Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20

❊ ❊ ❊

Chiếc xe Porsche màu trắng của ông chủ đang nằm trong bãi để xe. Tôi đỗ lại, xuống xe và đi vào xưởng rượu.

Tầng trệt của tòa tháp trung tâm nối với nhiều chái nhà khác nhau. Tôi đi qua khu lễ tân dành cho khách, cầu thang và thang máy đều có biển đề “Dành riêng cho nhân viên.” Thực ra chiếc thang máy mà Tobin đi ra khi tôi gặp gã lần đầu có khóa riêng, vì thế tôi đi bằng cầu thang bộ, thứ dù sao tôi vẫn thích hơn. Cầu thang bộ là một lối thoát hiểm xây băng thép và bê tông trong tòa tháp được ốp bằng gỗ tuyết tùng. Ở mỗi tầng đều có một chiếc cửa sắt, trên cửa có biển đề: “Tầng hai, Kế toán, Nhân sự, Thanh toán”; “Tầng ba, Kinh doanh, Tiếp thị, Vận chuyển”, vv...

Trên tầng bốn, tấm biển ở cửa đề “Văn phòng Điều hành.” Tôi tiếp tục leo lên tầng năm, nơi cũng có một chiếc cửa sắt nhưng không đề biển. Tôi kéo tay nắm, nhưng cửa đã khóa. Tôi nhận ra một chiếc camera theo dõi và máy liên lạc nội bộ.

Tôi quay trở xuống tầng bốn nơi cánh cửa của văn phòng điều hành dẫn vào một nơi tiếp khách. Một chiếc quầy lễ tân tròn đặt ở giữa phòng nhưng không thấy ai đứng đó. Từ phòng tiếp khách bốn chiếc cửa để mở dẫn tới các phòng làm việc có hình chiếc bánh, kiểu thiết kế cho sàn nhà hình tròn. Mỗi phòng làm việc có một cửa sổ to, đẹp phía trong tháp. Chiếc cửa thứ năm đóng kín.

Tôi không thấy có ai ngồi bên những chiếc bàn trong các phòng mở cửa. Lúc này là 1 giờ 30 và tôi đoán là mọi người đang ăn trưa.

Tôi bước vào chỗ lễ tân và quan sát xung quanh. Đồ đạc trông như bằng da thật, màu tím, đương nhiên rồi. Trên tường là những bức tranh bắt chước de Kooning và Pollock - hoặc ảnh các con, cháu của nhân viên làm việc ở đây nước dãi chảy đầy miệng. Một chiếc camera theo dõi đang hướng vào tôi, tôi vẫy tay.

Cánh cửa đóng khi nãy mở ra và một người phụ nữ trạc ba mươi tuổi trông nhanh nhẹn xuất hiện. Cô hỏi tôi, “Tôi giúp gì được ngài không?”

“Xin nói với ông Tobin là có ông Corey ở đây cần gặp ông ấy.”

“Ngài có hẹn trước không, thưa ngài?”

“Tôi có hẹn không cố định giờ với ông ấy.”

“Ông Tobin sắp đi ăn trua. Thật ra, ông ấy đang bị muộn.”

“Thế thì tôi sẽ lái xe cho ông ấy. Xin cứ nói là tôi ở đây.” Tôi ghét phải chìa phù hiệu trong phòng làm việc của một ai đó trừ khi tôi đến để giúp họ hoặc để tra tay gã nào đó vào còng. Đó là chỗ mà đôi khi người cần gặp sẽ giận tím mặt nếu ta dọa các nhân viên trong phòng bằng tấm phù hiệu và xông thẳng vào. Tôi nói với cô gái, “Nói với ông ấy tôi có việc quan trọng.”

Cô gái trở lại phòng, gõ cửa, đi vào trong và đóng cửa lại. Tôi chờ đến quá một phút, điều thực sự là kiên nhẫn đối với tôi, rồi đi vào. Tobin và cô gái kia đang đứng bên cạnh bàn của gã nói chuyện. Gã xoa xoa bộ râu ngắn của mình, trông có vẻ một con người hiểm ác. Gã mặc áo khoác màu đỏ tía, quần đen và áo sơ mi hồng. Gã quay về phía tôi, nhưng không đáp lại nụ cười thân thiện của tôi.

Tôi nói, “Xin lỗi vì tự tiện xông vào như thế này, thưa ngài Tobin, nhưng tôi đang bị sức ép về thời gian, và tôi biết là ngài sẽ không chấp.”

Gã bảo cô gái đi chỗ khác, còn gã vẫn đứng đó. Gã đúng là một quý ông thực sự, thậm chí còn không để lộ nét tức giận nào trên mặt. Gã nói, “Đây là một điều hân hạnh không được báo trước.”

Tôi thích cách thể hiện như thế. Tôi đáp, “Với tôi cũng vậy. Ý tôi là, tôi tưởng sẽ không gặp lại ngài cho đến bữa tiệc, thế rồi đột nhiên, tên của ngài xuất hiện.”

“Tại sao lại xuất hiện?”

Khi tôi xơi cô bạn gái cũ của ông đấy. Thực ra thì tôi đáp lại lịch sự hơn thế này, “Khi tôi đang nói chuyện với một người về vụ án, ông biết đấy, về Tom và Judy, về tình yêu của họ với rượu vang và họ vui như thế nào vì quen biết với ngài. Tuy nhiên, người này vô tình nói rằng cô ây có biết ông và biết cả Tom và Judy. Tên của ngài xuất hiện là như thế.”

Gã không cắn câu mà đáp lại, “Và đó là lý do anh tới đây?”

“Ồ, không.” Tôi không nói thêm mà để lửng ở đó. Gã vẫn đang đứng, lưng quay về phía cửa sổ. Tôi đi quanh chiếc bàn và nhìn ra cửa sổ. “Cảnh đẹp thật.”

“Cảnh đẹp nhất ở North Fork đấy, trừ khi anh sống trong một ngọn hải đăng.”

“Đúng vậy.” Cửa sổ quay về phía bắc, qua những vườn nho của gã. Một vài trang trại và vườn cây ăn quả trong cánh đồng nho của gã trông giống như những miếng vải can trang trí thật đẹp. Ở phía xa, đất trồi lên nơi những gò băng, và từ độ cao này, tôi có thể nhìn qua những gò đất đó tới biển Sound. Tôi nói, “Ngài có ống nhòm không?”

Gã ngập ngừng rồi tới một chiếc bàn máy tính tìm cho tôi chiếc ống nhòm.

“Cám ơn ngài.” Tôi chỉnh ống nhòm quan sát vùng biển Sound và nói, “Tôi có thể thấy bờ biển Connecticut.”

“Vâng.”

Tôi quay sang bên trái và hướng về phía quả gò mà tôi nghĩ là của Tom và Judy. Tôi nói với Tobin, “Tôi vừa mới biết rằng vợ chồng Gordon có mua một mẫu đất ở ngoài kia. Ngài có biết chuyện ấy không?”

“Không.”

Đó không phải là điều Emma nói với tôi, Fredric ạ. Tôi nói, “Họ có thể đã sử dụng phần nào tư duy nghề nghiệp của họ. Hai vợ chồng bỏ ra hai mươi lăm nghìn đô la để mua một miếng đất không xây dựng được.”

“Họ đáng lẽ phải biết là quyền xây dựng đã được bán cho nhà nước hay chưa.”

Tôi đặt ống nhòm xuống và nói, “Tôi chưa nói gì về việc quyền xây dựng được bán cho nhà nước. Tôi chỉ nói là họ không xây dựng được trên mảnh đất đó. Đó có thể là do vị trí đất, không nước giếng, không có điện, hoặc do điều gì đó. Vậy tại sao ngài lại nghĩ quyền xây dựng đã được bán cho nhà nước trên mảnh đất đó?”

Gã đáp, “Thật ra tôi có thể đã nghe về chuyện này.”

“Ồ. Thế là ngài thực sự có biết họ đã mua một mảnh đất.”

“Tôi nghĩ là có ai đó đã nhắc tới chuyện này với tôi. Tôi không biết mảnh đất đó ở đâu. Chỉ nghe là nó không được quyền xây dựng.”

“Đúng.” Tôi quay lại phía cửa sổ và hướng ống nhòm trở lại phía những gò đất. Ở phía tây, mặt đất cao đột ngột hụt xuống nơi lạch Mattituck chảy qua, và tôi thấy được nơi có tên là những cái cây của thuyền trưởng Kiddđất của thuyền trưởng Kidd. Xa hơn phía bên phải, tôi có thể nhìn thấy rõ Greenport, thấy được hình của Orient Point và Đảo Plum. Tôi nói, “Ở đây còn tốt hơn khu quan sát trong tòa nhà Empire State Building ở thành phố New York. Không cao bằng, nhưng”

“Tôi có thể giúp gì được anh không, Corey?”

Tôi phớt lờ câu hỏi và nói, “Ngài biết đấy, ngài ở đỉnh cao của thế giới. Ý tôi là, hãy nhìn vào tất cả những thứ này. Bốn trăm mẫu đất, một ngôi nhà bên bờ biển, một nhà hàng, một chiếc xe Porsche, và ai mà biết còn những gì khác nữa. Ngài ngồi đây trên một tòa tháp năm tầng - à này, trên tầng năm có gì đấy?”

“Đó là phòng riêng của tôi.”

“Chà. Các quý cô có thích nó không?”

Gã không đáp lại câu hỏi mà nói, “Tôi đã nói chuyện với luật sư của tôi sau khi gặp anh ngày hôm qua.”

“Thật không?”

“Ông ấy khuyên tôi không nên nói chuyện với cảnh sát mà không có luật sư.”

“Đó là quyền của ngài. Tôi cũng đã nói rồi mà.”

“Luật sư của tôi tìm hiểu thêm thì được biết hóa ra anh không còn được cảnh sát trưởng Maxwell thuê làm cố vấn trong vụ này, và anh cũng không được cảnh sát thị trấn thuê làm việc khi anh nói chuyện với tôi.”

“Được, giờ thì đó là một điểm có thể bàn cãi.”

“Bàn cãi được hay không thì anh cũng không còn có địa vị chính thức gì ở đây nữa.”

“Đúng thế. Và vì tôi không còn là cảnh sát nên ngài có thể nói chuyện với tôi. Điều này có lợi đấy.”

Fredric Tobin phớt lờ và nói, “Luật sư của tôi đã hứa hợp tác với cảnh sát thị trấn, cho tới khi ông ấy phát hiện ra rằng cảnh sát trưởng Maxwell không cần đến hoặc không muốn sự hợp tác của ông ấy. Cảnh sát trưởng Maxwell khó chịu với việc anh đến đây và tra hỏi tôi. Anh đã làm tôi và anh ấy khó xử.” Tobin nói thêm, “Tôi là người đóng góp hào phóng cho các chính trị gia quan trọng ở đây, và tôi cũng đã rất hào phóng dành thời gian và tiền bạc để tu sửa các di tích lịch sử, tài trợ cho những người chép sử, đóng góp cho bệnh viện và các khoản từ thiện có giá trị khác, trong đó có Hiệp hội từ thiện cảnh sát. Thế đã đủ rõ về tôi chưa?”

“Ồ, hoàn toàn rõ. Từ khoảng mười câu trước rồi. Tôi chỉ đến đây xem có thể đưa ngài đi ăn trưa hay không?”

“Tôi đã có hẹn bữa trưa, cám ơn anh.”

“Được, có lẽ để lúc khác.”

Gã nhìn đồng hồ và nói, “Tôi quả thật là phải đi bây giờ.”

“Không sao. Tôi sẽ đi xuống tầng dưới cùng ngài.”

Gã hít một hơi thở sâu và gật đầu.

Chúng tôi rời phòng làm việc của Tobin và đi ra chỗ lễ tân. Gã nói với người lễ tân, “Ông Corey và tôi đã bàn xong chuyện, anh ấy không cần phải quay lại đây nữa.”

Ái chà, nói chuyện lịch sự đi chứ. Thằng cha này có thể dúi quả ớt bôi dầu vào người bạn, và bạn thậm chí còn không biết gì trong mấy ngày.

Tobin cắm chìa khóa vào ổ khóa thang máy và chiếc thang xuất hiện chỉ trong giây lát. Chúng tôi vào bên trong và đi xuống. Để phá vỡ sự im lặng khó xử, tôi nói, “Ngài biết chai Merlot mà tôi mua chứ? Nó thật là được việc. Chuyện này quả là ngu ngốc, có thể là buồn cười, nhưng tôi không nghĩ là ngài sẽ thấy nó buồn cười - tôi phải dùng nó để rửa phân chim trên kính xe của tôi.”

“Cái gì cơ?”

Thang máy mở cửa và chúng tôi bước ra. Tôi nói, “Một con mòng biển thả bom xuống kính xe của tôi.” Tôi giải thích. Gã liếc nhìn đồng hồ lần nữa. Tôi kết luận, “Nửa mà tôi uống thật là tuyệt. Không quá bốc.”

Gã nói, “Đó là sự phung phí quá đáng rượu vang nho.”

“Tôi biết ngài sẽ nói như vậy.”

Gã đi qua chiếc cửa nối với khu lễ tân dành cho khách và tôi đi cùng gã.

Ra đến bãi đỗ xe, tôi nói, “À này, cái cô mà làm tôi nghĩ tới ngài ấy - nhớ không?”

“Nhớ.”

“Cô ấy bảo cô ấy là bạn của ngài. Nhưng có rất nhiều người nhận là bạn ngài, giống như vợ chồng Gordon ấy, mà thực ra họ chỉ là những người quen biết muốn được thơm lây với ngài.”

Gã không đáp. Khó mà nhử được gã địa chủ này cắn câu. Tobin sẽ không để mất tỉnh táo.

Tôi nói, “Dù sao cô ấy cũng nói cô ấy là bạn ngài. Ông biết Emma Whitestone chứ?”

Gã như bước hụt chân một chút, rồi lại tiếp tục đi và dừng lại bên chiếc xe của mình. Gã nói, “Có, cô ấy là bạn gái của tôi khoảng một năm trước.”

“Và giờ hai người vẫn là bạn?”

“Tại sao không?”

“Tất cả những cô cũ của tôi đều muốn giết tôi.”

“Tôi không thể tưởng tượng được tại sao?”

Tôi cười thầm vì chuyện này. Rất kì lạ là tôi dường như vẫn thích gã, mặc dù tôi nghi ngờ gã đã giết hai người bạn của tôi. Đừng hiểu sai về tôi - nếu gã thực sự đã làm điều đó, tôi sẽ làm mọi cách để được xem gã ngồi trên ghế điện, hay bất kì hình thức nào mà bang này sử dụng để kết liễu cuộc đời của kẻ giết người bị lên án đầu tiên. Còn lúc này, nếu gã lịch sự, tôi cũng sẽ lịch sự.

Một điều kì lạ khác là kể từ sau lần nói chuyện với nhau trước, giữa chúng tôi đã có điều gì đó chung. Cả hai chúng tôi đã đến nơi mà rất ít người đã từng đến... vâng, có thể không chỉ là vài ngày. Tôi dường như muốn vỗ lưng gã và nói, “Này, Freddie, với ông nó có được như với tôi không nhỉ?” hay một câu gì đó như thế. Nhưng đàn ông không hôn nhau và nói như vậy.

Fredric Tobin nói, “Anh Corey, tôi cảm giác như anh nghĩ là tôi biết nhiều hơn những gì tôi nói với anh về vợ chồng Gordon thì phải. Tôi khẳng định với anh là tôi chỉ biết có vậy. Tuy nhiên, nếu cảnh sát quận hoặc cảnh sát thị trấn muốn lấy lời khai của tôi, tôi sẽ vui vẻ tuân theo. Trong khi đó, anh được chào đón ở đây với tư cách là khách hàng, và anh được chào đón tới nhà tôi với tư cách là khách mời. Anh không nên đến văn phòng của tôi và không nên thẩm vấn tôi thêm một điều gì nữa.”

“Nghe có lí đấy.”

“Chúc một ngày tốt lành.”

“Chúc bữa trưa ngon miệng.”

Gã lên chiếc xe Porsche và dông thẳng.

Tôi nhìn lại tòa tháp nơi có lá cờ Tobin màu đen treo bên trên. Nếu Tobin có giấu một vật chứng gì đó, nơi giấu có thể sẽ là nhà của gã ở cạnh bờ biển hoặc có thể là căn phòng riêng của gã ở trên tầng cao nhất của tòa tháp. Rõ ràng một cuộc lục soát với sự đồng ý của gã là điều không tưởng, và cũng không có vị thẩm phán nào sẽ chịu ký lệnh khám, vì thế có vẻ như tôi sẽ phải tự cấp cho mình một lệnh khám nửa đêm.

Tôi trở lại chiếc xe Jeep của mình và tiếp tục trên đường. Tôi gọi về chiếc máy trả lời tự động và nhận được hai tin nhắn. Tin nhắn đầu tiên là của một gã chết tiệt thô lỗ nào đó không xưng tên từ Đội kiểm soát vắng mặt của sở cảnh sát New York bảo tôi rằng cuộc kiểm tra sức khỏe sẽ chuyển lên thứ ba tới và đòi tôi phải trả lời xác nhận tin nhắn. Cứ khi nào các ông chủ không quản được bạn là lại nhờ phòng nhân sự hoặc nơi phát lương hay đội y tế gọi cho bạn về điều gì đó mà bạn phải hồi đáp. Tôi ghét cái kiểu lén lút như thế.

Tin nhắn tiếp theo là của người cộng sự cũ của tôi, Beth Penrose. Nàng nói, “Chào, John. Xin lỗi vì không gọi cho anh sớm hơn được, nhưng ở đây đang điên cả rồi. Em biết là anh không còn chính thức tham gia vụ này, nhưng em có mấy điều muốn trao đổi với anh. Em đến chiều mai được không? Gọi cho em hoặc là em sẽ gọi cho anh, chúng ta sẽ hẹn thời gian và địa điểm. Bảo trọng nhé.”

Thế đấy. Giọng nàng thân mật, nhưng không được thân mật như lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện trực tiếp với nhau. Đó là chưa kể nụ hôn lên má. Tôi cho rằng cũng không nên tỏ ra quá vồn vã trên một chiếc máy trả lời tự động. Hơn nữa, bất kì sức nóng nào hình thành trong hai ngày căng thẳng kia cũng sẽ đương nhiên phải nguội đi khi nàng trở lại với công việc của nàng và thế giới của nàng. Điều đó thường xảy ra.

Giờ nàng muốn trao đổi với tôi một vài điều, có nghĩa là nàng muốn biết tôi đã khám phá được gì, nếu có. Đối với Beth Penrose, tôi đã trở thành chỉ là một nhân chứng. Có thể là tôi đang hoài nghi. Nhưng có lẽ tôi phải gạt Beth Penrose ra khỏi đầu tôi để dành chỗ cho Emma Whitestone. Tôi chưa bao giờ giỏi trong chuyện cân bằng nhiều mối quan hệ một lúc. Nó còn khó hơn phải điều tra cả chục vụ án mạng cùng một thời điểm, và nó còn nguy hiểm hơn nhiều.

Dù sao, tôi cũng cần một món quà cho Emma, và tôi thấy một cửa hàng đồ cổ trên đường Main Road. Tuyệt. Tôi đỗ lại và xuống xe. Điều tuyệt vời ở nước Mỹ là số đồ cổ được bày bán còn nhiều hơn cả số lượng làm ra ban đầu.

Tôi tìm kiếm xung quanh bên trong nơi ẩm mốc đó và bà chủ, một bà già nhỏ bé hiền lành, hỏi tôi muốn mua gì.

“Cháu muốn mua quà cho một cô gái.”

“Vợ à? Hay là con gái.”

Một người mà tôi không biết nhiều nhưng đã lên giường cùng. “Một người bạn.”

“À.” Bà đưa tôi xem một vài thứ, nhưng tôi hoàn toàn mù tịt về đồ cổ. Thế là tôi nảy ra một ý sáng suốt và hỏi bà già, “Bác có phải là thành viên của hội Lịch sử Peconic không?”

“Không, nhưng tôi tham gia hội Lịch sử Southold.”

Chúa ơi, quanh đây có đủ các loại hội hè kiểu như thế. Tôi hỏi, “Bác có biết cô Emma Whitestone không?”

“Có chứ. Một cô gái rất tuyệt.”

“Đúng đấy ạ. Cháu đang tìm mua đồ cho cô ấy.”

“Hay quá. Có dịp gì thế?”

Tỏ lòng yêu mến và cám ơn phải có sau khi làm tình. “Cô ấy giúp cháu nghiên cứu tư liệu.”

“Ồ, con bé giỏi môn ấy lắm. Anh nghiên cứu thứ gì vậy?”

“Ồ... chuyện này thật ngớ ngẩn, nhưng từ khi còn nhỏ, cháu đã bị lôi cuốn về chuyện cướp biển.”

Bà già cười, có lẽ là khúc khích. Bà nói, “Thuyền trưởng Kidd nổi tiếng từng tới thăm bờ biển của ta.”

“Thật hả?”

“Có rất nhiều cướp biển đã qua đây trước thời Cách mạng. Họ cướp bóc của người Pháp và Tây Ban Nha ở biển Caribbean, sau đó đi về hướng bắc để tiêu xài những đồ cướp được và sửa sang lại tàu thuyền. Một số ở hẳn trong những khu vực này.” Bà mỉm cười nói tiếp, “Với số vàng và đồ trang sức đó, họ nhanh chóng trở thành những công dân hàng đầu.” Bà nói thêm, “Nhiều thứ đồ ở đây được tìm thấy trong số hàng mà hải tặc cướp được.”

Tôi có lẽ thích cách nói theo kiểu cổ của bà già. Tôi nhận xét, “Nhiều thứ tài sản thời nay cũng có bàn tay của kẻ cướp phía sau.”

“Tôi không biết chuyện đó, nhưng tôi biết những kẻ buôn lậu ma túy ngày nay cũng giống như cướp biển ngày xưa.” Bà nói thêm, “Ngày tôi còn bé thì có buôn lậu rượu rum. Ở đây chúng tôi là những người luôn tuân thủ luật pháp, nhưng nơi này lại nằm trên các tuyến đường vận chuyển biển.”

“Đó là chưa kể Đường bay bờ biển Đại Tây Dương.”

“Đó là của loài chim.”

“Đúng rồi.”

Nói chuyện phiếm thêm một chút, tôi tự giới thiệu mình là John, còn bà già tự giới thiệu mình là Simmons. Tôi hỏi bà, “Hội Lịch sử Southold có thông tin gì về cướp biển không.”

“Chúng tôi có, nhưng không nhiều lắm. Có một số tài liệu và thư từ gốc trong phòng lưu trữ. Thậm chí còn có một tờ yết thị treo thưởng trong bảo tàng nhỏ của chúng tôi.”

“Thế bác có tấm bản đồ thật về kho báu của cướp biển nào không để cho cháu phô tô với?”

Bà mỉm cười.

Tôi hỏi, “Bác có biết Fredric Tobin không?”

“Ồ, ai mà không biết. Giàu như Croesus ấy.”

Ai? Tôi hỏi, “Ông ấy có tham gia hội Lịch sử Southold không? ông Tobin ấy, không phải Croesus.”

“Không, nhưng Tobin là người đóng góp hào phóng.”

“Ông ấy có đến thăm phòng tư liệu của hội không?”

“Tôi được biết là có. Dù không phải trong năm ngoái hay khoảng thời gian đó.”

Tôi gật đầu. Tôi phải tự nhắc mình rằng đây không phải là Manhattan, rằng đây là một cộng đồng hai mươi nghìn người, rằng dù không hẳn là tất cả mọi người đều biết nhau, nhưng ai cũng có quen biết với một người nào đó có quen biết với một người khác. Đối với một điều tra viên, điều này giống như bước đi trên đống mỏ quặng ngập đến đầu gối.

Dù sao thì ít nhất một trong các cuộc tìm kiếm của tôi đã kết thúc, tôi hỏi bà Simmons, “Theo bác thì cháu nên mua gì cho cô Whitestone?”

“Anh định mua tầm giá bao nhiêu?”

“Không có gì là quá đối với Whitestone. Năm mươi đô la.”

“Ồ... để xem...”

“Một trăm.”

Bà mỉm cười và lấy một chiếc chậu sứ có quai xách lớn, trang trí bằng những hình vẽ hoa hồng. Bà nói, “Emma sưu tập thứ này.”

“Chậu sứ ư?”

“Đúng. Cô ấy dùng chậu sứ để trồng cây. Cô ấy có bộ sưu tập khá nhiều đấy.”

“Bác chắc không?”

“Tất nhiên rồi. Tôi đã giữ cái này từ lâu để cho cô ấy xem. Nó ở cuối thời Victoria. Làm ở Anh.”

“Được rồi... Cháu lấy cái này.”

“Quả thật là giá có hơn một trăm đô la một chút.”

“Một chút là bao nhiêu?”

“Hai trăm.”

“Nó đã được dùng bao giờ chưa?”

“Tôi đoán là rồi.”

“Bác có nhận thanh toán bằng thẻ Visa không?”

“Tất nhiên là có.”

“Bác gói cho cháu được không?”

“Tôi sẽ để trong một cái túi quà thật đẹp.”

“Bác gắn cho cháu một cái nơ vào quai được không?”

“Nếu anh thích.”

Mua bán xong xuôi, tôi rời cửa hàng đồ cổ với chiếc bô có tô vẽ để trong một chiếc túi quà đẹp màu hồng và xanh.

Tôi tới thư viện miễn phí Cutchogue, thành lập từ năm 1841 và lương nhân viên không thay đổi từ đó đến nay. Thư viện nằm ở rìa bãi cỏ chung của làng. Đó là một tòa nhà gỗ có tháp chuông, có vẻ như đã từng là nhà thờ.

Tôi đỗ xe và đi vào trong. Một bà già mặt khó đăm đăm ngồi ở chiếc bàn phía trước soi tôi qua cặp kính để trễ. Tôi mỉm cười và đi lướt qua thật nhanh.

Trên lối vào chỗ các giá sách có một tấm biểu ngữ đề: “Tìm thấy kho báu bị chôn vùi - Hãy đọc sách. Một lời khuyên tuyệt vời.

Tôi tìm được danh mục sách, ơn Chúa, nó không bị đưa vào máy tính, và mười phút sau, tôi đã ngồi trong một góc đọc với cuốn sách tra cứu đặt trước mặt có tựa đề: Kho báu bị chôn vùi.

Tôi đọc về một người có tên là John Shelby ở Thackham, Anh. Năm 1672, ông này bị ngã từ trên lưng ngựa xuống một bụi cây và phát hiện trong đó có một chiếc hũ bằng sắt bên trong đựng hơn năm trăm đồng tiền vàng. Theo luật về tài sản phát hiện được của Anh, tất cả mọi tài sản được mang giấu hoặc bị mất đều thuộc về nhà vua. Tuy nhiên, Shelby từ chối trao lại số vàng cho các viên quan của vua nên đã bị bắt và xử trảm vì tội mưu phản. Đây có lẽ là câu chuyện được ưa thích của cơ quan Thuế vụ Nội địa.

Tôi đọc về luật tài sản phát hiện được của Mỹ và của nhiều bang khác nhau, về cơ bản, tất cả đều nói rằng, “Tìm được thì giữ, để mất thì phải chịu.”

Tuy nhiên, có một thứ gọi là đạo luật Bảo tồn di vật cổ của Mỹ, trong đó qui định khá rõ rằng bất cứ thứ gì tìm được trên đất đai của liên bang đều thuộc quyền tài phán của một trong các bộ trưởng Nông nghiệp, Quốc phòng hoặc Nội vụ, tùy theo tính chất của mảnh đất nơi tìm ra. Ngoài ra, phải có giấy phép nếu muốn đào bới trên đất đai của liên bang và bất cứ thứ gì tìm được đều thuộc về Chú Sam. Hời thật.

Tuy nhiên, nếu tìm được tiền, vật có giá trị hay bất cứ kho báu thuộc loại nào trên đất đai của riêng mình, hầu hết sẽ thuộc về bạn, chỉ cần bạn chứng minh được rằng người chủ ban đầu đã chết, vàhoặc người thừa kế của họ không xác định được, và rằng tài sản đó không phải là do ăn cắp. Và ngay cả khi đó là đồ ăn cắp, bạn vẫn có thể sở hữu nó nếu chủ sở hữu hợp pháp được biết là đã chết hoặc không xác định được, hoặc họ là kẻ thù của quốc gia tại thời điểm tiền, hàng hoặc kho báu đó có được. Ví dụ đưa ra là kho báu của cướp biển, đồ cướp bóc, đồ tặng thưởng, vv... Đến đây là tốt rồi.

Và để cho người đã may mắn còn được may mắn hơn, cơ quan Thuế vụ Nội địa IRS, với sự tham lam không thể tưởng tượng được, còn yêu cầu rằng bạn chỉ phải đóng thuế đối với phần bạn bán đi hoặc chuyển thành tiền mặt trong mỗi năm, với điều kiện bạn không phải là người đi săn kho báu chuyên nghiệp. Vì thế, nếu giả sử bạn là nhà sinh vật học, bạn sở hữu một mảnh đất và tìm thấy một khu báu chôn giấu trên đó vì tình cờ hoặc do sở thích khảo cổ của bạn, và kho báu có giá trị mười hay hai mươi triệu đô la gì đó, bạn sẽ không phải đóng một xu tiền thuế nào cho đến khi bán đi phần nào. Một khế ước thật ngọt ngào. Nó suýt làm tôi có ý muốn có sở thích săn tìm kho báu. Nghĩ lại, chẳng phải đây là việc tôi đang làm hay sao.

Cuốn sách cũng nói rằng nếu kho báu có giá trị về lịch sử hoặc có liên quan đến văn hóa đại chúng - và này, lạ chưa, cuốn sách lấy thí dụ đích danh kho báu bị mất của thuyền trưởng Kidd - thì giá trị của kho báu sẽ tăng lên gấp bội.

Tôi đọc thêm một lúc nữa, tìm hiểu về những quy định pháp luật đối với tài sản phát hiện được, một số thí dụ thú vị và những trường hợp cụ thể đã có trong lịch sử. Một trường hợp điển hình làm tôi chú ý - trong thập kỷ 1950, một người đàn ông lục tìm trong những đống giấy tờ cũ trong phòng Hải quân của cơ quan Tư liệu công cộng ở London và tìm thấy một lá thư chữ đã mờ viết từ năm 1750 của một tên cướp biển nổi tiếng tên là Charles Wilson, đề địa chỉ gửi cho người em trai. Bức thư ban đầu được tìm thấy trên một chiếc tàu cướp biển mà hải quân Anh bắt được. Bức thư viết, “Em trai, có ba lạch nước nhỏ nằm cách khoảng hơn một trăm bước chân về phía bắc của con vịnh thứ hai qua Đảo Chincoteague, Virginia, bên đầu phía bắc của bán đảo. Ở đầu lạch thứ ba về phía bắc có một gò cao giáp với Đại Tây Dương, trên đó có ba cây tuyết tùng, mỗi cây cách nhau gần mét rưỡi. Ở giữa mấy cái cây này anh chôn mười chiếc thùng sắt, bạc thỏi, vàng, kim cương và đồ trang sức tổng giá trị 200.000 bảng. Em bí mật đến gò và lấy kho báu về.”

Đương nhiên bức thư này không đến được tay em trai của Charles Wilson vì nó đã bị hải quân Anh bắt giữ. Vậy thì ai đã tìm thấy kho báu? Hải quân Anh? Hay là người đàn ông đã tìm thấy bức thư trong cơ quan Tư liệu công cộng hai trăm năm sau đó. Tác giả của cuốn sách Kho báu bị chôn vùi đã không đi hết câu chuyện.

Vấn đề là ở chỗ, có một nơi được gọi là phòng Hải quân trong cơ quan Tư liệu công cộng ở London, và Chúa mới biết ta có thể tìm được gì ở đó nếu có thời gian, lòng kiên nhẫn, một chiếc kính lúp, một chút kiến thức về tiếng Anh cổ, một chút lòng tham, tinh thần lạc quan và máu phiêu lưu. Vậy là tôi đã hiểu về một tuần của vợ chồng Gordon ở London năm ngoái.

Tôi phải giả định rằng vợ chồng Gordon đã đọc thứ mà tôi đang đọc lúc này và hiểu luật về tài sản phát hiện được. Ngoài ra, chỉ cần một bộ óc bình thường cũng biết rằng bất cứ thứ gì họ tìm được trên Đảo Plum đều thuộc về chính phủ - không có chuyện ăn chia năm mươi-năm mươi hay một chút gì - và bất cứ thứ gì mà họ công bố là tìm được trên phần đất đi thuê của họ sẽ thuộc về chủ chính, không phải là người đi thuê. Không cần phải là người có bằng luật mới hiểu được điều này.

Có lẽ trong đầu Tom và Judy đã nghĩ rằng giải pháp dễ dàng cho chuyện sở hữu là ngậm miệng lại nếu tìm thấy bất cứ thứ gì trên Đảo Plum. Nhưng có lẽ vào một thời điểm nào đó, họ nhận ra rằng cách làm tốt nhất - và có lợi nhất về lâu dài - là chuyển vị trí khám phá ra, công bố việc phát hiện, trưng ra trước thiên hạ, đóng thuế cho phần bán đi mỗi năm và đi vào lịch sử với tư cách là hai vị tiến sỹ trẻ đẹp đã tìm thấy kho báu bị mất của thuyền trưởng Kidd và trở thành trọc phú. Đây là điều mà bất cứ người nào sáng suốt và có tu duy lôgic sẽ làm. Nếu là tôi, tôi cũng làm.

Nhưng vẫn còn một vài rắc rối. Điều đầu tiên là họ phải đưa được cái mà họ tìm được trên Đảo Plum ra khỏi đảo. Thứ hai là phải chôn lại kho báu như thế nào để cho việc phát hiện lại không những chỉ hợp lý mà còn phải thuyết phục được trước các nghiên cứu khoa học. Câu trả lời là những gò đất ven biển bị xói lở.

Tất cả đều hợp lý với tôi. Tom và Judy cũng nghĩ như vậy, nhưng ở một thời điểm nào đó trong cả quá trình thực hiện, họ đã nói ra hoặc làm điều gì đó để vì thế mà bị giết.

Fredric Tobin đã nói dối tôi về một vài điểm, về mối quan hệ của gã với vợ chồng Gordon. Việc này có thể dẫn đến nhiều cách giải thích khác nhau. Ngoài ra, Tobin còn đang trong lúc túng quẫn hoặc sắp phải như vậy. Đối với một điều tra viên án mạng, điều này giống như một chớp đỏ lóe sáng, một tiếng chuông báo động.

Tobin không chỉ kết bạn với vợ chồng Gordon, gã còn quyến rũ - hay ít nhất là ve vãn - Emma Whitestone, một người hiểu biết về lịch sử, một chuyên gia về tư liệu. Tất cả dường như đều hợp lý. Có lẽ chính Tobin là người đã vô tình biết được khả năng có kho báu được chôn trên Đảo Plum. Và có lẽ chính Tobin đã chi tiền cho vợ chồng Gordon trong một tuần ở Anh để nghiên cứu chuyện này và có thể là để xác định chính xác điểm chôn giấu.

Fredric Tobin là nghi phạm chính đối với tôi, nhưng tôi không loại trừ khả năng về Paul Stevens hoặc một người nào đó trên Đảo Plum. Tôi chỉ biết rằng đây là một âm mưu lớn hơn tôi nghĩ ban đầu, nó có thể dính đến cả Stevens, Zollner và những người khác trên đảo, cộng cả Tobin, cộng cả... vâng, Emma Whitestone.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.