Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

Khi chúng tôi đến gần đảo, chiếc Plum Runner chạy chậm lại. Tôi đứng lên đi về phía mạn trái và tựa vào lan can. Bên trái tôi, ngọn hải đăng Đảo Plum cũ bằng đá đang hiện ra trước mắt. Tôi nhận ra nó vì đó là vật mẫu yêu thích của các họa sỹ vẽ tranh màu nước rởm đời quanh đây. Bên phải ngọn hải đăng, ở gần bờ hơn là một tấm biển lớn đề, “CHÚ Ý! CÓ DÂY CÁP! KHÔNG VÉT LƯỚI! KHÔNG KÉO LƯỚI!”

Thế này nếu bọn khủng bố muốn phá nguồn cấp điện và đường dây liên lạc của Đảo Plum thì chính quyền đã chỉ đường cho chúng. Mặt khác, nói cho công bằng, tôi cho rằng Đảo Plum có máy phát điện dự phòng và điện thoại di động cùng điện đài riêng.

Chiếc Plum Runner lách qua eo biển hẹp vào một vịnh nước nhỏ, dường như được tạo ra không phải bởi thượng đế vạn năng mà là quân đoàn xây dựng, những người thích đặt những nét hoàn thiện vào những công trình của tạo hóa.

Không có nhiều nhà cửa quanh bến, chỉ một vài tòa kiểu nhà kho có lẽ đã bị bỏ hoang từ thời quân đội đóng ở đây.

Beth đến cạnh tôi và nói nhỏ, “Trước khi anh đến bến phà, tôi nhìn thấy...”

“Tôi cũng ở đó. Tôi có thấy. Cám ơn.”

Con tàu quay một trăm tám mươi độ và lùi vào bến.

Các đồng nghiệp của tôi đang đứng cạnh lan can. Stevens nói, “Chúng ta sẽ đợi cho đến khi các nhân viên lên hết.”

Tôi hỏi gã, “Bến cảng này là nhân tạo à?”

Gã đáp, “Đúng. Quân đội xây dựng cảng này khi họ lập các khẩu đội pháo ở đây trước cuộc chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha.”

Tôi gợi ý, “Có thể anh muốn bỏ tấm biển báo có dây cáp chạy qua kia.”

Gã đáp, “Chúng tôi không có cách nào khác. Chúng tôi phải để cho tàu thuyền biết. Dù sao thì nó cũng có trong các hải đồ.”

“Nhưng nó có thể đề là ‘Đường ống nước ngọt’. Anh không nhất thiết phải kể hết ra thế.”

“Đúng.” Gã liếc nhìn tôi và định nói gì đó nhưng lại thôi. Có thể gã muốn mời tôi làm việc ở đây.

Người nhân viên cuối cùng đã lên bờ. Chúng tôi xuống cầu thang và ra khỏi tàu qua lối cửa ở đuôi lan can. Và giờ đây chúng tôi đặt chân lên Đảo Plum huyền bí. Trên bãi tàu có gió và nắng, trời mát. Những con vịt lạch bạch quanh bờ, và tôi mừng khi thấy chúng không có răng nanh, mắt chúng không đỏ ngầu hay bất cứ thứ gì.

Như tôi đã nói, hòn đảo có hình giống như một miếng sườn lợn - có lẽ là một miếng sườn cừu non - còn cái vịnh ở phần cuối nhiều mỡ của miếng sườn, như thể có ai đó đã cắn một miếng nhỏ vào đó, nếu tiếp tục sự so sánh đầy ngớ ngẩn này.

Chỉ có một con tàu duy nhất cột ở bến. Chiếc tàu dài khoảng chục mét, có cabin, đèn pha và một động cơ đặt bên trong. Tên của con tàu này là Prune. Có ai đó đã khôi hài đặt tên cho chiếc phà và con tàu này, và tôi không nghĩ đó là Paul Stevens, người có ý tưởng đi biển hài hước có lẽ là xem những con tàu như bệnh viện bị tàu ngầm Đức phóng ngư lôi.

Tôi nhìn thấy một tấm biển bằng gỗ dãi dầu mưa nắng, trên đó đề, “Trung tâm nghiên cứu bệnh dịch động vật Đảo Plum.” Phía sau tấm biển là một cột cờ và lá cờ Mỹ trên đó cũng treo rủ.

Các nhân viên rời phà lên một chiếc xe buýt màu trắng rồi xe chạy. Chiếc phà rúc còi, nhưng tôi không thấy ai lên phả trở về Orient.

Stevens nói, “Hãy ở đây.” Gã sải bước đi rồi dừng lại nói chuyện với một người đàn ông mặc bộ áo liền quần màu da cam.

Có một thứ cảm giác kì lạ ở nơi này - những người mặc áo liền quần màu da cam, đồng phục màu xanh, xe buýt màu trắng, rồi tất cả những câu như “hãy ở đây” và “ở cùng nhau.” Ý tôi là, tôi đang ở đây trên một hòn đảo cấm với cái gã tóc vàng trông như Đức quốc xã, một chiếc trực thăng trang bị súng lượn xung quanh, bảo vệ mang vũ khí có mặt khắp mọi nơi. Tôi có cảm giác như thể đã bước vào một bộ phim của James Bond, ngoại trừ nơi này là thật. Tôi nói với Max, “Khi nào chúng ta gặp Ông Không đấy?”

Max cười lớn, ngay cả Beth cùng Nash và Foster cũng mỉm cười.

Beth nhìn sang Max. “Tôi vừa nhớ ra, làm sao mà anh lại chưa bao giờ gặp Paul Stevens?”

Max đáp, “Bất cứ khi nào có một cuộc họp chung các cơ quan thực thi pháp luật, chúng tôi đều mời giám đốc an ninh của Đảo Plum cho phải phép. Họ chưa bao giờ có mặt. Tôi nói chuyện với Stevens một lần qua điện thoại, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy anh ta cho tới sáng nay.”

Ted Nash nói với tôi, “À này, John Corey, tôi đã biết anh không phải điều tra viên của quận Suffolk.”

“Tôi đã bao giờ nói thế đâu.”

“Ồ, thôi đi, anh bạn. Anh và cảnh sát trưởng Maxwell làm tôi và George tin thế đấy.”

Max nói, “Điều tra viên Corey đã được thị trấn Southold thuê làm cố vấn trong vụ án này.”

“Thật à,” Nash hỏi. Gã nhìn tôi và nói, “Anh là một điều tra viên án giết người của thành phố New York, bị thương trong khi làm nhiệm vụ ngày mười hai tháng Tư. Anh hiện đang trong thời gian nghỉ dưỡng thương.”

“Ai hỏi anh?”

Foster chuyên hòa giải xen vào, “Chúng tôi không quan tâm, John. Chúng tôi chỉ muốn xác lập khả năng và thẩm quyền.”

Beth nói với Nash và Foster, “Được rồi, vậy đây là thẩm quyền của tôi và vụ án của tôi, và tôi thấy không có vấn đề gì với sự có mặt của John Corey ở đây.”

“Tốt,” Foster nói.

Nash không tỏ ý đồng tình. Điều này khiến tôi tin là gã có vấn đề, mà thế cũng tốt.

Beth nhìn Ted Nash và yêu cầu, “Giờ thì chúng ta đã biết John Corey làm việc cho ai, còn anh làm cho ai?”

Nash ngập ngừng một chút rồi nói, “CIA.”

“Cám ơn.” Nàng nhìn George Foster và Ted Nash rồi nói, “Nếu một trong hai anh còn quay lại hiện trường vụ án mà không đăng kí vào sổ theo dõi, tôi sẽ thông báo cho ủy viên công tố. Các anh sẽ phải tuân thủ tất cả các thủ tục giống như những người khác, hiểu chưa?”

Họ gật đầu. Tất nhiên, họ không có ý đó.

Paul Stevens trở lại và nói, “Ngài giám đốc hiện chưa có ở đây. Tôi được cảnh sát trưởng Maxwell cho biết là các bạn muốn đi thăm hòn đảo một chút, vậy chúng ta có thể đi một vòng. Xin đi theo...”

“Khoan đã,” Tôi nói và chỉ vào chiếc tàu Prune. “Đó là tàu của các anh à?”

“Đúng. Đó là tàu tuần tra.”

“Nhưng nó đang không đi tuần tra.”

“Chúng tôi có một chiếc khác đang ở ngoài.”

“Vợ chồng Gordon đỗ tàu ở đây à?”

“Vâng. Xin đi theo...”

“Anh có phương tiện tuần tra đi quanh đảo không?” Tôi hỏi.

Rõ ràng là gã không thích bị người khác hỏi, nhưng vẫn đáp lại, “Có, chúng tôi có phương tiện đi tuần tra quanh đảo.” Gã nhìn tôi và sốt ruột hỏi, “Còn câu hỏi nào nữa không, thưa điều tra viên?”

“Còn. Việc một nhân viên sử dụng tàu riêng của mình đi làm có bình thường không?”

Gã để một vài giây trôi qua rồi đáp, “Khi chính sách ‘không bao giờ rời’ được thực hiện nghiêm túc thì chuyện đó bị cấm. Hiện chúng tôi đã nới lỏng các quy định thêm một chút, vì thế thỉnh thoảng cũng có nhân viên đi làm bằng tàu riêng. Chủ yếu là vào mùa hè.”

“Các anh có cho phép ông bà Gordon đi làm bằng tàu không?”

Gã đáp, “Ông bà Gordon là nhân viên cấp cao và là các nhà khoa học lương thiện. Chỉ cần họ thực hiện các biện pháp tẩy trùng và tuân thủ các quy định về an toàn và an ninh thì chúng tôi không có vấn đề gì thực sự với việc họ đi lại bằng tàu riêng.”

“Tôi hiểu.” Tôi hỏi tiếp, “Đã bao giờ anh nghĩ ông bà Gordon có thể dùng tàu của họ để mang các vi sinh vật chết người ra khỏi đây chưa?”

Gã suy nghĩ một hai giây rồi trả lời vòng vo, “Đây là một nơi làm việc chứ không phải nhà tù. Nhiệm vụ chính của tôi ở đây là ngăn không cho người lạ vào. Chúng tôi tin tưởng vào người của mình, nhưng để chắc chắn, tất cả các nhân viên đều trải qua các cuộc kiểm tra lý lịch của FBI.” Stevens nhìn đồng hồ và nói, “Chúng ta còn nhiều việc phải làm. Hãy đi theo tôi.”

Chúng tôi đi theo gã Stevens tức tối tới một chiếc xe buýt nhỏ và lên xe. Người lái xe mặc bộ đồng phục màu xanh giống như các nhân viên an ninh và tôi nhận ra anh ta mang súng ngắn để trong bao.

Tôi ngồi phía sau người lái xe và vỗ vỗ chiếc ghế bên cạnh dành cho Beth, nhưng chắc hẳn nàng đã không nhìn thấy động tác của tôi vì nàng lại ngồi vào chiếc ghế đôi bên kia lối đi đối diện với tôi. Max ngồi sau tôi, Nash và Foster ngồi tách ra ở đằng sau.

Stevens vẫn đứng và nói, “Trước khi đến thăm khu vực chính, chúng ta sẽ đi một vòng quanh đảo để các bạn có thể có một chút cảm giác về nơi này và nghĩ đúng hơn về những khó khăn cho công tác bảo vệ an ninh của một hòn đảo kích thước như thế này với mười dặm bờ biển và không có hàng rào.” Gã nói thêm, “Chưa bao giờ có sai sót nào về an ninh trong lịch sử của hòn đảo.”

Tôi hỏi Stevens, “Loại súng các nhân viên bảo vệ của anh đeo ở sườn là loại gì vậy?”

Gã đáp, “Súng ngắn tự động Colt 45 do quân đội sản xuất.” Gã nhìn quanh khắp xe rồi hỏi, “Tôi nói điều gì làm mọi người chú ý à?”

Max bảo gã, “Chúng tôi nghĩ vũ khí trong vụ án mạng là một khẩu 45.”

Beth nói, “Tôi muốn thống kê vũ khí của các anh và kiểm tra đạn đạo của từng khẩu.”

Paul Stevens không hào hứng trả lời.

Beth hỏi, “Các anh có bao nhiêu khẩu súng ngắn 45.”

Gã nói, “Hai mươi.”

Max hỏi tiếp, “Anh có mang khẩu nào theo người không.” Stevens vỗ vỗ vào áo và gật đầu.

Beth hỏi, “Anh luôn mang cùng một khẩu à.”

“Không.” Gã đáp, “Tôi lấy một khẩu từ kho hàng ngày trong tuần.” Gã nhìn Beth nói, “Nghe giống như tôi đang bị thẩm vấn.”

“Không,” Beth đáp, “Chúng tôi chỉ hỏi anh với tư cách một nhân chứng thân thiện. Nếu anh bị thẩm vấn, anh sẽ được thông báo.”

Nash từ đằng sau tôi nói, “Có lẽ chúng ta nên để ngài Stevens bắt đầu chương trình. Chúng ta sẽ có thời gian để hỏi sau.”

Beth nói, “Xin cứ tiếp tục.”

Stevens vẫn đứng và nói, “Vâng. Trước khi chúng ta bắt đầu, tôi sẽ có vài lời mà tôi thường nói với các nhà khoa học, các vị cao cấp và báo chí.” Gã liếc xuống chiếc cặp bìa tẻ nhạt và bắt đầu bằng giọng đều đều như học thuộc lòng, “Đảo Plum rộng 840 mẫu Anh[1] gồm hầu hết là rừng và đồng cỏ cùng một bãi diễu binh mà lát nữa chúng ta sẽ thấy. Hòn đảo được nêu trong các cuốn sách hướng dẫn đi biển đầu tiên của các thủy thủ Hà Lan và Anh. Người Hà Lan gọi tên hòn đảo theo loại cây mận mọc ven biển - tiếng Hà Lan cổ là Pruym Eyland, nếu ai đó muốn quan tâm. Hòn đảo thuộc tộc người da đỏ Montauk India và được một người có tên là Samuel Wyllys mua năm 1654 từ tộc trưởng Wyandanch. Wyllys và những người di cư khác đến sau đã sử dụng hòn đảo làm nơi chăn cừu và gia súc, một điều rất trớ trêu nếu so sánh với mục đích sử dụng hiện nay.”

Tôi ngáp.

Stevens tiếp tục, “Dù sao cũng không có ai định cư lâu dài trên đảo này. Vì vậy các bạn có thể hỏi làm thế nào mà những người di cư đến đây lại nuôi gia súc trên một hòn đảo không thể sinh sống được? Theo những gì được ghi chép lại, eo biển giữa Orient và Đảo Plum ở thế kỉ mười bảy và mười tám nông đến mức gia súc có thể lội qua khi thủy triều xuống thấp. Một trận bão nhiệt đới vào cuối thế kỉ mười tám đã làm cho eo biển sâu hơn và chấm dứt khả năng sử dụng đảo làm nơi chăn thả gia súc. Tuy nhiên, từ khi bắt đầu có sự hiện diện của người Anh, hòn đảo liên tục có bọn cướp biển viếng thăm vì chúng thấy sự tách biệt của hòn đảo thật tiện lợi.”

Tôi đột nhiên đâm hoảng. Ở đây tôi bị kẹt trong một chiếc xe buýt con với cái gã thiểu năng giọng đều đều đang bắt đầu với quyển một của kinh thánh, còn chúng tôi mới đến năm một nghìn bảy trăm bao nhiêu đó với ba trăm năm để đi, trong khi chiếc xe chết tiệt thậm chí còn chưa nhúc nhích, còn tôi thì không thể rời đi trừ khi phải mở đường máu. Tôi đã làm gì để phải chịu đựng thế này? Mợ June đang nhìn xuống tôi từ trên thiên đường và cười rũ rượi. Tôi như vẫn nghe bà nói, “Này, Johnny, nếu cháu có thể nói lại điều mợ nói với cháu hôm qua về người da đỏ Montaik Indian, mợ sẽ mua cho cháu một cây kem hình chóp.” Không, không, không! DỪNG LẠI!

Stevens tiếp tục, “Trong thời kỳ chiến tranh Cách mạng, những người Mỹ yêu nước từ Connecticut sử dụng hòn đảo để tổ chức các cuộc tập kích vào các đồn lũy của quân Anh ở Southold. Sau đó George Washington, người đã đến thăm North Fork

Tôi đưa tay lên bịt tai, nhưng vẫn nghe thấy tiếng ậm ừ trầm thấp.

Cuối cùng, tôi giơ tay và hỏi gã, “Anh là thành viên của hội Lịch sử Peconic à?”

“Không, nhưng họ giúp chúng tôi viết sử.”

“Có thứ gì đại loại như sách nhỏ hay thứ gì đó để chúng tôi có thể đọc sau, còn anh có thể để dành bài phát biểu này nói với một nghị sỹ quốc hội?”

Beth nói, “Tôi thấy nó hấp dẫn.”

Nash và Foster lên tiếng đồng tình.

Max cười nói, “Anh thấp phiếu hơn rồi, John.”

Stevens lại mỉm cười với tôi lần nữa. Tại sao tôi lại nghĩ gã muốn rút khẩu Colt 45 và tương cả băng đạn vào tôi nhỉ? Gã nói, “Hãy kiên nhẫn, ngài điều tra viên. Dù sao chúng ta cũng cần giết thời gian một chút.” Gã tiếp tục, nhưng tôi nhận ra hắn nói nhanh hơn trước. “Ngay đêm trước của cuộc chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha, chính phủ đã mua một 130 mẫu đất trên đảo để sử dụng cho mục đích phòng thủ bờ biển và pháo đài Terry được dựng lên. Chúng ta sẽ thấy pháo đài Terry bị bỏ hoang sau.”

Tôi liếc nhìn Beth và thấy nàng đang nhìn chăm chú vào Paul Stevens, rõ ràng nàng mải mê với bài diễn văn của gã. Khi tôi đang nhìn Penrose, nàng chợt quay về phía tôi và ánh mắt hai người gặp nhau. Nàng dường như bối rối vì bị tôi bắt gặp nàng nhìn tôi, nàng mỉm cười nhanh rồi quay lại phía Stevens. Tim tôi hẫng mất một nhịp. Tôi lại yêu mất rồi.

Stevens vẫn tiếp tục, “Tôi phải nói với các bạn rằng trên hòn đảo này có những hiện vật của ba trăm năm lịch sử, và nếu đây không phải là hòn đảo cấm thì sẽ có nhiều nhà khảo cổ học đến đào bới ở các khu vực hầu hết còn nguyên vẹn. Chúng tôi hiện đang thương lượng với hội Lịch sử Peconic xem có thế dàn xếp cho một cuộc đào tìm kiếm thử nghiệm. Thực tế, ông bà Gordon là thành viên của hội Lịch sử Peconic và họ là đầu mối quan hệ giữa bộ Nông nghiệp, hội Lịch sử và một số nhà khảo cổ học ở đại học Stony Brook. Ông bà Gordon và tôi đã xác định được một số điểm mà chúng tôi cho rằng sẽ không ảnh hưởng đến an toàn và an ninh của đảo.”

Đột nhiên tôi quan tâm đến điều này. Thi thoảng một từ hoặc cụm từ hay một cái tên xuất hiện trong một cuộc điều tra, và khi xuất hiện lần thứ hai, nó trở thành cái cần phải nghĩ đến. Chẳng hạn như hội Lịch sử Peconic. Ý tôi là bà mợ tôi cũng tham gia tổ chức ấy, và bạn thấy những tờ rơi, những bản tin ngắn xung quanh nó, rồi họ tổ chức tiệc côc-tai, gây quỹ, nói chuyện, vân vân, và điều đó khá bình thường. Rồi vợ chồng Gordon, những người không biết đến địa danh Plymouth Rock từ một người Xcốt-len sống ở đó, tham gia vào, để giờ đây Oberfuhrer[2] Stevens lôi vào bài diễn văn lê thê của gã. Đáng để tâm đấy.

Stevens tiếp tục huyên thuyên, “Năm 1929, dịch lở mồm long móng bùng phát khủng khiếp ở Mỹ, bộ Nông nghiệp mở cơ sở đầu tiên của mình trên hòn đảo này. Việc này mở đầu cho phần lịch sử hiện đại của đảo liên quan đến nhiệm vụ hiện nay. Ai có câu hỏi gì không?”

Tôi có một vài câu hỏi về việc vợ chồng Gordon rình mò quanh hòn đảo cách xa nơi họ được cho là đang làm việc trong phòng thí nghiệm. Họ là những người khôn ngoan, tôi kết luận. Chiếc tàu cao tốc, rồi hội Lịch sử Peconic, rồi vỏ bọc là những cuộc đào bới khảo cổ để họ có thế theo dõi hòn đảo. Cũng có thể những điều này không liên quan gì đến nhau mà chỉ là sự trùng hợp. Nhưng tôi không tin vào sự trùng hợp. Tôi không tin rằng các nhà khoa học được trả lương không xứng đến từ miền Trung Tây lại có sở thích chơi tàu cao tốc tốn kém và tham gia các hội khảo cổ và lịch sử. Những thứ này không phù hợp với thu nhập, với tính cách, với khí chất và những mối quan tâm trong quá khứ của Tom và Judy Gordon. Khổ nỗi những câu hỏi tôi dành cho Stevens lại không thể hỏi được nếu tôi không nói ra nhiều hơn những điều tôi muốn biết.

Stevens đang nói về bộ Nông nghiệp, tôi có thể yên tâm bỏ ngoài tai và làm trò bắt cá tay không. Tôi nhận ra rằng trước khi Stevens đề cập đến sở thích khảo cổ của vợ chồng Gordon, gã nói về một thứ gì đó làm bộ não của tôi rung động. Ý tôi là nó giống như sóng siêu âm truyền dưới nước, đập vào vật gì đó và phản xạ trở lại ống nghe. Ping. Có điều gì đó Stevens nói đã đập như thế, nhưng lúc gã nói thì tôi đang ngán ngẩm không để ý đến. Tôi đã để mất và bây giờ muốn quay lại, nhưng tôi không thể nhớ là cái gì.

Stevens thông báo, “Chúng ta sẽ đi một vòng quanh đảo.”

Người lái xe sực tỉnh và cho xe chạy. Tôi nhận thấy con đường được lát khá tốt, nhưng không có chiếc xe hay người nào khác trên đường.

Chúng tôi chạy quanh khu vục tòa nhà chính khổng lồ. Stevens chỉ cho chúng tôi tháp nước, xưởng tẩy độc nước thải, trạm điện, các xưởng máy và các xưởng hơi. Nơi đây dường như tự cung cấp mọi thứ, làm tôi lại nghĩ đến hang ổ của một nhân vật hung ác trong phim của James Bond, nơi một kẻ điên khùng âm mưu hủy diệt cả hành tinh. Chung qui lại đây là một hoạt động gì đó, và chúng tôi còn chưa nhìn thấy bên trong của tòa nhà nghiên cứu chính.

Đây đó chúng tôi gặp một tòa nhà mà Stevens không giới thiệu, và nếu ai đó trong chúng tôi hỏi thì gã chỉ nói, “Kho sơn,” hoặc “Kho thức ăn” hay thứ gì đó. Cũng có thể là những thứ ấy thật, nhưng gã không làm mọi người tin. Kỳ thực, tôi có cảm giác rất rõ rằng gã thích thú với những điều bí mật và tiêu khiển bằng cách làm cho chúng tôi tò mò.

Trừ tòa nhà chính phục vụ nghiên cứu, gần như tất cả các tòa nhà khác đều là kiến trúc quân sự cũ, hầu hết làm bằng gạch đỏ hoặc bê tông cốt thép. Phần lớn các tòa nhà đều bỏ hoang. Tóm lại là đã từng có một căn cứ quân sự lớn nằm trong tuyến phòng thủ bảo vệ thành phố New York trước một lực lượng hải quân thù địch chưa bao giờ xuất hiện.

Chúng tôi tới một dãy nhà bê tông có cỏ mọc xuyên qua các lớp xi măng trên vỉa hè. Stevens nói, “Tòa nhà lớn gọi là 257 theo tên của đơn vị quân đội cũ. Mấy năm trước, đó là phòng thí nghiệm chính. Sau khi chuyển đi, chúng tôi đã khử trùng bằng khí độc, sau đó đóng cửa vĩnh viễn phòng trường hợp có thứ gì đó bên trong vẫn còn sống.”

Không ai nói gì trong một hai giây, rồi Max hỏi, “Đây không phải là nơi đã để lọt vi trùng ra ngoài một lần đấy chứ?”

“Đó là trước thời tôi phụ trách,” Stevens nói. Gã nhìn tôi và nở nụ cười như tượng sáp. “Nếu ngài điều tra viên muốn xem bên trong, tôi có thể lấy chìa khóa cho anh.”

Tôi cười đáp từ và hỏi, “Tôi đi một mình được không?”

“Đó là cách duy nhất anh có thể vào tòa nhà 257. Sẽ không có ai vào đó cùng anh.”

Nash và Foster cười. Này anh bạn, tớ chưa lúc nào vui vẻ như thế từ cái hôm giẫm phải đám nước bầy nhầy và ngã vào cái xác chết đã mười ngày đâu nhé. Tôi nói, “Này, Paul, tôi sẽ vào nếu anh cũng vào.”

“Tôi rất không muốn chết.” Stevens đáp.

Khi chiếc xe chạy đến gần tòa nhà 257, tôi nhận ra có ai đó đã vẽ trên nền bê tông hình đầu lâu xương chéo khổng lồ màu đen. Ý nghĩ chợt đến với tôi là chiếc đầu người chết này thực sự có hai nghĩa - Jolly Roger, lá cờ của cướp biển mà vợ chồng Gordon đã treo trên cột cờ của họ, và nó còn là biểu tượng của chất độc hoặc nhiễm độc. Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc đầu lâu và hai khúc xương màu đen trên nền tường trắng, cho đến khi tôi quay đi, hình ảnh đó vẫn như hiện ra trước mắt. Và khi tôi nhìn vào Stevens, cái đầu lâu kia như đặt khít lên khuôn mặt gã, cả hai cùng cười nhe nhởn. Tôi dụi mắt cho tới khi ảo giác kia mất dần. Chà, nếu không phải giữa thanh thiên bạch nhật và có người xung quanh thì chắc tôi đã sởn gai ốc rồi.

Stevens tiếp tục, “Năm 1946, quốc hội cấp ngân sách cho xây dựng một cơ sở nghiên cứu. Pháp luật quy định các loại bệnh truyền nhiễm nhất định không được phép nghiên cứu trong lục địa của Mỹ. Điều này là cần thiết vào thời điểm mà công nghệ kiểm soát biến đổi gen sinh học chưa được tiên tiến cho lắm. Vì thế, Đảo Plum vốn hoàn toàn do chính phủ sở hữu và ngẫu nhiên lại do bộ Nông nghiệp và quân đội sử dụng chung trở thành một địa điểm đương nhiên cho việc nghiên cứu các bệnh dịch động vật độc hại.”

Tôi hỏi, “Ý anh là ở đây chỉ nghiên cứu các loại bệnh động vật.”

“Đúng như vậy.”

“Ông Stevens, trong khi chúng ta sẽ thất vọng nếu ông bà Gordon đánh cắp virut bệnh lở mồm long móng và các đàn gia súc của Mỹ, Canada và Mexico bị chết sạch, đó không phải là lí do chúng tôi tới đây. Có loại bệnh nào trong phòng thí nghiệm của Đảo Plum - các loại bệnh nhiễm ở cả người và động vật - có thể lây sang người được không?”

Gã nhìn tôi đáp, “Câu đó thì anh phải hỏi ông giám đốc, Tiến sĩ Zollner.”

“Tôi đang hỏi anh.”

Stevens thoáng suy nghĩ rồi nói, “Tôi sẽ nói điều này - do sự tình cờ bộ Nông nghiệp sử dụng chung hòn đảo này trong một thời gian với quân đội nên có nhiều phỏng đoán và tin đồn rằng đây là một trung tâm chiến tranh vi trùng. Tôi đoán là mọi người ở đây đều biết chuyện đó.”

Max lên tiếng, “Có nhiều bằng chứng về việc binh đoàn Hóa học quân đội đã nghiên cứu ra các loại bệnh dịch vào thời kỳ đỉnh cao của chiến tranh Lạnh để tiêu diệt toàn bộ đàn gia súc của Liên Xô. Thậm chí tôi còn biết rằng bệnh Than và các loại bệnh động vật khác có thể được sử dụng làm vũ khí sinh học chống loài người. Anh cũng biết điều đó.”

Paul Stevens hắng giọng rồi giải thích, “Tôi không có ý nói là không có bất cứ nghiên cứu nào về chiến tranh vi trùng được thực hiện ở đây. Hiển nhiên đã có trong một thời gian vào đầu thập kỉ 1950. Nhưng đến năm 1954, nhiệm vụ nghiên cứu chiến tranh vi trùng phục vụ tấn công đã chuyển thành phục vụ phòng thủ. Tức là, quân đội chỉ nghiên cứu các cách thức để ngăn chặn ngành chăn nuôi gia súc bị phía bên kia gây bệnh. Gã nói thêm, “Tôi sẽ không trả lời câu hỏi nào nữa về vấn đề này... nhưng cách đây vài năm, người Nga có cử một nhóm chuyên gia chiến tranh vi trùng đến đây và họ không tìm thấy thứ gì có thể khiến họ phải lo lắng.”

Tôi luôn nghĩ các đoàn thanh sát việc chấp hành tự nguyện lệnh cấm vũ khí giống như kiểu một kẻ giết người dẫn tôi đi thăm nhà của hắn. Không, thưa ngài điều tra viên, không có thứ gì đáng xem trong căn phòng ấy đâu. Để tôi dẫn ngài đi xem hiên nhà.

Chiếc xe rẽ vào một con đường sỏi hẹp. Stevens vẫn tiếp tục bài nói đã được chuẩn bị trước, trong đó có đoạn, “Vì vậy, kể từ giữa năm 1950, Đảo Plum trở thành trung tâm quan trọng nhất trên thế giới cho việc nghiên cứu, cứu chữa và ngăn chặn bệnh dịch động vật.” Gã nhìn tôi nói, “Không tồi đến thế phải không, điều tra viên Corey?”

“Tôi đã sống sót qua cả những điều tệ hơn đấy.”

“Tốt. Giờ chúng ta sẽ để lại lịch sử phía sau và đi tham quan một chút. Ngay phía trước chúng ta là ngọn hải đăng cũ, đầu tiên do George Washington đặt. Ngọn hải đăng hiện nay được xây dựng vào giữa năm 1850. Nó không còn được sử dụng và trở thành một dấu mốc lịch sử.”

Tôi nhìn qua cửa sổ của xe thấy một tòa kiến trúc bằng đá nằm trên một cánh đồng cỏ. Ngọn hải đăng trông giống như một ngôi nhà hai tầng với ngọn tháp mọc lên trên nóc. Tôi hỏi, “Các anh có dùng nó vào mục đích an ninh không?”

Gã nhìn tôi rồi nói, “Lúc nào cũng nghĩ đến công việc, phải không? Thỉnh thoảng tôi cử người đến đó với một kính viễn vọng hoặc thiết bị quan sát ban đêm khi thời tiết quá xấu không thể đi máy bay hoặc tàu tuần tra. Khi đó ngọn hải đăng là phương tiện duy nhất của chúng tôi có thể quan sát 360 độ.” Gã nhìn tôi hỏi, “Anh còn muốn biết điều gì khác vê ngọn hải đăng nữa không?”

“Không, tạm vậy đã.”

Chiếc xe rẽ sang một con đường trải sỏi khác. Chúng tôi đi về hướng đông dọc theo bờ bắc của đảo, bên trái là bờ biển, bên phải là những cây cối xương xẩu. Bãi biển trải dài với cát và đá gần như còn nguyên vẹn. Nếu không có chiếc xe và con đường, bạn có thể tưởng tượng mình là một người Hà Lan hay người Anh ở thế kỉ mười bảy lần đầu tiên đặt chân lên bờ, bước dọc theo bãi biển và cố nghĩ cách để đẩy người da đỏ ra khỏi hòn đảo. Ping. Ping.

Lại là nó. Nhưng là cái gì? Đôi khi nếu ta đừng cố ép nó, nó sẽ tự quay lại.

Stevens đang huyên thuyên về hệ sinh thái và việc giữ cho hòn đảo càng nguyên vẹn và hoang sơ càng tốt. Trong khi hắn nói, chiếc trực thăng bay qua đi tìm diệt bọn hươu.

Con đường chạy dọc theo bờ biển và không có nhiều thứ để nhìn, nhưng tôi lại ấn tượng với sự vắng vẻ của nơi này, với ý nghĩ rằng không một linh hồn cô quả sống nơi đây, và bạn chắc sẽ không gặp ai trên bãi biển hay những con đường dường như chẳng đi đến đâu, chẳng để làm gì, trừ con đường chạy giữa bến tàu và phòng thí nghiệm chính.

Như đọc được ý nghĩ của tôi, Stevens nói, “Những con đường này đều được quân đội xây dựng để nối pháo đài Terry với các khẩu đội pháo bờ biển. Các đội tuần tra hươu sử dụng những con đường này, nếu không thì không còn ai trên đường.” Gã nói thêm, “Vì chúng tôi đã tập hợp toàn bộ cơ sở nghiên cứu vào một tòa nhà nên hầu hết hòn đảo đều không có người.”

Tôi chợt nghĩ, đương nhiên rồi, đội tuần tra hươu và tuần tra an ninh đều là một. Trực thăng và tàu có thể tìm kiếm những con hươu đang bơi, nhưng cũng có thể đang tìm kiếm bọn khủng bố hay những kẻ đáng nghi khác. Tôi có cảm giác lo lắng là nơi đây có thể bị xâm nhập. Nhưng đó không phải là điều tôi quan tâm, không phải lí do tôi tới đây.

Đến lúc này, hòn đảo hóa ra không đến nỗi ma quái như tôi nghĩ. Tôi thực sự là không biết mình mong đợi điều gì, nhưng giống như nhiều nơi khác có tiếng xấu đi trước, hòn đảo này không đến nỗi quá tệ một khi bạn đã thấy nó.

Khi nhìn hòn đảo trên bản đồ hoặc hải đồ định hướng sẽ không thấy được bất kì đặc điểm nào thể hiện trên đảo - không đường, không có pháo đài Terry, không thứ gì khác ngoài dòng chữ, “Đảo Plum - Nghiên cứu bệnh động vật - Chính phủ Mỹ - Khu vục cấm.” Hòn đảo được vẽ màu vàng - màu cảnh báo. Ngay cả trên bản đồ nó cũng không có vẻ mời mọc. Còn nếu bạn quan sát hòn đảo từ dưới nước, như tôi đã làm một số lần cùng vợ chồng Gordon, nó như được bao bọc trong sương, dù tôi tự hỏi không biết bao nhiêu là thực và bao nhiêu trong tưởng tượng.

Và nếu bạn đi xa hơn với việc vẽ hòn đảo cho giống vẻ bề ngoài của nó theo bạn nghĩ, bạn sẽ có hình ảnh của một vùng Thule như trong truyện của Poe[3], cảnh tăm tối của gia súc và cừu bị chết, trương phồng và thối rữa trên những cánh đồng, những con chim kền kền tìm ăn trên những xác thối và rồi cũng chết vì những khúc thịt nhiễm bệnh. Đó là điều bạn nghĩ, nếu bạn nghĩ tới nó. Nhưng đến lúc này, nơi đây trông vẫn đầy ánh nắng và dễ chịu. Mối nguy hiểm ở đây, nỗi kinh hoàng có thật đã được đóng kín trong những khu nghiên cứu sinh học ở Vùng ba và bốn, và ngôi đền Chết[4] - Vùng năm. Những mẫu vật nhỏ li ti, những ống nghiệm và đĩa nuôi cấy nhung nhúc những thể sống nguy hiểm và độc hại nhất mà hành tinh này đã tạo ra. Nếu tôi là một nhà khoa học nhìn vào những thứ đó, có lẽ tôi nghi ngờ về Chúa - không phải về sự tồn tại của Người, mà về ý định của Người.

Dù sao, đó cũng là mức tôi có thể nghĩ được mà không phải đau đầu.

Beth hỏi Paul Stevens, “Làm sao những người đi tàu biết không đỗ ở đây?”

“Mọi bản đồ và hải đồ đều có cảnh báo,” Stevens đáp. “Ngoài ra còn có các biển báo dọc theo tất cả các bờ biển. Đồng thời các đội tuần tra có thể xứ lí những con tàu neo đậu hoặc lên cạn.”

Beth hỏi, “Các anh làm gì với những người xâm phạm?”

Stevens đáp, “Chúng tôi cảnh báo những người đi tàu không đến gần hoặc lên đảo thêm lần nào nữa. Những người tái phạm sẽ bị giữ lại và chuyển cho cảnh sát trưởng Maxwell.” Gã nhìn Max. “Đúng không?”

“Đúng. Có một hai người mỗi năm.”

Paul Stevens thử đùa và nói, “Chỉ có lũ hươu là bị bắn khi phát hiện.”

Stevens nghiêm túc giải thích, “Nếu có người bị lạc trên đảo thì đó không phải là xâm phạm an ninh hay kiểm soát sinh học nguy hiểm. Như tôi đã nói, tôi không có ý tạo ấn tượng rằng hòn đảo bị nhiễm độc. Ví dụ, chiếc xe này không phải là phương tiện kiểm soát sinh học. Nhưng do ở gần kề với các khu vục kiểm soát sinh học nên chúng tôi phải ngăn chặn những người không có thẩm quyền và mọi động vật lên đảo.”

Tôi không thể nhịn được phải nói ra, “Theo những gì tôi thấy, Stevens, một chiếc tàu chở bọn khủng bố thậm chí bán chuyên nghiệp cũng có thể đổ bộ lên đảo vào một đêm nào đó, hạ gục tất cả đám bảo vệ của anh, lấy đi tất cả những thứ đáng sợ từ các phòng thí nghiệm hoặc cho nổ tung chỗ này lên cao, giải phóng các loại vi trùng chết người vào môi trường. Thực ra khi mặt vịnh đóng băng thì chúng còn không cần đến tàu - các anh nối liền với đất liền.”

Stevens đáp, “Tôi chỉ có thể nói với anh là ở đây có nhiều nhân viên an ninh hơn là anh nhìn thấy.”

“Tôi hy vọng là thế.”

“Hãy tin như vậy.” Gã nhìn tôi và nói, “Sao anh không thử vào một đêm nào đó?”

Tôi thích bị thách thức và đáp, “Tôi cá với anh một trăm đô là tôi có thể vào phòng làm việc của anh, lấy cắp bằng bổ túc trung học của anh từ trên tường và treo ở văn phòng của tôi sáng hôm sau.”

Stevens vẫn nhìn tôi chằm chặp, khuôn mặt người chết như nặn bằng sáp của gã không cử động. Ghê quá.

Tôi nói với gã, “Xin được hỏi anh câu hỏi mà tất cả chúng tôi ở đây đều muốn hỏi - Liệu Tom và Judy Gordon có thể đã mang các vi sinh vật ra khỏi đảo này không? Hãy nói với chúng tôi sự thật.”

Paul Stevens đáp, “về lý thuyết, chuyện đó là có thể.”

Không ai trên xe nói gì, nhưng tôi nhận ra người lái xe quay đầu lại và lộ vẻ sững sờ.

Stevens hỏi, “Nhưng đó là vì lí do gì?”

“Tiền.” Tôi đáp.

“Họ thực sự không giống hạng người đó.” Stevens nói. “Họ yêu động vật. Sao họ lại muốn giết sạch động vật trên thế giới?”

“Có thể họ muốn giết sạch loài người trên thế giới để động vật có thể sống cuộc sống hạnh phúc.”

“Vớ vẩn,” Stevens nói. “Ông bà Gordon không lấy thứ gì khỏi đây có thể làm hại một sinh linh nào. Tôi sẽ lấy vị trí của tôi để đánh cược chuyện này.”

“Anh cược rồi đấy. Cả tính mạng của anh nữa.”

Tôi để ý thấy Ted Nash và George Foster im lặng, và tôi biết họ đã được nghe báo cáo trước lâu rồi. Có lẽ họ sợ bật ra những câu kiểu như, “Đã ở đó, đã làm việc đó, đã lấy áo phông.”

Stevens quay lại phía kính chắn gió đằng trước và nói, “Chúng ta đang đến gần pháo đài Terry. Chúng ta có thể xuống xe ở đây và ngắm cảnh xung quanh.”

Chiếc xe dừng lại và chúng tôi ra khỏi xe.”

❀ ❀ ❀

[1] Khoảng 33,6 hecta - ND.

[2] Tiếng Đức nghĩa là Chỉ huy cao cấp thời Hitle, ở đây muốn ví Stevens như một tên phát xít- ND.

[3] Edgar Allan Poe: nhà văn Mỹ (1809-1849), được coi là người viết truyện trinh thám hiện đại đầu tiên - ND.

[4] Hình ảnh trong phim Indiana Jones và Ngôi đền chết của đạo diễn Steven Spielberg, sàn xuất năm 1984-ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.