòng nào là phòng của ông Stevens?”

“Phòng 225.” Cô trả lời.

Một lần nữa chứng tỏ rằng biện pháp an ninh tốt nhất là nói dối. Cô dẫn chúng tôi đến cuối một hành lang và mở cửa phòng số 200.

❀ ❀ ❀

[1] Phòng làm việc của tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng - ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.