Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31

❊ ❊ ❊

Mưa nặng hạt. Gió rít như một đoàn tàu chở hàng.

Tôi tìm được hai tấm áo choàng không tay màu vàng trong tủ quần áo và lấy khẩu .38 ra nhét vào bao súng đeo vai. Việc tiếp theo là phải ra khỏi được đường xe trong khuôn viên nhà vì nó đầy những cành cây và mảnh vỡ. Tôi khởi động chiếc xe Jeep, rồ ga và phóng qua những cành cây rơi trên mặt đất. Tôi nói với Beth, “ Gầm cách mặt đất ba mươi lăm phân, chạy bốn bánh.”

“Có nổi được không đấy?”

“Sẽ biết thôi.”

Tôi chạy dọc theo những con đường hẹp gần bờ biển của Mattituck, chèn qua những cành cây rơi xuống đường và nắp thùng rác bị nước cuốn đi. Được một đoạn thì gặp cây to đổ chắn ngang đường. Tôi nói, “Từ hồi còn bé đến giờ anh chưa bao giờ ở nông thôn trong thời gian có bão.”

Beth cho tôi biết, “Đây chưa phải là bão, John.”

Tôi cho xe chạy vòng lên bãi cỏ nhà bên cạnh đường để tránh cái cây đổ và bảo, “Anh thấy nó như là bão.”

“Tốc độ gió phải lên tới sáu mươi nhăm hải lý mới là bão. Bây giờ thì vẫn chỉ là áp thấp nhiệt đới.”

Nàng bật đài dò kênh thời sự, và y như rằng, tin nóng nhất là về cơn bão Jasper. Phát thanh viên nói, “ ... đang đi theo hướng bắc - đông bắc, tốc độ gió lên tới sáu mươi hải lý một giờ, tương đương với bảy mươi dặm. Bão di chuyến với tốc độ mười lăm dặm mỗi giờ, và nếu giữ nguyên hướng như hiện nay, bão sẽ đổ bộ vào phía bắc của đảo Long Island khoảng tám giờ tối nay. Những cảnh báo với tàu thuyền nhỏ được phát đi ở đại dương và vùng biển Sound. Mọi người không nên đi khỏi nhà và Tôi tắt đài. “Chỉ dọa nhau.”

Beth nói, “Nhà em ở khá sâu trong đất liền, nếu sau đây anh có muốn ghé qua. Từ đó đến Manhattan chưa đầy hai tiếng chạy xe hoặc đi tàu. Anh có thể đi sau khi bão ngớt.”

“Cám ơn em.”

Chúng tôi đi trong im lặng một lúc lâu. Cuối cùng ra đến đường Main Road, không có chướng ngại trên đường nhưng lại ngập nước. Không có nhiều xe cộ đi lại, hầu hết các cửa hàng cửa hiệu đã đóng cửa, một số còn lấy ván gỗ ốp lên cửa. Tôi thấy một căn nhà trên trang trại để không đã bị sập, một cây cột điện đổ nằm ngang, kéo theo cả đường dây điện lẫn điện thoại. Tôi nói, “Anh không nghĩ thời tiết này có lợi cho cây nho.”

“Chẳng tốt cho cái gì hết.”

Hai mươi phút sau, tôi đánh xe vào bãi đỗ trải sỏi của xưởng rượu Tobin. Không có chiếc xe nào trong bãi, chỉ có một tấm biển đề, “Đóng cửa.”

Tôi nhìn lên ngọn tháp và không thấy ô cửa sổ nào có ánh đèn, dù trời đã gần như tối đen.

Hai bên bãi đỗ xe là những vườn nho. Những cây nho bám trên cọc đang bị quăng quật bởi những cơn gió cuồng bạo. Nếu cơn bão mạnh thêm thì có lẽ vụ nho sẽ mất trắng. Tôi nhớ đến bài học nhỏ của Tobin về tác động điều hòa của khí hậu biển - bài học khá đúng cho tới khi ta nằm trên đường đi của một cơn bão. “Jasper.”

“Đó là tên gọi của cơn bão.” Nàng nhìn quanh bãi đỗ xe và xưởng rượu rồi nói, “Em không nghĩ hắn có ở đây. Em không thấy có cái xe nào, nhà cửa thì tối om. Ta thử đến nhà hắn xem sao.”

“Cứ vào văn phòng của hắn trước đã.”

“John, chỗ này đóng cửa rồi.”

“Đóng cửa chỉ là một khái niệm tương đối.”

“Không, không phải thế.”

Tôi lái xe về phía xưởng rượu, quặt mạnh sang bên phải ra khỏi bãi đỗ đến một quãng có cỏ mọc giữa xưởng rượu và vườn nho. Tôi rẽ vào phía sau tòa nhà lớn nơi mấy chiếc xe tải nằm những giữa những chiếc thùng rượu rỗng chất thành đống.

“Anh định làm gì thế?” Beth hỏi.

Tôi cho xe chạy lên tới cửa sau của chân tháp. “Xem nó có mở không.”

Beth nhìn tôi và định nói gì đó.

“Em xem nó có mở không. Cứ làm theo anh nói đi.”

Nàng xuống xe, chạy tới chỗ chiếc cửa và kéo tay nắm. Nàng nhìn tôi, lắc đầu và định lại ra xe. Tôi đạp mạnh ga và lao thẳng xe vào cánh cửa cho bật tung ra rồi tát máy và nhảy xuống. Tôi chộp cánh tay Beth và chạy vào bên trong tháp.

“Anh điên à?”

“Lên trên đỉnh ngắm cảnh đẹp lắm.” Chiếc thang máy có khóa riêng nên tôi chạy theo cầu thang bộ. Beth kéo tay tôi nói, “Đứng lại. Thế này gọi là trộm đấy, chưa kể xâm phạm quyền dân sự”

“Đây là nhà công cộng.”

“Nhưng nó đóng cửa rồi.”

“Anh thấy cửa bị phá trước.”

“John”

“Em quay lại xe đi. Anh lo chuyện này.”

Chúng tôi nhìn nhau, ánh mắt nàng như muốn nói, “Em biết anh đang nổi giận, nhưng đừng làm thế này.”

Tôi quay đi và một mình trèo lên cầu thang. Tới mỗi tầng, tôi đều thử mở cửa các phòng làm việc, nhưng tất cả đều khóa.

Lên đến tầng ba, nghe tiếng bước chân phía sau, tôi rút súng ra. Tôi nấp ở phía sau cầu thang chờ đợi và thấy Beth đang đi lên. Nàng ngước lên nhìn tôi.

Tôi nói với nàng, “Đây là tội nghiêm trọng của anh. Anh không cần thêm một đồng phạm.”

Nàng đáp, “Cửa đã bị phá trước. Chúng ta đang điều tra.”

“Chính là anh nói thế.”

Chúng tôi cùng nhau đi tiếp lên tầng trên.

Trên tầng bốn, nơi có các phòng quản lý, cửa cũng bị khóa. Không có nghĩa là không có ai ở đó - các cửa thoát hiểm trong trường hợp hỏa hoạn có thể đóng từ phía này, nhưng sẽ phải mở ra từ phía bên kia. Tôi đập mạnh liên tục vào cánh cửa.

Beth nói, “John, em không nghĩ là có ai ở trong”

“Anh hy vọng là không.”

Tôi chạy lên tầng năm, nàng cũng theo tôi. Tôi xoay nắm cửa, nhưng của cũng khóa nốt.

Beth hỏi, “Đây là chỗ ở của hắn à?”

“Ừ.” Trên một ô kính trên tường là chiếc rìu cắt sắt và chiếc bình cứu hỏa phải có theo quy định. Tôi lấy chiếc bình cứu hỏa đập vỡ ô kính và lấy chiếc rìu ra. Tiếng kính vỡ vọng lên xuống cầu thang.

Beth gần như la lên, “Anh đang làm gì đấy?”

Tôi đẩy nàng ra phía sau và vung rìu bổ vào khóa cửa, chiếc khóa bung ra nhưng móc khóa bên trong vẫn còn tác dụng. Tôi bổ thêm mấy nhát làm tung hẳn cả móc, nhát cuối cùng làm cánh cửa bật tung vào phía trong.

Tôi hít mấy hơi thở sâu. Tôi cảm thấy khang khác trong phổi, cứ như tôi vừa mở lại thứ gì đó đã mất rất lâu mới đóng kín được.

“John, nghe em”

“Đừng nói. Nghe tiếng bước chân đi.” Tôi rút khẩu súng dưới áo choàng ra, nàng cũng làm giống tôi, cả hai đứng bất động. Tôi nhòm vào bên trong căn phòng tôi vừa mở ra. Chắn trước mặt tôi là một chiếc rèm lụa Nhật Bản để che cánh cửa sắt trước con mắt sành điệu của Tobin. Căn phòng tối và im ắng.

Vẫn cầm chiếc rìu trên tay trái, tôi quăng nó qua cửa vào tấm rèm lụa. Tấm rèm rớt xuống, để lộ một không gian rộng bên trong vừa là phòng khách, vừa là phòng ăn.

Beth thì thào, “Ta không vào trong đấy được đâu.”

“Chúng ta phải vào. Có người nào đó phá cửa. Quanh đây hẳn là có trộm.”

Những tiếng động mà chúng tôi gây ra đủ để làm bất cứ ai ở quanh nhà để ý, nhưng tôi không nghe thấy gì cả. Tôi buộc phải đoán rằng cửa sau đã phát tín hiệu báo động, nhưng vì cơn bão đã làm báo động hàng chục chỗ ở khắp North Fork tới các trạm theo dõi. Dù thế nào, chúng tôi cũng có thể xử lý được với cảnh sát nếu họ đến - mà thật ra, chúng tôi là cảnh sát.

Tôi vào phòng khách, hai tay cầm súng, xoay vòng một đường từ trái qua giữa. Beth vòng từ bên phải sang. Nàng nói, “John, làm thế này không phải là hay. Anh bình tĩnh lại đi. Em biết anh bị sốc, em không trách anh, nhưng anh không thể làm như thế này. Chúng ta ra khỏi đây thôi và-”

“Đừng nói.” Tôi gọi to, “Ngài Tobin! Ngài có nhà không? Ngài có khách.”

Không có tiếng đáp lại. Tôi tiến sâu vào phòng, bên trong chỉ có ánh sáng của bầu trời xám xịt bên ngoài chiếu vào qua những chiếc cửa sổ lớn hình vòng cung và hai chiếc cửa thông sáng trên trần nhà cao chừng ba mét rưỡi. Beth từ từ bám theo tôi.

Đó là một chỗ ở khá đẹp - phòng khách hình bán nguyệt với bức tường vòng cung ở phía bắc. Nửa kia của ngọn tháp, tức là nửa phía nam, được chia thành ngăn bếp thông ra bên ngoài và phòng ngủ nằm ở góc tây nam. Cửa phòng ngủ để mở và tôi ngó vào trong. Không có ai ngoài chúng tôi, hoặc nếu Tobin có ở đó, hắn đã nấp dưới gậm giường hoặc trong tủ, sợ không còn hồn vía nào.

Tôi nhìn quanh phòng khách. Trong ánh sáng mờ xám, tôi nhận ra nội thất trong phòng đều theo kiểu sáng và thoáng cho phù hợp với không gian của một tòa tháp. Các bức tường được trang trí với những bức tranh màu nước vẽ phong cảnh của địa phương mà tôi nhận ra được - Ngọn hải đăng Đảo Plum, hải đăng Horton Point, một số cảnh biển, mấy căn nhà cổ ốp gỗ, và thậm chí cả khách sạn General Wayne. Tôi nói, “Chỗ ở đẹp đấy.”

“Rất đẹp.”

“Đàn ông có thể gặp may mắn với các quý cô ở trên này.”

Không có tiếng đáp lại từ Penrose.

Tôi đến bên một chiếc cửa sổ hướng ra phía bắc và quan sát cơn bão đang vần vũ bên ngoài. Tôi nhìn thấy một số cây nho bị gió quật đổ, và tôi mường tượng ra những trái nho chưa hái sẽ bị gió làm rụng hết.

Beth tiếp tục câu chuyện của tôi, nói, “Không có tên trộm nào ở đây. Ta nên đi khỏi và báo cáo lại là đã phát hiện ra bằng chứng của một vụ đột nhập ở đây.”

“Ý hay đấy. Anh sẽ kiểm tra xem thủ phạm đã chạy trốn hay chưa.” Tôi đưa cho nàng chìa khóa xe. “Em ngồi chờ trong chiếc xe Jeep nhé. Anh sẽ xuống ngay.”

Nàng ngập ngừng rồi nói, “Em sẽ đưa xe ra bãi đỗ và chờ mười lăm phút. Không lâu hơn.”

“Được rồi.” Tôi quay người và bước vào bên trong phòng ngủ.

Căn phòng trang trí lộng lẫy và mềm mại như một món quà của Chúa ban tặng cho phụ nữ mang theo những chai sâm panh. Kỳ thực, gần giường ngủ có một chiếc giá để rượu sâm panh và một chiếc xô. Sẽ là nói dối nếu tôi bảo rằng tôi không tưởng tượng được ra cảnh Emma ở trên chiếc giường này với Tobin. Nhưng điều đó có còn quan trọng gì nữa đâu. Nàng đã chết, và không lâu nữa hắn cũng sẽ chết.

Ở bên trái là một phòng tắm lớn với vòi hoa sen nhiều đầu, vòi nước phun từ dưới lên, bồn rửa và đủ loại tiện nghi. Vâng, cuộc sống đã thật dễ chịu đối với Tobin, cho tới khi hắn bắt đầu tiêu pha nhiều hơn mức kiếm được. Tôi chợt nghĩ cơn bão này sẽ nhấn chìm hắn nếu không có một kho vàng rót vào.

Trong phòng ngủ còn có một chiếc bàn, tôi mở các ngăn ra xem nhưng không tìm được thứ gì có thể làm tang chứng hay hữu ích.

Tôi lục lọi trong phòng khoảng mười phút. Quay ra phòng khách, tôi thấy một chiếc tủ lớn có khóa liền dùng cây rìu phá cửa tủ, nhưng dường như bên trong chỉ có một bộ đồ ăn bằng bạc, mấy chiếc khăn trải bàn bằng vải lanh, một tủ lạnh trong suốt có cửa kính đựng rượu vang, một hộp giữ ẩm cho xì gà, những vật dụng sang trọng khác và một bộ sưu tập phim khiêu dâm.

Tôi lục lọi bên trong, kể cả chiếc tủ rượu, nhưng cũng không tìm được gì.

Tôi đi quanh căn phòng với chiếc rìu trong tay, tìm kiếm và trút sự bực bội lên mọi thứ.

Có một khoang nhỏ trên tường, thứ mà người ta gọi là trung tâm giải trí, với một chiếc ti vi, đầu VCR, đầu đĩa CD, đủ mọi thứ, cộng thêm mấy giá đựng sách. Tôi quẳng mỗi thứ một nơi, rũ từng cuốn sách và vứt sang bên cạnh.

Chợt có một thứ làm tôi chú ý. Trong một chiếc khung mạ vàng to bằng cỡ quyển sách là một tấm da cũ. Tôi cầm lên và soi dưới ánh sáng lờ mờ từ cửa sổ chiếu vào. Đó là một tấm bản đồ vẽ bằng mực đã mờ, bên dưới có chữ viết tay. Tôi mang vào trong bếp và đặt dưới chiếc bệ gần một trong những chiếc đèn tích điện dùng khi khẩn cấp phát ra thứ ánh sáng yếu ớt. Tôi mở chiếc khung và lấy ra tấm da đã sờn mép. Lúc này tôi đã có thể nhận ra nó là cái gì - một phần của bờ biển và một con lạch nhỏ. Chữ viết rất khó hiểu, tôi ước giá như Emma có ở đây.

Ban đầu, tôi nghĩ tấm bản đồ có thể là một phần của bờ Đảo Plum, nhưng trên đảo này không có lạch nước nào mà chỉ có một bến tàu trông rất khác những gì mà tôi thấy trên bản đồ.

Sau đó tôi nghĩ có thể bản vẽ này là lạch nước Mattituck, chính là nơi có những cái cây của thuyền trưởng Kidd, nhưng không thấy giống lắm với lạch nước mà tôi đã thấy trên bản đồ chỉ đường và quan sát trên đường. Khả năng thứ ba là những vách đứng hay những mỏm đá bên bờ biển, nhưng một lần nữa, tôi lại không thấy giống lắm vì đường bờ biển đoạn này trên thực tế là thẳng, trong khi ở bản đồ lại cong và có lạch nước ăn sâu vào bên trong.

Cuối cùng, tôi kết luận rằng nó chẳng có ý nghĩa gì hết mà chỉ là một tấm da cũ mà Tobin đóng khung vào làm vật trang trí. Phải không nhỉ? Không phải. Tôi lại nhìn kỹ vào đó, cố tìm cách giải nghĩa những chữ viết tay đã mờ - có hai từ mà tôi đọc được, đó là Founders Landing.

Khi đã định hướng được, tôi biết đây thực ra làm một tấm bản đồ vẽ khoảng một phần tư dặm bờ biển từ Founders Landing, một con lạch không tên, và nơi bây giờ là đất đai của Fredric Tobin.

Những chữ viết tay ở phía dưới rõ ràng là hướng dẫn chỉ đường, tôi thấy những con số và đọc được chữ “Cây sồi.”

Chợt có tiếng động trong phòng khách, tôi rút súng.

Beth gọi, “John?”

“Ở trong này.”

Beth đi vào trong bếp. Tôi nói, “Anh tưởng em đi rồi.”

“Cảnh sát thị trấn Southold đã đến vì có một người nào đó gọi. Em bảo họ chỗ này hiện trong vòng kiểm soát.”

“Cám ơn.”

Nàng nhìn ra ngoài phòng khách và nói, “Chỗ này đã bị phá phách.”

“Cơn bão John.”

“Anh cảm thấy hả bớt giận chưa?”

“Chưa.”

“Anh tìm được gì ở đấy không?”

‘‘Một bản đồ kho báu. Vẽ các đường cơ bản, để trong chiếc khung vàng này.”

Nàng nhìn tấm bản đồ. “Đảo Plum?”

“Không. Bản đồ Đảo Plum hay bất cứ thứ gì đưa họ tới chỗ kho báu đều đã bị hủy từ lâu rồi. Đây là bản đồ Founders Landing, và giờ là khu đất của Tobin.”

“Và?”

“Anh chắc rằng đây là đồ giả. Từ những nghiên cứu về tư liệu, anh biết rằng ai cũng có thể mua một tấm da thuộc làm giả của bất kì giai đoạn này trong vài thế kỉ qua. Ở thành phố có những người chuyên trộn dầu đèn và bồ hóng với nhau để viết bất cứ thứ gì mà người ta yêu cầu.”

Nàng gật đầu. “Vậy là, Tobin thuê làm tấm bản đồ này để chứng tỏ rằng có một kho báu chôn trong khu đất của hắn.”

“Đúng. Nếu nhìn kỹ, em sẽ thấy dường như các dòng chữ là hướng dẫn đường. Và nếu nhìn thật kỹ... có thấy dấu X đó không?”

Nàng đưa tấm da lên cao. “Em thấy rồi.” Nàng đặt xuống rồi nói, “Hắn chưa bao giờ có ý định để vợ chồng Gordon chôn cho báu trên khu đất của họ.”

“Đúng vậy. Hắn định lấy kho báu từ tay họ, giết họ và chôn kho báu trên phần đất của hắn.”

“Vậy là kho báu hiện giờ đang ở trên phần đất của Tobin.”

“Ta đi tìm xem sao.”

“Một vụ đột nhập nữa sao?”

“Còn hơn thế. Nếu tìm thấy hắn ở nhà, anh sẽ đập gãy chân hắn với chiếc rìu này, rồi dọa sẽ tra tấn nếu hắn không chịu khai.” Tôi nói thêm, “Anh có thể thả em ở đâu?”

“Em sẽ đi cùng. Anh cần có người bên cạnh, còn em thì phải tìm cái mặt dây chuyền của bà em trên bãi cỏ.”

Tôi đút tấm da vào áo sơ mi, bên dưới tấm áo choàng và cầm lấy cây rìu. Trên đường ra cầu thang, tôi quăng cây đèn bàn thẳng vào một trong những chiếc cửa sổ cao hình vòng cung. Một cơn gió ào vào qua cửa kính bị vỡ và thổi bay mấy cuốn tạp chí để trên bàn uống cà phê. “Đã đủ sáu mươi nhăm hải lý chưa?”

“Gần đạt rồi.”

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.