Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Tôi muốn ăn món mì ống nên mời nàng đi ăn tối ở quán Claudio và Emma đồng ý.

Quán Claudio nằm ở Greenport, nơi như tôi nói là có dân số chỉ khoảng hai nghìn người, ít hơn cả số nhân viên làm việc ở trụ sở cơ quan tôi.

Chúng tôi đi về hướng đông dọc theo đường Main Road. Chúng tôi vào làng lúc khoảng bảy giờ và trời đang tối dần.

Ngôi làng không đẹp hay cổ kính như những thôn quê quanh đây. Từ trước đến nay nó vẫn là một hải cảng, một khu phố của dân đánh cá. Những năm gần đây có những thay đổi tạo ra vẻ trưởng giả của nó, những cửa hàng mọc lên, những nhà hàng kiểu cách, đủ mọi thứ, nhưng nhà hàng Claudio thì hầu như vẫn không khác nhiều so với thời tôi còn bé. Từ thời có rất ít nơi ăn uống ở North Folk này nhà hàng Claudio đã có rồi. Nó tọa lạc bên bờ vịnh ở cuối đường Main Street, gần với cảng, không có vẻ gì là đã thay đổi trong cả thế kỷ qua.

Tôi đỗ xe và chúng tôi đi bộ dọc theo bến cảng dài. Một chiếc tàu ba buồm cũ lớn đậu trong cảng, một chiếc cầu bắc ra mặt nước ở gần đó, mấy người đi tản bộ, vài chiếc tàu máy buộc vào bờ chắc là chở khách đến nhà hàng Claudio. Thêm một đêm đẹp trời, tôi cảm thấy thời tiết rất dễ chịu.

Emma nói, “Một vùng áp thấp nhiệt đới đang hình thành ở biển Caribbean.”

“Dùng Prozac[1] có giúp được gì không?”

“Một cơn bão mới sinh.”

“Ồ, đúng rồi.” Giống như một con sư tử con. Những cơn bão cũng hay nếu ngắm chúng từ trụ sở cao tầng ở Manhattan. Còn ở đây thì không hay ho gì vì nó cao không quá mười lăm mét so với mặt nước biển. Tôi còn nhớ một cơn bão tháng Tám ở ngoài này khi tôi còn bé. Lúc đầu trông thì thích, nhưng sau đó thì đáng sợ vô cùng.

Chúng tôi đi tản bộ và nói chuyện với nhau. Thời kỳ đầu của một mối quan hệ luôn có sự phấn khích - như trong ba ngày ban đầu này - sau đó, đôi khi người ta nhận ra mình không thích người kia. Nó thường là thứ gì đó mà người kia nói ra, chẳng hạn như, “Em hy vọng anh là người tình ngọt ngào.”

Nhưng Emma cho đến lúc này vẫn rất tuyệt. Nàng dường như thích được ở bên tôi. Mà thế thật, nàng nói, “Em thích được ở bên anh.”

“Tại sao?”

“Ồ, anh không giống như những người đàn ông mà em đã gặp - tất cả những điều họ muốn là được nghe về em, nói chuyện với em, tranh luận về nghệ thuật, chính trị, triết học và xem quan điểm của em về mọi thứ như thế nào. Anh khác. Anh chỉ muốn làm tình.”

“Tôi bật cười.”

Nàng khoác tay tôi, chúng tôi cùng thả bộ xuống phía cuối cảng và ngắm nhìn những con tàu.

Nàng nói, “Em đang nghĩ... nếu Tom và Judy còn sống, họ công bố đã tìm được kho báu trong truyền thuyết kia - kho báu của cướp biển, kho báu của Kidd,- rồi các phóng viên báo chí sẽ đến chật kín, giống như khi vợ chồng họ bị giết. Họ sẽ đến khắp mọi nơi ở Southold, phỏng vấn những người họ gặp trên phố, quay phim về phố Main Street, đủ mọi chuyện.”

“Đó là công việc của họ.”

“Vì thế, điều trớ trêu là họ lại đến đây để đưa tin về cái chết của vợ chồng Gordon thay vì vận may của họ.”

Tôi gật đầu, “Nhận xét thật thú vị.”

“Em không biết là cánh báo chí có đến hội Lịch sử Peconic để tìm hiểu câu chuyện về kho báu không.”

“Có thể lắm.”

Nàng nói, “Anh biết đấy, như em đã nói rồi, trước đây đã có những lần người ta phát cuồng lên đi tìm kho báu. Gần đây là thập kỷ 1930 - thời Đại suy thoái - rồi đến tận cuối những năm 1950, hội chứng điên về kho báu của Kidd vẫn còn diễn ra ở vùng này, thường bắt đầu từ một tin đồn ngu xuẩn nào đó, hoặc việc có người tìm thấy vài đồng xu trên bãi biển. Người ta đổ về từ khắp mọi nơi và đào bới khắp các bãi biển, gò đồi, trong rừng cây... lâu nay lại không thấy gì nữa. Có thể thời gian đã thay đổi.” Nàng hỏi tôi, “Anh có chơi trò cướp biển khi còn bé không?”

“Anh đang nghĩ về điều này... Anh nhớ đã được nghe chuyện về cướp biển ở ngoài này khi anh còn nhỏ. Nhưng không nghe quá nhiều...” Tôi nói thêm, “Mợ anh thì lại hơi phức tạp hơn một chút. Bà ấy hay nói về người da đỏ trước khi họ đến đây.”

“Gia đình em lại hay nói về những người đến định cư đầu tiên và về cuộc Cách mạng. Em còn nhớ khi nói chuyện về những tên cướp biển... Em có một người anh trai, em nhớ anh ấy chơi trò cướp biển một hai lần gì đó với bạn, em cho đó là trò của con trai. Giống như trò cảnh sát và kẻ cướp, cao bồi và người da đỏ.”

“Anh nghĩ thế. Giờ trẻ con lại chơi trò cảnh sát ma túy và kẻ đi buôn.” Tôi nói thêm, “Nhưng có một thằng bé - không chơi chữ đâu - ở đất của thuyền trưởng Kidd Tôi kể cho Emma nghe câu chuyện về Billy kẻ săn lùng kho báu.

Nàng nhận xét, “Nó có chu kỳ đấy. Có lẽ bọn cướp biển lại sắp đến đây.” Nàng hỏi tôi, “Anh đã bao giờ đọc truyện Đảo giấu vàng của Robert Louis Stevenson chưa?”

“Rồi chứ. Cả truyện Con bọ vàng của Poe nữa. Anh vẫn nhớ một manh mối không rõ ràng là hình vẽ một con dê - con dê con. Em biết chứ?”

“Em biết. Anh đã đọc Wolfert Webber của Washington Irving chưa?”

“Chưa bao giờ nghe đến tên đó.”

“Một câu chuyện cực hay về cướp biển,” nàng cho tôi biết. Nàng mỉm cười và hỏi tôi, “Đã bao giờ anh xem phim về giang hồ lãng tử của những năm 1930, 1940 chưa?”

“Anh thích loại đó.”

Nàng nói, “Anh biết đấy, trong tiếng Anh có rất ít từ gợi trí tò mò và lãng mạn hơn những từ như cướp biển, kho báu được chôn giấu, tàu chiến ... còn gì khác nữa nhỉ?”

“Giang hồ. Anh thích từ đó.”

“Thế còn Spanish Main?”

“Đúng rồi. Nó là cái gì cũng được.”

Chúng tôi đứng trên cảng, gần chỗ chiếc tàu ba buồm cũ to lớn. Mặt trời đang lặn dần và chúng tôi cứ chơi trò đố chữ ngớ ngẩn này, nghĩ ra toàn những từ và cụm từ như tướng cướp, tiền vàng Tây Ban Nha, kiếm cong, miếng che mắt chột, chân giả, vẹt, bịt mắt đi trên ván, đảo hoang, chiến lợi phẩm, của cướp được, cướp phá, cờ Đầu lâu xương chéo, bản đô kho báu, hòm báu vật, dấu X trên bản đồ, rồi - vét cả đáy thùng - những cụm từ như “Đồ chết trôi” và “Ahoy, me hardies”. Cả hai chúng tôi cùng cười, tôi nói, “Anh thích em.”

“Tất nhiên là anh thích rồi.”

Chúng tôi đi bộ trở lại dọc theo cảng về phía nhà hàng Claudio, tay trong tay, điều mà tôi đã từ lâu không làm.

Nhà hàng Claudio đang đông khách với một buổi tối ngày thường trong tuần. Chúng tôi ngồi ở quầy bar và lấy đồ uống trong lúc chờ dọn bàn.

Như tôi đã nói, đây là nơi xưa cũ, xây dựng từ năm 1830 và tự nhận là nhà hàng cổ nhất ở nước Mỹ hoạt động liên tục do một gia đình quản lý - dòng họ Claudio, từ năm 1870. Gia đình tôi thì chỉ chuyện chung bếp và nhà tắm mỗi buổi sáng cũng đã rắc rối rồi. Tôi không thể tưởng tượng được người ta sống như thế trong một trăm ba chục năm.

Theo người phục vụ nói với tôi, tòa nhà này đã có thời làm nhà nghỉ khi Greenport là cảng săn cá voi, còn quay bar chỗ Emma và tôi ngồi được vận chuyển tới đây bằng xà lan từ Manhattan năm một tám tám mấy gì đó.

Quầy bar và các giá hàng phía sau đều là gỗ gụ, kính khắc và đá cẩm thạch Italia. Nó phảng phất thứ phong cách ngoại lai và không mang vẻ gì của thời thực dân thường thấy ở vùng này. Ở đây, tôi có thể tưởng tượng tôi trở lại Manhattan, nhất là khi tôi ngửi thấy mùi thức ăn Italia từ phía sườn của nhà hàng. Đôi khi tôi cũng nhớ Manhattan và những nơi như Little Italy, ở đó đang diễn ra bữa đại tiệc của San Gennaro. Nếu tôi trở lại thành phố New York, Dom Fanelli và tôi sẽ xuống phố Mulberry đêm nay, xì xụp ở từng tiệm ăn ngoài trời và kết thúc buổi tối ở một quán cà phê. Hẳn là tôi sẽ phải quyết định về tương lai của mình.

Emma gọi một ly rượu vang trắng. Người phục vụ hỏi nàng, “Chúng tôi có sáu loại vang trắng của địa phương tính theo ly. Chị thích loại nào?”

“Ờ... Pindar.” Nàng đáp.

Đó là cô gái của tôi. Chung thủy và thật thà. Nàng không uống rượu vang của tình nhân cũ trước mặt người mới. Nói thật, càng già thì bạn phải mang càng nhiều hành lý, còn sức lực để mang của bạn thì càng ngày càng kém.

Tôi gọi một cốc bia Budweiser và chúng tôi cụng nhau. Tôi nói, “Cám ơn em một lần nữa vì tất cả mọi thứ.”

“Bài học lịch sử nào anh thích nhất?”

“Lịch sử về chiếc giường lông vũ.”

“Em cũng thế.”

Và cứ thế, cứ thế.

Trên các bức tường đầy những sự kiện ghi nhớ, những bức ảnh đen trắng về những người thế hệ trước của dòng họ Claudio, những bức ảnh cũ về các cuộc đua thuyền ngày trước, những quang cảnh thời xưa của Greenport. Tôi thích các nhà hàng cũ - chúng giống như những bảo tàng sống nơi mà ta có thể gọi một cốc bia.

Cũng chính ở nhà hàng Claudio này, hồi tháng Sáu, lần đầu tiên tôi gặp vợ chồng Gordon. Đó là một trong trong những lí do khiến tôi muốn đến đây, ngoài lí do cái dạ dàỵ của tôi đang đòi nước sốt cà chua của món mì ống. Đôi khi cũng là tốt nếu trở lại một nơi nào đó khi ta muốn nhớ lại điều gì đã diễn ra ở nơi này.

Tôi thấy mình nhớ đến cha mẹ, em trai và em gái, đang ngồi bên những chiếc bàn này, trò chuyện về những việc làm trong ngày và dự định những điều sẽ làm cho ngày hôm sau. Đã nhiều năm nay tôi không nghĩ đến điều đó.

Tôi thoát ra khỏi những ký ức của tuổi thơ, điều chỉ nên nhớ lại khi ngồi trên ghế của bác sĩ tâm thần. Đầu óc tôi trở lại về tháng Sáu năm nay.

Tôi tới đây, chỗ quầy bar này, vì đây là một trong số ít nơi ăn uống mà tôi biết. Tôi nhớ lúc đó vẫn còn hơi yếu, nhưng không có thứ gì giống như quay bar và một cốc bia để vực dậy một gã trai.

Tôi gọi thứ đồ uống quen thuộc, một chai Bud, và ngay lập tức nhận ra một phụ nữ rất hấp dẫn đang ngồi cách đó vài hàng ghế. Lúc đó là trước mùa du lịch, một đêm đầu tuần, trời đang mưa và không có nhiêu người ở quầy bar. Ánh mắt hai người gặp nhau. Cô gái dường như mỉm cười, và tôi tiến lại. “Xin chào.” Tôi nói.

“Chào anh.” Cô gái nói.

“Tôi tên là John Corey.”

“Judy Gordon.”

“Em ngồi một mình à?”

“Vâng, không kể chồng em đang trong phòng vệ sinh.”

“Ồ...” Tôi giờ mới nhận ra chiếc nhẫn cưới trên tay cô. Sao tôi không thể nào nhớ được là phải nhìn xem người ta có nhẫn cưới hay không nhỉ? Ồ, nhưng ngay cả khi cô ta có chồng rồi, và cô ta đang ở một mình - nhưng tôi đánh trống lảng. Tôi bảo, “Anh sẽ đi tìm chồng em cho em.”

Cô ta cười nói, “Đừng chạy mất nhé.”

Tôi đã thích rồi, nhưng vẫn tỏ ra ga lăng, “Hẹn gặp lại nhé.” Tôi định quay trở lại chỗ ngồi ở quầy bar thì Tom xuất hiện và Judy giới thiệu tôi.

Tôi cáo lỗi để đi nhưng Tom nói, “Làm một chai bia nữa nhé.”

Tôi nhận ra cả hai người đều nói giọng không phải người địa phương. Tôi đoán họ là khách đi du lịch sớm hoặc hạng gì đó. Họ không ăn nói thô thiển kiểu của dân New York mà tôi đã quen. Giống như chuyện đùa, một anh chàng người Trung Tây gặp một gã người New York trên đường và nói, “Xin lỗi, thưa ngài, ngài có thể chỉ dùm tôi đường đến tòa nhà Empire State Building được không, hay là tôi cút mẹ tôi đi?”

Tôi không muốn ngồi uống cùng họ, ngượng lắm, vì tôi đã tán tỉnh vợ người ta. Nhưng vì một lí do nào đó mà tôi không bao giờ hiểu được, tôi lại ngồi uống với họ.

Bình thường tôi có thể ít nói, nhưng họ lại là những người cởi mở đến nỗi chỉ một lát sau, tôi đã kể với họ về chuyện không may của tôi mới đây, và cả hai người cùng nhớ ra đã xem chuyện đó trên ti vi. Thế là tôi trở thành người có tiếng với họ.

Họ kể rằng họ làm việc trên Đảo Plum, một điều thú vị đối với tôi, và rằng họ tới thẳng nhà hàng này sau giờ làm bằng tàu, một điều cũng thú vị. Tom mời tôi đến xem con tàu, nhưng tôi khước từ vì không mấy quan tâm đến chuyện tàu thuyền.

Rồi đến chuyện tôi có một căn nhà ở sát mặt nước, đó là khi Tom hỏi tôi ngôi nhà nằm ở đâu và trông nó thế nào từ dưới mặt nước để có dịp sẽ đến thăm. Và rồi trước sự ngạc nhiên của tôi, một tuần sau đó, Tom và Judy đã đến thật.

Chúng tôi trò chuyện rất vui vẻ trong nhà hàng Claudio này, và một giờ sau chúng tôi đã ăn tối cùng nhau. Đó là chuyện của ba tháng trước, không phải là một quãng thời gian thật dài, nhưng tôi cảm thấy như thể đã rất thân với họ. Tuy nhiên, tôi cũng phát hiện ra có những điều về họ mà tôi chưa biết.

Emma nói, “Này? John?”

“Xin lỗi. Anh đang nghĩ đến lần đầu anh gặp vợ chồng Gordon. Chính tại quầy bar này.”

“Thật hả?” Nàng hỏi tôi, “Phải chăng anh rất thất vọng về...”

“Anh đã không nhận ra mình thích ở gần họ như thế nào.” Tôi nói thêm, “Anh đang đặt chuyện này với phần cá nhân nhiều hơn là anh tưởng.”

Nàng gật đầu. Chúng tôi nói với nhau chuyện này chuyện nọ. Tôi chợt nghĩ nếu nàng có thông đồng với tên giết người, hoặc là một phần trong âm mưu kia, thì nàng sẽ tìm cách để moi thông tin từ tôi. Nhưng nàng dường như muốn tránh chủ đề đó, và như thế lại tốt cho tôi.

Bàn ăn đã chuẩn bị xong và chúng tôi tới nơi giống như cái hiên kín đáo nhìn ra phía vịnh. Trời đang lạnh đi rất nhanh và tôi cảm thấy hối tiếc thấy mùa hè đã trôi qua. Tôi đã được nêm mùi cái chết của chính mình - nếm mùi đúng theo nghĩa đen khi máu trào ra từ miệng - và tôi nghĩ ngày đang ngắn dần đi cùng những cơn gió lạnh lẽo nhắc tôi rằng mùa hè của tôi đã qua, rằng cậu bé Johnny với đôi mắt mở to khi tìm thấy viên đạn súng hỏa mai cuối cùng đã trưởng thành khi nằm trong rãnh thoát nước ở phố 102 Đông với ba lỗ đạn găm trên người.

Nước Mỹ là đất nước của những cơ hội lần hai và lần ba, một nơi để hồi tỉnh lại nhiều lần. Vì thế, nếu được làm lại đầy đủ thì chỉ có một gã hoàn toàn khù khờ mới không làm được đúng cách.

Emma nói, “Hình như anh mất tập trung.”

“Anh đang phân vân không biết nên bắt đầu bằng món calamari chiên hay món scungili.”

“Đồ ăn chiên không tốt cho anh đâu.”

“Em có nhớ thành phố không?” Tôi hỏi nàng.

“Thỉnh thoảng. Em nhớ nơi không ai biết ai. Ở đây ai cũng biết anh đang ngủ với người nào.”

“Anh cũng cho là thế, nếu em trình diện tất cả bạn trai của mình trước mặt các nhân viên.”

Nàng hỏi tôi, “Anh có nhớ thành phố không?”

“Anh không biết... Anh sẽ không biết cho đến lúc anh trở về.” Tôi cáo lỗi, “Anh phải vào phòng vệ sinh.” Tôi ra xe lấy chiếc chậu sứ và để vào trong túi đựng quà.

Tôi đặt chiếc túi trước mặt nàng. Nàng hỏi, “Cho em đấy à?”

“Ừ.”

“Ôi, John, anh không phải... Em mở luôn bây giờ được không?”

“Em mở đi.”

Nàng thò tay vào trong túi và lấy ra chiếc chậu sứ quấn trong lớp giấy màu hồng. “Cái gì...?”

Tôi chợt phát hoảng. Biết đâu bà già ở cửa hàng đồ cổ lại nhầm thì sao. Biết đâu bà ấy nhầm Emma Whitestone với một ai khác thì sao. “Khoan đã.” Tôi nói, “Có lẽ em không nên mở.”

Những người trong quán ăn đang nhòm sang tò mò, tọc mạch và tủm tỉm cười.

Emma mở lớp giấy bọc, để lộ ra một chiếc chậu sứ màu trắng với những hình vẽ hoa hồng. Nàng cầm tay xách và giơ lên cao.

Tiếng ngạc nhiên rộ lên trong đám người xung quanh. Hay ít nhất là có vẻ như vậy. Có ai đó còn cười to.

Emma nói, “ôi, John! Đẹp quá. Sao anh biết?”

“Anh là thám tử mà.” Ôi, chao ôi!

Nàng ngắm nghía chiếc chậu sứ, xoay lại để nhìn mác của chiếc chậu và mọi chi tiết.

Người hầu bàn tiến đến và nói, “Có phòng vệ sinh ở phía sau nếu ông bà muốn đi.”

Cả hai chúng tôi cùng cười thầm trong bụng. Emma nói nàng sẽ trồng loài hoa hồng tiểu muội trong chiếc chậu, còn tôi bảo làm thế thì người ta sẽ không ngồi lên trên. Chúng tôi nói chuyện hài hước về chiếc chậu và gọi đồ ăn cho bữa tối.

Chúng tôi có một bữa ăn ngon, vừa nói chuyện vừa ngắm nhìn hải cảng. Nàng hỏi tôi có muốn nàng ở qua đêm với tôi một lần nữa không, tôi bảo có. Nàng mở túi xách lấy ra một chiếc bàn chải đánh răng và một đôi tất. Nàng bảo, “Em chuẩn bị đấy.”

Người hầu bàn khôi hài nãy giờ xuất hiện đúng lúc và hỏi, “Ông bà có cần thêm cà phê hay phải vội về nhà?”

Trên đường lái xe về nhà ở Mattituck, một lần nữa tôi có cảm giác rất kì lạ rằng sẽ không có điều gì kết cục tốt đẹp, vụ này, câu chuyện này với Emma, chuyện với Beth, dù là gì đi nữa, và cả sự nghiệp của tôi. Cảm giác đó với tôi giống như sự im lặng đáng sợ và bầu trời trong vắt trước khi một cơn bão đổ bộ vào.

❀ ❀ ❀

[1] Tên một loại thuốc chữa bệnh trầm cảm.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.