Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28

❊ ❊ ❊

Trời đang tối dần khi tôi tới Founders Landing, nhưng tôi vẫn thấy được một công viên nằm sát mặt nước ở cuối con đường. Tôi cũng thấy một tấm bia đá đề “Founders Landing[1] - 1640”. Tôi đoán đó là nơi nhóm người từ Connecticut lần đầu tiên đặt chân đến. Nếu họ dừng chân ở Foxwoods trước, có lẽ họ chỉ còn mỗi chiếc quần đùi để mặc khi tới đây.

Phía đông của công viên là một ngôi nhà to, rất to, to hơn cả ngôi nhà của cậu Harry và làm theo kiểu của thời thực dân chứ không phải thời Victoria. Ngôi nhà vây quanh bởi một hàng rào sắt trang trí đẹp và tôi có thể nhìn thấy những chiếc xe hơi đỗ phía trước và mấy chiếc đỗ trên bãi cỏ bên sườn. Tôi nghe thấy tiếng nhạc phát ra từ phía sau nhà.

Tôi đỗ xe trên đường và đi bộ qua chiếc cổng sắt để mở. Không chắc lắm về trang phục, nhưng tôi thấy một cặp nam nữ ở phía trước tôi, người đàn ông ăn mặc khá giống tôi - áo khoác xanh, không cà vạt, đi giầy không tất.

Tôi tìm đường tới bãi cỏ sau nhà, nơi đó rộng và thấp, thoải dần tới mặt nước. Trên bãi cỏ có những chiếc lều kẻ sọc, những ngọn đèn màu chăng từ cây này sang cây kia, những ngọn đuốc bập bùng, những ngọn nến đặt trên bàn có che ô, những bông hoa của Whitestone, một ban nhạc sáu người chơi nhạc Big Band, một vài quầy bar, một chiếc bàn búp-phê dài. Đó chính là mốt thời thượng ở Bờ Đông, là thứ tốt nhất mà nền văn minh cũ có thể mang lại - cộng thêm thời tiết cũng ủng hộ. Fredric Tobin quả là may mắn.

Tôi cũng nhận ra một tấm băng rôn màu xanh trắng căng giữa hai cây sồi lớn. Trên tấm băng rôn đề, “Tiệc thường niên của hội Lịch sử Peconic.”

Một người phụ nữ trẻ đẹp mặc bộ đồ ngày xưa bước đến chỗ tôi và nói, “Chúc buổi tối vui vẻ.”

“Đến lúc này là tốt.”

“Đến chọn một chiếc mũ đi?”

“Xin lỗi, gì cơ?”

“Anh phải đội một chiếc mũ thì mới lấy đồ uống được.”

“Thế thì tôi muốn có sáu cái mũ.”

Cô nàng cười khúc khích, nắm lấy cánh tay tôi và dẫn tôi đến chỗ một chiếc bàn dài, bên trên để khoảng hai chục chiếc mũ trông rất ngớ ngẩn - những chiếc mũ ba góc nhiều màu, một số cắm lông chim, một số có viền vàng giống như mũ hải quân thời trước, có mấy chiếc mũ đen với hình đầu lâu xương chéo màu trắng. Tôi bảo, “Tôi lấy chiếc mũ cướp biển.” Cô nàng lấy một chiếc và đội lên đầu tôi. “Trông anh đáng sợ thật.”

“Giá mà em biết.”

Từ một chiếc hộp các tông lớn, cô nàng lấy ra một thanh kiếm ngắn bằng nhựa giống như thanh kiếm mà Emma đã dùng để dọa tôi hôm trước và cài vào thắt lưng cho tôi. “Của anh đây.”

Tôi chào cô gái trẻ để cô tiếp đón một nhóm người vừa mới tới. Tôi đi xa thêm trên bãi cỏ rộng mênh mông, đầu đội mũ và đeo kiếm bên mình. Ban nhạc đang chơi bản “Dạ khúc Ánh trăng.”

Tôi quan sát xung quanh và thấy chưa có quá nhiều người đến, khoảng độ năm mươi, tất cả đều đội mũ trên đầu, và tôi đoán số đông sẽ đến sau khi mặt trời lặn trong nửa tiếng nữa. Tôi không nhìn thấy Max, Beth, Emma hay người nào mà tôi biết. Tuy thế, tôi lại tìm được quầy bar gần nhất và gọi một cốc bia.

Người phục vụ quầy bar mặc đồ cướp biển nói, “Xin lỗi ngài, chỉ có rượu vang và nước uống không cồn thôi.”

“Cái gì? Thật là quá đáng. Tôi cần một cốc bia. Tôi có mũ đây này.”

“Vâng, thưa ngài, nhưng không có bia. Ngài dùng loại vang trắng có ga được không ạ? Nó cũng có bọt và ngài có thể tưởng tượng là bia.”

“Tôi có thể đề nghị anh kiếm cho tôi một cốc bia khi tôi quay lại đây được không?”

Tôi đi lang thang xung quanh, không có bia, và quan sát mảnh đất. Từ đây tôi có thể nhìn thấy công viên nơi những người định cư đầu tiên đặt chân tới, giống như hòn Plymouth Rock của địa phương, tôi đoán thế, nhưng hầu như người ngoài vùng này không mấy người biết. Ý tôi là, có ai biết con tàu Fortune đã đi tiếp sau tàu Mayflower không? Ai thèm quan tâm đến nơi thứ hai và nơi thứ ba? Đây là nước Mỹ.

Tôi quan sát những người khách của Tobin rải rác trên khắp bãi cỏ rộng, họ đứng, đi và ngồi bên những chiếc bàn tròn màu trắng, mỗi người đội một chiếc mũ có cắm lông trên đầu, tay cầm cốc và tán gẫu với nhau. Tất cả đều trầm tĩnh, hoặc họ chỉ như vậy vào lúc còn sớm như thế này - không rượu mạnh và làm tình trên bãi biển, không bơi truồng hay cởi hết quần áo đánh bóng chuyền hay điều gì đó giống như thế. Chỉ là những tiếp xúc xã giao bình thường.

Tôi thấy Tobin có một chiếc cầu tàu dài, phía cuối cầu có một chiếc nhà để tàu. Dọc theo cầu có mấy chiếc tàu buộc bên cạnh, tôi đoán đó là của khách. Nếu bữa tiệc này được tổ chức sớm hơn một tuần thì chắc chiếc Spirochete đã có ở đây.

Vì là người hay tò mò, tôi bước xuống cầu tàu và đi ra chỗ nhà để tàu. Ngay trước lối vào nhà là một chiếc tàu lớn có cabin, dài chừng hơn chục mét. Tên con tàu là Autumm Gold - và tôi đoán nó là của Tobin, được đặt tên theo một loại rượu vang mới của hắn, hoặc được đặt theo bên kho báu vẫn chưa tìm ra của Tobin. Dù là trường hợp nào. Tobin cũng thích những đồ chơi của hắn.

Tôi vào trong nhà để tàu. Bên trong khá tối, nhưng ánh sáng từ hai đầu chiếu vào đủ để thấy hai con tàu để hai bên cầu. Con tàu bên phải là một chiếc Whaler nhỏ, đáy phẳng, thuộc loại có thể đi vào vùng nước nông hoặc nơi đất ngập nước. Chiếc bên trái là tàu cao tốc, một chiếc Formula 303, giống hệt loại của vợ chồng Gordon. Một cảm giác rờn rợn xuất hiện trong tôi chừng nửa giây, rằng vợ chồng Gordon đã trở về từ cõi chết và đến bữa tiệc để dọa cho Freddie sợ vãi ra quần. Nhưng đó không phải là chiếc Spirochete - chiếc 303 này có tên là Sondra, có lẽ là đặt theo tên rượu của Fredric. Tôi đoán là việc đổi tên tàu còn dễ hơn là xóa vết xăm trên cánh tay.

Cả chiếc tàu lớn có cabin và chiếc tàu cao tốc đều không làm tôi chú ý, nhưng chiếc Whaler đáy phẳng thì ngược lại. Tôi bước xuống con tàu nhỏ xem xét. Nó có một động cơ gắn ngoài và cả cọc chèo. Hai mái chèo để nằm trên cầu tàu. Đáng chú ý hơn là một chiếc sào dài gần hai mét, loại dùng để đẩy tàu qua những bãi lau sậy nơi cả mái chèo và động cơ đều không dùng được. Ngoài ra, sàn của chiếc Whaler còn dính bùn. Ở phần đuôi tàu là một chiếc sọt nhựa để những thứ linh tinh, lẫn trong đó có một chiếc còi hơi.

“Anh đang tìm gì hay sao?”

Tôi quay lại và thấy Fredric Tobin đang đứng trên cầu tàu, tay cầm ly rượu vang, đầu đội mũ ba góc màu tía khá điệu đà cắm một chiếc lông chim. Hắn vân vê chòm râu ngắn trong lúc nhìn chằm chặp vào tôi. Rất đểu cáng.

Tôi nói, “Tôi ngưỡng mộ chiếc tàu của ngài lắm.”

“Cái tàu đó ư? Ai cũng chỉ để ý đến chiếc tàu cao tốc hoặc chiếc Chris-Craft,” hắn nói và chỉ chiếc tàu lớn có ca bin đậu ngay bên ngoài nhà để tàu.

Tôi nói, “Tôi tưởng đó là chiếc Autumm Gold"

“Tên loại tàu là Chris-Craft.”

Hắn nói với tôi với một chút cáu kỉnh trong giọng nói nhỏ mà tôi không thích. Tôi nói, “Ồ, chiếc tàu nhỏ này hợp với túi tiền của tôi hơn.” Tôi nở nụ cười thành thật. Tôi thường làm thế trước khi túm cổ người nào đó. Tôi nói, “Khi tôi thấy chiếc Formule 303, tôi tưởng là vợ chồng Gordon đã trở về từ cõi chết.”

Hắn không thích điều đó chút nào.

Tôi nói thêm, “Nhưng sau đó tôi biết không phải là chiếc Spirochete - tên nó là Sondra, nghe hợp hơn. Ngài biết đấy - nhanh, bóng lộn và hấp dẫn.” Tôi thích chọc tức những gã đểu.

Tobin lạnh lùng nói, “Buổi tiệc đang tổ chức trên bãi cỏ, anh Corey ạ.”

“Tôi thấy rồi.” Tôi trèo lên cầu tàu và nói, “Ngài có chỗ này thật đẹp.”

“Cám ơn.”

Ngoài chiếc mũ trông đồng bóng, Tobin còn mặc một chiếc quần trắng, áo khoác ngực màu xanh và một chiếc cà vạt to màu đỏ tươi trông phản cảm. Tôi nói, “Tôi thích chiếc mũ của ngài.”

Hắn nói, “Để tôi giới thiệu anh với mấy vị khách của tôi.”

“Thế thì tuyệt quá.”

Tôi và hắn rời nhà để tàu và đi dọc theo cầu. Tôi hỏi hắn, “Cầu tàu nhà Gordon cách đây bao xa?”

“Tôi không biết.”

“Ngài đoán khoảng bao nhiêu.”

“Khoảng mười tám dặm. Sao?”

“Mười dặm thì đúng hơn.” Tôi nói. “Ngài phải đi quanh Great Hog Neck. Tôi đã xem bản đồ trên xe ô tô. Khoảng mười dặm.”

“Anh muốn nói điều gì?”

“Chẳng có gì cả. Chỉ là câu chuyện bên bờ biển thôi.”

Lên đến bãi cỏ, Tobin nhắc tôi, “Anh đừng có tra hỏi người khách nào của tôi về vụ vợ chồng Gordon bị giết đấy. Tôi đã nói chuyện với cảnh sát trưởng Maxwell và anh ấy cũng đồng ý như thế, anh ấy còn khẳng định lại là anh không có địa vị chính thức gì ở đây.”

“Tôi hứa với ngài là sẽ không làm phiền bất cứ vị khách nào của ngài với những câu hỏi của cảnh sát về vụ vợ chồng Gordon.”

“Hay bất cứ điều gì liên quan đến vợ chồng Gordon.”

“Tôi hứa. Nhưng tôi đang thèm bia.”

Tobin nhìn xung quanh và thấy một cô gái trẻ đang bưng một khay rượu vang. Hắn bảo cô gái, “Em vào nhà và lấy cho ông đây một chai bia. Rót vào cốc uống rượu vang ấy nhé.”

“Vâng, thưa ông.” Và cô nàng đi khỏi. Thật thú vị được làm một kẻ giàu có và nói với người khác, “Tôi cần thứ này, tôi cần thứ kia.”

Tobin nói với tôi, “Anh không phải là người thích đội mũ.” Hắn cáo lỗi và để tôi lại một mình. Tôi không dám đi chỗ khác vì sợ cô phục vụ mang bia tới mà không tìm thấy tôi.

Trời đã tối hẳn, những ngọn đèn màu nhấp nháy, những ngọn đuốc bập bùng, những ngọn nến cháy sáng. Một cơn gió mát lành từ đất liền thổi đám côn trùng ra biển. Ban nhạc đang chơi bài vầng sao xa mờ. Người thổi kèn trompet chơi rất tuyệt. Cuộc sống thật tươi đẹp. Tôi hạnh phúc thấy mình vẫn chưa chết.

Tôi quan sát Fredric làm chủ bữa tiệc. Hắn gặp hết người này đến người khác, cặp này đến cặp khác, nhóm này đến nhóm khác, cười, đùa, chỉnh mũ trên đầu họ, tra những thanh kiếm nhựa vào thắt lưng những người phụ nữ có thắt lưng. Không giống như Jay Gatsby, ông chủ của những bữa tiệc nổi tiếng nhất ở Long Island, Fredric Tobin không đứng xa để quan sát toàn bộ buổi tiệc. Ngược lại, hắn ở gần với mọi người, làm không khí nóng lên, và trở thành ông chủ tiệc hoàn hảo nhất từ trước tới giờ.

Hắn có chút điềm đạm, tôi sẽ cho hắn thứ đó. Hắn đã gần như trắng túi, nếu tôi có thể tin Emma Whitestone, và hắn còn là kẻ giết hai mạng người, nếu tôi có thể tin vào bản năng của mình, đó là chưa kể điều tôi vừa thấy trong nhà để tàu. Và chắc hẳn hắn biết rằng tôi đã biết cả hai bí mật của hắn, nhưng hắn vẫn không tỏ ra mất bình tĩnh. Hắn lo tôi làm hỏng bữa tiệc của hắn còn hơn là làm hỏng cuộc đời hắn. Một gã rất điềm đạm, quả là như thế.

Cô phục vụ ban nãy quay lại với một ly bia đặt trên khay. Tôi lấy ly bia và nói, “Tôi không thích rượu vang.”

Cô mỉm cười. “Em cũng thế. Còn bia trong tủ lạnh đấy.” Cô nháy mắt và đi ra chỗ khác.

Đôi khi tôi nghĩ mình được trời phú cho sự hấp dẫn, khả năng gây ấn tượng và sức hút của phần con. Có lúc, tôi lại nghĩ hẳn là tôi mắc bệnh hôi miệng hoặc có mùi mồ hôi khó chịu. Tối nay, tôi cảm thấy rất ổn, nóng như một khẩu súng ngắn ba đô la. Tôi đội mũ lệch cho ngông, sửa lại thanh kiếm và bắt đầu tham gia buổi tiệc.

Hầu hết những người tới dự đều còn trẻ hoặc mới chớm tuổi trung niên, không có quá nhiều mệnh phụ phu nhân và những người kiểu Con gái của cách mạng Mỹ. Chẳng hạn là tôi không thấy có Margaret Wiley. Hầu hết họ đều đi thành cặp - thế giới này đa số là các cặp - nhưng cũng có một vài người trông có vẻ là sẽ bắt chuyện được nếu không ai trong số những tình yêu duy nhất của tôi xuất hiện.

Tôi nhìn thấy một phụ nữ mặc váy lụa trắng, đội chiếc mũ bắt buộc với mớ tóc vàng hoe dài. Tôi nhận ra đó là ả bồ của ngài Freddie mà vợ chồng Gordon đã chỉ cho tôi trong bữa tiệc nếm rượu vang. Ả đứng một mình phía bên kia bãi cỏ, tôi bước qua và nói, “Xin chào.”

Ả mỉm cười. “Chào anh.”

“Tôi là John Corey.”

Rõ là cái tên không gợi lên điều gì ở ả, nhưng ả vẫn mỉm cười và nói, “Tôi là Sondra Wells. Bạn của Fredric Tobin.”

“Vâng. Tôi biết rồi. Chúng ta đã gặp nhau hồi tháng Bảy ở vườn nho. Trong một bữa tiệc nếm rượu vang. Tôi đi cùng với vợ chồng Gordon.”

Nụ cười của ả tắt ngấm. Ả nói, “Ồ, chuyện của họ thật khủng khiếp.”

“Đương nhiên rồi.”

“Một thảm kịch.”

“Vâng. Cô thân với vợ chồng Gordon phải không?”

“Ồ... là Freddie. Tôi quý mến họ... nhưng không biết họ có quý tôi không.”

“Hẳn là họ quý cô lắm. Họ lúc nào cũng ca ngợi cô.” Thật ra có bao giờ họ nhắc tới ả đâu.

Cô ả lại mỉm cười.

Ả nói chuyện có duyên và tỏ ra lịch sự như thể đã được học ở một trường nào đó về những điều này. Nó quá khuôn mẫu, và tôi có thể tưởng tượng Tobin đã gửi ả đến một nơi nào đó nơi ả phải tập đi với một cuốn sách trên đầu và đọc thuộc lòng Elizabeth Barrett Browning trong khi ngậm một chiếc bút chì.

Tự tôi không thể hiểu được tại sao lại có người nào đó đổi Emma Whitestone lấy Sondra Wells. Nhưng đẹp xấu còn ở mắt người nhìn. Tôi nói với Wells, “Cô có thích đi tàu không?”

“Không. Fredric có vẻ thích.”

“Tôi có nhà ở sát mặt nước ở phía tây chỗ này. Tôi thích đi tàu.”

“Hay quá.”

“Thật ra, tôi chắc là đã nhìn thấy ông Tobin... để xem nào, hôm thứ hai tuần trước, khoảng cuối giờ chiều, tôi đoán thế, ở trên chiếc tàu Whaler nhỏ. Hình như tôi thấy cô đi cùng ông ấy.”

Ả thoáng suy nghĩ rồi bảo, “ồ... thứ hai... tôi ở Manhattan cả ngày. Fredric cho xe và cả lái xe đưa tôi cùng người quản gia vào thành phố, tôi ở đó mua sắm cả ngày.”

Tôi biết bộ óc nhỏ của ả đang làm việc, trên môi ả lộ vẻ không bằng lòng. Ả hỏi tôi, “Anh nhìn thấy Fredric trên chiếc Whaler cùng với một... một người khác à?”

“Có lẽ không phải là ông ấy, hoặc nếu phải thì chắc ông ấy đi một mình, hoặc có lẽ người kia là nam giới.”

Ả lại tỏ vẻ hậm hực.

Tôi thích khuấy cho những thứ thối tha bốc mùi lên. Qua đó, giờ tôi đã biết Wells và người quản gia đang ở Manhattan vào thời gian xảy ra án mạng. Thoải mái làm sao. Tôi hỏi ả, “Cô có chung sở thích với ông Tobin về lịch sử địa phương và khảo cổ không?”

Ả đáp, “Không. Và tôi cũng mừng là ông ấy đã bỏ những thứ ấy rồi. Trong tất cả những sở thích mà một người đàn ông có thể có, tại sao lại cứ phải là thứ ấy?”

“Có thể là có chút liên quan đến người chuyên gia tư liệu của hội Lịch sử Peconic.”

Ả nhìn tôi rất lãnh đạm, đúng như thế, và chắc sẽ bỏ đi nếu Fredric không xuất hiện và nói với Wells, “Anh mượn em một chút được không. Vợ chồng Fisher muốn tới chào.” Fredric nhìn tôi và hỏi, “Anh sẽ không làm phiền chúng tôi chứ?”

“Có lẽ thế, trừ khi vợ chồng Fisher muốn chào cả tôi.”

Fredric nở nụ cười không mấy thân thiện, còn Wells thì hậm hực rồi cả hai cùng đi khỏi, bỏ lại vị khách cục mịch đứng ngẫm nghĩ về cách xử sự vụng về của mình.

Khoảng 8 giờ 30, tôi thấy Max và Beth. Max cũng đội một chiếc mũ cướp biển, còn Beth đội trên đầu một chiếc mũ tròn không vành trông rất ngố. Nàng mặc quần trắng, áo kẻ sọc xanh-trắng. Hôm nay trông nàng hơi khác. Tôi bước đến chỗ họ bên chiếc bàn búp phê dài. Max đang chúi đầu vào đĩa thịt lợn, món yêu thích của tôi. Chúng tôi chào nhau và tôi nhón một miếng trên đĩa của anh.

Beth nói, “Một buổi tối thật tuyệt. Cám ơn anh vì đã bảo em đến.”

“Em hẳn là chưa biết sẽ học được gì từ việc lắng nghe đâu.”

Max bảo tôi, “Beth đã cho tôi biết về tiến độ điều tra của cảnh sát quận Suffolk. Cô ấy đã làm rất nhiều việc trong bốn ngày qua.”

Tôi liếc nhìn Beth dò xem nàng đã nói gì với Max về chuyện nàng đến nhà tôi hay không. Beth hơi khẽ lắc đầu.

Max bảo tôi, “Cám ơn cậu lần nữa vì đã giúp đỡ.”

“Có gì đâu. Đừng ngại gọi tôi lần nữa.”

Max nói, “Cậu chưa gọi lại cho tôi lần nào.”

“Đúng, và sẽ không bao giờ.”

“Tôi không nghĩ là cậu lại có lí do gì để cáu giận.”

“Không ư? Thử xem lại mọi chuyện đi, Max.” Tôi nói thêm, “Đáng lẽ tôi phải đá anh ra khỏi nhà tôi hôm đó.”

Max đáp, “Ồ... tôi xin lỗi nếu có gì làm cậu thấy bất tiện.”

“Rồi. Cám ơn.”

Beth xen vào và nói với Max, “John gặp rắc rối với cấp trên vì đã giúp anh đấy.”

Max nói, “Xin lỗi. Tôi sẽ gọi điện cho họ, nếu cậu cho tôi biết phải gọi cho ai.”

“Không có ý coi thường anh, Max, nhưng họ không muốn nghe một cảnh sát trưởng nhà quê.”

Thật ra, tôi không đến mức giận dữ như vậy với Max, mà nếu có thì cũng khó giận lâu với anh. về cơ bản, anh là người tốt, và lỗi duy nhất của anh là lúc nào cũng tìm đến Người số một. Đôi khi tôi tin rằng mỗi lần tôi tỏ ra giận dữ là người khác lại nghĩ họ nợ tôi điều gì đó. Chẳng hạn như một chút thông tin. Tôi hỏi Max, “Mà này, đã có người nào khác của Đảo Plum bị chết làm anh chú ý không? Chẳng hạn như hai, ba năm về trước?”

Anh thoáng suy nghĩ rồi nói, “Có một tai nạn chết đuối, hai năm trước, vào mùa hè. Một người... tiến sĩ gì đó... một bác sĩ thú y... hình như thể.”

“Người đó chết đuối thế nào.”

“Để tôi nhớ xem nào... anh ta ở trên tàu của mình... đúng rồi, anh ta đi câu đêm hay làm gì đó, rồi không thấy anh ta về. Cô vợ gọi điện cho chúng tôi. Chúng tôi nhờ lực lượng bảo vệ bờ biển giúp và họ tìm thấy chiếc tàu của anh ta trống trơn lúc khoảng một giờ sáng. Ngày hôm sau, xác anh ta trôi vào vịnh...” Anh ta nằm quay đầu về phía đảo Trú ẩn Island. “Có bằng chứng gì của việc mưu hại không?”

“Ồ, có một vết thương ở đầu, nhưng giám định pháp y cho thấy có vẻ như anh ta bị trượt chân trên tàu, đầu đập vào thành tàu rồi ngã lộn ra ngoài.” Max nói thêm, “Nó xảy ra như thế.” Anh nhìn tôi hỏi, “Sao cậu lại hỏi chuyện này?”

Tôi đáp, “Tôi đã hứa với Tobin, và cả anh cũng thế, Max, rằng chúng ta sẽ không nhắc gì đến chuyện này trong bữa tiệc hôm nay.” Tôi nói thêm, “Tôi cần một ly bia.” Tôi đi ra chỗ khác, để lại Max với một khẩu xúc xích trên tay.

Beth bước kịp tôi và nói, “Anh thô quá.”

“Đáng đời.”

“Anh nên nhớ là em phải làm việc với anh ấy.”

“Thế thì làm việc với anh ta đi.” Tôi nhìn thấy cô phục vụ mà tôi thích, cô cũng nhìn thấy tôi. Trên chiếc khay có một ly bia, cô đưa cho tôi. Beth lấy một ly rượu vang.

Beth nói, “Em muốn anh nói cho em nghe về chuyện đào khảo cổ, về Fredric Tobin, về tất cả những điều mà anh đã tìm ra cùng tất cả các kết luận của anh. Đổi lại, em sẽ để anh có địa vị chính thức, và anh sẽ có tất cả các nguồn thông tin của cảnh sát quận. Anh nghĩ sao?”

“Nghe nhé, em hãy giữ địa vị chính thức của em, anh đã gặp đủ rắc rối rồi, nhưng anh sẽ nói hết cho em vào ngày mai. Sau đó thì anh đi khỏi đây.”

“John, đừng làm khó thế.”

Tôi không đáp.

“Anh có muốn em điện chính thức cho sếp anh không? Tên ông ấy là gì?”

“Là chánh thanh tra chết tiệt. Không phải lo chuyện đó.” Ban nhạc đang chơi bài “Khi thời gian trôi qua”. Tôi hỏi nàng, “Muốn nhảy không?”

“Không. Chúng ta nói chuyện được không?”

“Tất nhiên là được.”

“Anh nghĩ là chuyện người nhân viên của Đảo Plum kia chết đuối là có liên quan đến vụ này à?”

“Có thể. Chúng ta có thể không bao giờ biết. Nhưng anh thấy một điểm chung.”

“Điểm chung gì?”

“Em đội cái mũ ấy trông được đấy.”

“Em muốn nói về vụ án, John.”

“Không phải ở đây, và không phải lúc này.”

“Ở đâu và khi nào.”

“Ngày mai.”

“Tối nay. Anh đã nói là tối nay. Em sẽ quay lại chỗ ở của anh.”

“Ờ... anh không biết là anh có thể làm chuyện đó...”

“Này, John, em không mời anh làm tình với em đâu nhé. Em chỉ cần nói chuyện với anh. Hãy đến một quán bar hay chỗ nào đó.”

“Ờ... anh không nghĩ là chúng ta nên rời khỏi đây cùng nhau.”

“Ồ... đúng rồi. Anh đang yêu.”

“Không... ờ... có thể là anh... dù sao chuyện này cũng có thể để đến ngày mai mà. Nếu anh đúng trong vụ này, người mà chúng ta tìm đang ở ngay kia, hắn đang làm chủ bữa tiệc. Nếu là em, anh sẽ cho theo dõi hắn từ ngày mai. Nhưng đừng đánh động hắn. Được chứ?”

“Được, nhưng-”

“Chúng ta sẽ gặp nhau ngày mai, anh sẽ cho em biết tất cả, sau đó việc của anh coi như xong. Thứ hai anh quay về Manhattan rồi. Anh có hẹn với bác sỹ và cấp trên cả ngày thứ ba. Được không? Ngày mai. Anh hứa.”

“Được.” Nàng cụng ly với tôi và cả hai cùng uống.

Chúng tôi nói chuyện phiếm một lúc. Trong khi nói chuyện, tôi nhìn thấy Emma ở đằng xa. Nàng đang nói chuyện với một nhóm người trong đó có Fredric Tobin, người tình cũ và là nghi phạm giết người. Không hiểu sao tôi cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy hai người nói chuyện với nhau. Ý tôi là, tỏ vẻ bình thường đi, John. Khi cô vợ tôi có những chuyến đi dài với gã sếp Randy Dan của cô ta, tôi có bực bội gì đâu? Không nhiều lắm.

Beth nhìn theo ánh mắt tôi và nói, “Chị ấy có vẻ rất tuyệt.”

Tôi không đáp.

Beth nói tiếp, “Em vô tình nhắc tên cô ấy với Max.”

Đúng là tôi không có phản ứng gì.

Beth bảo, “Chị ấy từng là... bạn gái của Fredric Tobin. Em đoán là anh cũng biết chuyện đó. Em chỉ nhắc đến vì biết đâu anh không biết. Ý em là, anh nên thận trọng khi tâm sự trên giường nếu Tobin là nghi phạm. Hay đó là lí do anh làm thân với chị ấy? Để tìm hiểu thêm về Tobin? John? Anh có nghe em nói không đấy?”

Tôi nhìn nàng và nói, “Em biết đấy, Beth, có lúc anh ước một trong những viên đạn kia làm anh trở thành bất lực. Như thế anh sẽ hoàn toàn thoát khỏi vòng tay của phụ nữ.”

Nàng nhận xét, “Lần sau có ngủ với cô ấy, anh sẽ không nghĩ như thế đâu.” Nàng quay người bỏ đi.

Tôi nhìn quanh, một lần nữa nghĩ rằng Tom và Judy sẽ đến đây tối nay nếu họ còn sống. Tôi tự hỏi không biết kho báu theo kế hoạch có được tìm thấy tuần này trên mảnh đất kia hay không. Đến giờ họ đã thông báo với báo chí hay chưa? Hay họ sẽ thông báo ngay tối nay?

Nhưng dù thế nào, tối nay vợ chồng Gordon cũng đang nằm trong nhà xác lạnh lẽo. Kho báu đang được giấu ở đâu đó, còn kẻ giết họ đang đứng cách tôi chừng mười lăm mét và nói chuyện với người phụ nữ mà tôi rất yêu quý. Tôi nhận ra Tobin và Emma đang đứng riêng và nói chuyện tay đôi.

Tôi nhìn đã thấy đủ liền đi ra quanh sườn nhà, ném bỏ mũ và thanh kiếm trên đường đi. Chừng nửa đường qua bãi cỏ phía trước, tôi nghe tiếng gọi tên mình nhưng vẫn bước tiếp.

“John!”

Tôi quay lại.

Emma đang bước vội qua bãi cỏ. “Anh đi đâu đấy?”

“Đến chỗ nào đó mà anh có thể uống bia.”

“Em sẽ đi cùng anh.”

“Không. Anh không cần ai đi cùng.”

Nàng cho tôi biết, “Anh rất cần người bên cạnh, bạn của em ơi. Đó là điều rắc rối của anh. Anh đã ở một mình quá lâu.”

“Em viết chuyện tình cảm cho cho tờ tuần san địa phương đấy à?”

“Em không cắn câu đâu, mà em cũng không để anh rời chỗ này một mình. Anh định đi đâu?”

“Nhà hàng Olde Towne Taveme.”

“Đúng chỗ em thích. Anh đã ăn món bánh khoai tây rán của họ chưa?” Nàng nắm cánh tay tôi và hai người cùng đi.

Tôi lên chiếc xe cũ của nàng và hai mươi phút sau, chúng tôi đã ngồi bên một chiếc bàn ở nhà hàng Olde Towne Taveme, tay cầm bia, bánh khoai tây rán và cánh gà sắp mang đến. Những khách hàng quen của tối thứ bảy trông không có vẻ gì là sẽ đến hoặc vừa mới về từ buổi tiệc của Freddie.

Emma nói, “Em gọi cho anh tối qua.”

“Anh tưởng em đi với các cô.”

“Lúc về em gọi cho anh. Khoảng nửa đêm.”

“Không làm ăn được gì à?”

“Không.” Nàng nói, “Em đoán là anh đang ngủ.”

“Thực ra là anh đến Foxwoods. Người đến đó có thể không còn quần mà mặc về.”

“Kể cho em nghe đi.”

Chúng tôi nói chuyện một lúc, rồi tôi bảo nàng, “Anh nghĩ là em đã không nói gì với Fredric về những điều mà chúng ta đã trao đổi.”

Nàng ngập ngừng khoảng nửa giây, rồi đáp, “Em không nói ... nhưng em có bảo ông ấy... em nói là anh với em hẹn hò với nhau.” Nàng mỉm cười, “Có phải chúng ta đang hẹn hò không nhỉ?”

“Các nhân viên tư liệu lúc nào cũng nhớ ngày[2] - Mùng 4 tháng Bảy năm 1776, mùng 7 tháng Mười Hai năm 1941

“Nghiêm túc đi.”

“Được, anh mong một cách nghiêm túc là em đã không nhắc gì đến anh.”

Nàng nhún vai. “Em đang hạnh phúc, và em muốn mọi người biết điều đó. Ông ấy chúc em may mắn.”

“Thật là một người hào hoa.”

Nàng mỉm cười. “Anh ghen à?”

“Không hề.” Mình sắp được thấy hắn chết khô trên ghế điện. “Anh nghĩ em không nên nói về chúng ta với ông ấy, và tất nhiên không nên nói về kho báu của cướp biển.”

“Được rồi.”

Và chúng tôi có một bữa tối thật ngon, sau đó chúng tôi về nhà nàng, một căn nhà nhỏ trong một khu dân cư của Cutchogue. Nàng cho tôi xem bộ sưu tập chậu sứ của nàng, gồm mười cái, tất cả đều để trồng cây và đặt trên chiếc cửa sổ lớn chìa ra ngoài. Món quà tôi tặng nàng giờ đã thành chậu hoa hồng tiểu muội.

Nàng ra khỏi phòng một lát và quay vào với một món quà được gói cẩn thận cho tôi. Nàng bảo, “Em lấy trong cửa hàng đồ lưu niệm của hội lịch sử. Em không chôm đâu, nhưng em được giảm giá bốn mươi phần trăm cho chính mình.”

“Em không nhất thiết phải-”

“Anh cứ mở ra đi.”

Tôi mở. Đó là một cuốn sách có tựa đề Câu chuyện về kho báu cướp biển.

Nàng bảo, “Anh mở đến tờ để trắng đi.”

Tôi mở ra và đọc, “Tặng John, gã cướp biển yêu quý của em, Emma.” Tôi mỉm cười và nói, “Cám ơn em. Đây là thứ lúc nào anh cũng muốn có được.”

“Ồ, không phải mọi lúc. Nhưng em nghĩ anh có thể muốn xem qua.”

“Anh sẽ xem.”

Ngôi nhà nhỏ của nàng thật xinh đẹp. Nó sạch sẽ, lại không nuôi mèo, nàng uống cả rượu mạnh lẫn bia, đệm giường lại chắc. Nàng thích nghe nhạc Beatles và Bee Gees, và nàng có hai chiếc gối cho tôi. Tôi còn đòi hỏi gì hơn nữa đây? À, món bánh kem. Món này nàng cũng có.

Sáng hôm sau, chủ nhật, chúng tôi ra ngoài ăn sáng ở quán Cutchogue Diner, rồi không cần hỏi tôi, nàng lái xe tới nhà nhờ. Đó là một nhà thờ bàng gỗ xinh đẹp của hội Giám lý. Nàng giải thích, “Em không phải là người cuồng tín, nhưng đôi khi nó làm em thoải mái về tinh thần. Nó cũng không ảnh hưởng gì đến công việc.”

Thế là tôi dự lễ nhà thờ, sẵn sàng chui xuống gậm ghế nếu trần nhà sập xuống.

Sau khi ở nhà thờ, chúng tôi đến chỗ dinh thự của Tobin để lấy xe của tôi rồi Emma theo về nhà tôi.

Trong lúc Emma pha trà cho mình, tôi gọi cho Beth ở văn phòng của nàng. Nàng không có ở đấy nên tôi để lại lời nhắn cho một người cũng nói là đang tham gia điều tra vụ vợ chồng Gordon. Tôi bảo anh ta, “Nhờ anh nói với cô ấy là tôi đi vắng cả ngày. Tôi sẽ tìm cách nói chuyện với cô ấy tối nay. Nếu không thì cô ấy nên đến chỗ tôi vào sáng mai uống cà phê.”

“Được rồi.”

Tôi gọi về nhà cho Beth và chỉ thấy máy tự động trả lời. Tôi để lại lời nhắn tương tự.

Cảm thấy rằng tôi đã làm đủ những gì cần làm để giữ lời hứa, tôi vào trong bếp và bảo Emma, “Ta đi rong chơi một ngày chủ nhật nhé.”

“Nghe hay đấy.”

Nàng đi bằng xe của nàng về nhà và tôi đi theo. Sau đó chúng tôi tới Orient Point trên chiếc xe Jeep của tôi và bắt chuyến tàu thủy đi New London. Chúng tôi đi cả ngày ở bang Connecticut và Rhode Island, thăm thú những biệt thự ở Newport, ăn tối ở Mystic, rồi đi tàu thủy về nhà.

Chúng tôi đứng trên bong tàu, ngắm nhìn mặt nước và những vì sao.

Con tàu đi qua eo biển ra Đảo Plum, và tôi thấy ngọn hải đăng Orient Point ở bên phải. Bên trái, ngọn hải đăng Đảo Plum tối đen và trông đáng sợ trên nền trời đêm.

Sóng trên eo biển dập dềnh. Emma bảo, “Cơn bão đang đi theo đường này. Biển động rất lâu trước khi cơn bão đến.” Nàng nói thêm, “Phong vũ biểu đang xuống thấp. Anh có cảm thấy thế không?”

“Cảm thấy cái gì?”

“Áp suất không khí tụt.”

“Uh...” Tôi thè lưỡi ra. “Chưa thấy gì.”

“Em cảm thấy được đấy. Em rất nhạy cảm với thời tiết.”

“Điều đó tốt hay xấu.”

“Em nghĩ nó là tốt.”

“Anh cũng nghĩ thế.”

“Anh có chắc là không cảm thấy gì không? Mấy vết thương của anh có thấy đau chút nào không?”

Tôi ấn ấn vào mấy vết thương và đúng là hơi thấy đau thật. Tôi bảo Emma, “Cám ơn em đã làm anh để ý tới việc này.”

“Quan tâm đến cơ thể là việc nên làm, để hiểu được những liên quan giữa các yếu tố bên ngoài với thể chất và tinh thần của mình.”

“Rất đúng.”

“Thí dụ, em hơi điên điên vào ngày trăng tròn.”

“Điên hơn chứ.” Tôi nói.

“Vâng. Điên hơn ngày thường. Thế còn anh?”

“Anh rất nổi hứng ngày đó.”

“Thật không? Nổi hứng vào ngày trăng tròn?”

“Trăng tròn, trăng bán nguyệt, trăng lưỡi liềm.”

Nàng bật cười.

Tôi liếc nhìn qua Đảo Plum khi chúng tôi đi ngang qua. Tôi có thể thấy một vài ánh đèn trên cột phát sóng và ở phía chân trời, một vầng sáng từ phòng thí nghiệm chính hắt lên những bóng cây. Ngoài chỗ ấy, cả hòn đảo chìm trong bóng tối như nó vẫn thế từ ba trăm năm trước. Nếu nheo mắt lại, tôi có thể tưởng tượng ra con tàu San Antonio của William Kidd đang thăm dò xung quanh đảo vào một đêm tháng Bảy năm 1699. Tôi có thể thấy một chiếc xuồng nhỏ được hạ xuống từ sườn tàu, trên xuồng là Kidd và có thể là một hoặc hai người khác, rồi tôi thấy có người trong chiếc tàu đang chèo vào bờ...

Emma cắt ngang suy nghĩ của tôi và hỏi, “Anh đang nghĩ gì thế?”

“Anh đang tận hưởng một đêm hạnh phúc.”

“Anh đang nhìn chăm chú đến Đảo Plum.”

“Ừ... anh đang nghĩ đến... vợ chồng Gordon.”

“Anh đang nghĩ đến thuyền trưởng Kidd.”

“Em như phù thủy ấy.”

“Em là một tín đồ tốt và là một con chó cái. Nhưng chỉ một lần mỗi tháng.”

“Và em còn nhạy cảm với thời tiết.”

“Đúng vậy.” Nàng hỏi tôi, “Anh có định nói cho em biết thêm điều gì về... về vụ giết người này không?”

“Không, anh không nói.”

“Không sao. Em hiểu mà. Nếu anh cần điều gì từ em thì cứ hỏi nhé. Em sẽ làm bất cứ việc gì có thể để giúp anh.”

“Cám ơn em.”

Con tàu cập bến, nàng hỏi tôi, “Anh có muốn ở nhà em tối nay không?”

“Ờ... anh muốn... nhưng anh phải về nhà.”

“Em có thể đến nhà anh.”

“Ờ... nói thật với em, anh phải nói chuyện hoặc gặp điều tra viên Penrose tối nay, và anh phải xem anh còn có thể làm điều đó hay không.”

“Không sao.”

Chúng tôi để câu chuyện dừng lại ở đó.

Tôi chở nàng về nhà nàng. Tôi bảo, “Anh sẽ gặp em ngày mai sau giờ làm việc.”

“Tốt. Có một nhà hàng rất hay ở sát biển mà em muốn đưa anh tới.”

“Anh mong đến lúc đó.” Chúng tôi hôn nhau bên thềm cửa rồi tôi lên xe về nhà.

Tôi có bảy tin nhắn. Tôi không có tâm trạng nào để nghe và đi ngủ luôn. Để đến sáng mai thì chúng vẫn còn đấy.

Trước khi thiếp đi, tôi cố nghĩ phải làm gì đấy với Fredric Tobin. Có những lúc trong tình huống này mà ta đã tìm được kẻ cần tìm, nhưng lại chưa tóm được hắn. Có một thời khắc cực kỳ quan trọng khi ta phải quyết định rằng ta có nên tiếp tục săn lùng kẻ kia, đối đầu với hắn, buộc hắn phải lộ mặt, hay giả vờ là không còn để ý đến hắn nữa.

Lẽ ra tôi cũng nên nghĩ rằng khi ta dồn con thú hoặc một người tới chân tường, thì họ có thể trở nên rất nguy hiểm - rằng trò chơi được cả hai bên cùng chơi, người đi săn và kẻ bị săn, và rằng kẻ bị săn có nhiều thứ để mất hơn nhiều so với người đi săn.

Nhưng tôi đã quên không nghĩ rằng Tobin là một con thú biết nghĩ và vô cùng xảo quyệt bởi gã đã tạo cho tôi ấn tượng rằng gã là một kẻ công tử bột, cũng như cách tôi làm gã tưởng tôi là thằng khờ. Tôi và hắn, cả hai đều biết nhiều hơn, nhưng đều bị ru ngủ bởi hành động của người kia. Dù sao, tôi vẫn đổ lỗi cho mình về những điều xảy ra.

❀ ❀ ❀

[1] Nơi những người khám phá ra miền đất lên bờ lần đầu tiên.

[2] Trong tiếng Anh, động từ to date có nghĩa là hẹn hò, có quan hệ tình cảm với ai đó, nhưng cũng có nghĩa là ghi nhớ ngày của một sự kiện - ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.