Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Tôi chạy xe về hướng tây theo đường Main Road, tiếng động cơ ù ù, chiếc đài chỉnh âm thanh đủ dễ nghe. Cảnh vật của vùng nông thôn lướt qua hai bên, bầu trời xanh, những con mòng biển, tất cả mọi thứ đẹp nhất mà hành tinh thứ ba từ mặt trời phải trung ra.

Điện thoại trên xe đổ chuông và tôi nhấc máy. “Người cần-là-gọi đây. Tôi có thể giúp gì không?”

“Gặp tôi ở nhà Murphy.” Điều tra viên Penrose nói.

“Tôi không nghĩ thế.” Tôi đáp.

“Tại sao không?”

“Tôi nghĩ là tôi bị sa thải. Nếu không thì tôi từ chức.”

“Anh được thuê theo tuần. Anh còn chưa làm hết tuần.”

“Cô nói nhà ai nhỉ?”

“Nhà Murphy.” Nàng gác máy.

Tôi ghét những người phụ nữ trịch thượng. Tuy nhiên, tôi vẫn chạy hai mươi phút xe tới nhà của Murphy và nhận ra điều tra viên Penrose đỗ xe ở đằng trước bên ngoài, nàng ngồi trong chiếc Ford LTD màu đen không mang hiệu.

Tôi đỗ chiếc xe Jeep cách đó vài nhà, tắt máy và bước ra. Ở bên phải ngôi nhà của Murphy, hiện trường vụ án vẫn còn căng dây bảo vệ, một viên cảnh sát của thị trấn Southold đứng phía trước bên ngoài. Chiếc xe chỉ huy lưu động của cảnh sát quận vẫn đỗ trên bãi cỏ.

Beth đang nói chuyện điện thoại khi tôi đến gần. Nàng gác máy và bước ra. Nàng nói, “Tôi vừa nói chuyện một cuộc dài với sếp tôi. Mọi người dường như đều vui với câu chuyện về vác xin Ebola.”

Tôi hỏi, “Cô có nói với sếp cô rằng đó chỉ là chuyện vớ vẩn không?”

“Không... cứ để chuyện đó sang một bên. Giờ phải giải quyết vụ án mạng.”

Chúng tôi tới cửa trước nhà ông bà Murphy và ấn chuông. Nơi đây là một nông trại từ những năm 1960 vẫn còn nguyên trạng, khá xấu, nhưng được tu sửa tử tế.

Một người phụ nữ khoảng bảy mươi tuổi ra mở cửa và chúng tôi tự giới thiệu. Bà nhìn chăm chằm vào chiếc quần soóc của tôi, có lẽ tự nhận xét chiếc quần trông như mới giặt thế nào, mùi ra sao. Bà mỉm cười với Beth và dẫn chúng tôi vào trong nhà. Bà đi khuất ra phía đằng sau nhà và gọi to, “Ed! Lại cảnh sát đây này!”

Bà quay lại phòng khách và chỉ vào một chiếc ghế đôi. Tôi thấy mình má gần má với Beth.

Bà Agnes Murphy hỏi chúng tôi, “Anh chị có uống chút nước pha không?”

Tôi đáp, “Không, cám ơn bà. Chúng tôi đang phải làm nhiệm vụ.”

Beth cũng từ chối.

Bà Murphy ngồi vào chiếc ghế đu lắc đối diện với chúng tôi.

Tôi quan sát xung quanh. Trong nhà được trang trí theo phong cách mà tôi gọi là cổ lỗ sĩ: tối, ẩm mốc, đồ đạc quá nhiều, hàng trăm thứ đồ trang trí lặt vặt, những món đồ lưu niệm tồi tàn đến khó tin, những bức ảnh lũ cháu, vv... Các bức tường màu xanh trắng, giống như màu kẹo bạc hà sau bữa tối, còn chiếc thảm thì... thôi, ai thèm quan tâm?

Bà Murphy mặc bộ đồ với chiếc quần màu hồng làm từ chất tổng hợp đến ba trăm năm nữa cũng chưa rách.

Tôi hỏi bà Murphy, “Bà có thích vợ chồng Gordon không?”

Câu hỏi làm bà giật mình, mục đích của nó là thế. Bà trấn tĩnh lại và trả lời, “Tôi không thân với họ lắm, nhưng họ hầu như im lặng.”

“Bà nghĩ tại sao mà họ bị giết?”

“Ồ... làm sao tôi biết được?” Chúng tôi nhìn nhau một lát rồi bà nói tiếp, “Có thể chuyện này có gì đó liên quan đến công việc của họ.”

Edgar Murphy bước vào, lau tay vào một mảnh vải. Ông giải thích là vừa ở gara sửa chiếc máy cắt cỏ. Trông ông độ gần tám mươi tuổi, và nếu tôi mà là Beth Penrose đang chuẩn bị một phiên tòa tương lai trong đầu, tôi không dám chắc rằng Edgar sẽ có thể làm chứng trước tòa.

Ông già mặc chiếc áo khoác màu xanh, đi giày lao động và trông ông cũng xanh xao như bà vợ. Tôi đứng lên bắt tay ông rồi ngồi xuống. Ông ngồi vào chiếc ghế tựa có đệm và tựa ngả hẳn người ra trông lên trần nhà. Tôi cố để hai bên nhìn vào mắt nhau nhưng với tư thế như vậy thì quả là khó. Giờ thì tôi nhớ là tại sao tôi không đến thăm bố mẹ mình.

Edgar Murphy nói, “Tôi đã nói chuyện với cảnh sát trưởng Maxwell.”

Beth đáp, “Vâng, thưa ông. Tôi ở đội điều tra án mạng.”

“Còn anh này?”

Tôi đáp, “Tôi làm việc cùng cảnh sát trưởng Maxwell.”

“Không phải. Tôi biết tất cả cảnh sát ở thị trấn này.”

Đây sắp thành một vụ án mạng chết ba người. Tôi nhìn lên trần nhà chỗ ông ta cũng đang hướng mắt vào rồi nói, giống như phát sóng lên vệ tinh và phản xạ xuống tới máy thu. Tôi nói, “Tôi là cố vấn. Này, ông Murphy-"

Bà vợ xen vào, “Ed, ông có thể ngồi thẳng lên được không? Ngồi vậy thật bất lịch sự.”

“Chết tiệt. Đây là nhà của tôi. Anh ta có thể nghe tôi rõ. Bà cũng nghe tôi rõ, đúng không?”

“Vâng, thưa ông.”

Beth mở khúc dạo đầu, nhưng là về những chi tiết và thời gian sai, là cố tình như vậy, và ông Murphy sửa lại cho đúng, cho thấy ông có trí nhớ ngắn hạn tốt. Bà Murphy cũng chỉnh lại cho chính xác một số sự kiện của ngày hôm trước. Họ có vẻ là những nhân chứng có thể tin cậy, còn tôi tự xấu hổ vì đã thể hiện sự mất kiên nhẫn với người già - tôi thấy mình thật tệ vì đã muốn bóp chết Edgar trên chiếc ghế tựa của ông ta.

Khi Beth và tôi nói chuyện với ông bà Edgar và Agnes, rõ ràng là không tìm hiểu được thứ gì mới về những sự kiện cơ bản: cả hai ông bà đang ở trong phòng lớn có nhiều cửa sổ vào lúc 5 giờ 30 chiều và đang ăn tối - người già thường ăn tối vào lúc 4 giờ chiều. Họ đang xem ti vi khi nghe thấy tiếng chiếc tàu của nhà Gordon - họ nhận ra tiếng động cơ lớn, và bà Murphy bình luận thêm, “Ôi chao, tiếng động cơ to lắm. Sao người ta lại cần động cơ nổ to đến thế chứ?

Để làm hàng xóm khó chịu đấy, bà Murphy. Tôi hỏi cả hai người, “Ông bà có nhìn thấy con tàu không?”

“Không.” Bà Murphy đáp. “Chúng tôi cũng không buồn nhìn.”

“Nhưng ông bà có thể nhìn thấy con tàu từ phòng lớn?”

“Chúng tôi có thể nhìn được xuống nước, đúng, nhưng chúng tôi đang xem ti vi.”

“Còn hơn nhìn ra cái vịnh dở hơi.”

Beth nói, “John.”

Nói thật, tôi là người rất nhiều thành kiến, tôi ghét chính tôi về điều này, nhưng tôi là sản phẩm từ tuổi tác, giới tính của tôi, thời đại của tôi, văn hóa của tôi. Tôi mỉm cười với bà Murphy, “Bà có căn nhà đẹp thật.”

“Cám ơn.”

Beth tiếp tục hỏi một lúc. Nàng hỏi hai vợ chồng Murphy, “Và ông bà chắc là không nghe thấy bất kỳ tiếng động nào có thể là tiếng súng?”

“Chắc,” Edgar Murphy đáp. “Tai tôi còn khá tốt. Tôi còn nghe thấy bà Agnes gọi tôi cơ mà, đúng không?”

Beth nói, “Đôi khi tiếng súng nổ không giống như chúng ta nghĩ. Khi ta xem ti vi thì thấy tiếng nổ của nó khác, nhưng trên thực tế thì đôi khi nghe nó giống như tiếng pháo hoặc tiếng vỡ đanh hay tiếng nổ giật của xe hơi. Ông bà có nghe thấy bất kì tiếng động nào sau khi họ tắt động cơ tàu không?”

“Không.”

Đến lượt tôi. Tôi nói, “OK, ông bà nghe thấy tiếng động cơ dừng lại. Lúc đó ông bà vẫn đang xem ti vi?”

“Vâng. Nhưng chúng tôi không để tiếng to. Chúng tôi ngồi rất gần ti vi.”

“Lưng quay về phía cửa sổ à?”

“Đúng.”

“OK, ông bà xem ti vi chừng mười phút - điều gì khiến ông đứng dậy?”

“Lúc đó đến chương trình Agnes thích. Chương trình khách mời ngớ ngẩn. Montel Williams[1].”

“Và thế là ông sang nhà hàng xóm để tán gẫu với Tom Gordon.”

“Tôi định sang mượn cái dây nối.” Edgar giải thích là ông ta đi qua một khoảng trống của hàng rào, bước lên sàn sân bằng gỗ của nhà Gordon, và ôi kìa, Tom và Judy nằm chết còng queo.

Beth hỏi, “Ông đứng cách thi thể họ bao xa.”

“Không đến sáu mét.”

“Ông chắc không?”

“Chắc. Tôi đứng ở mép sân và họ nằm gần như đối diện với chiếc cửa trượt bằng kính. Sáu mét.”

“Được. Làm sao ông biết đó là vợ chồng Gordon?”

“Lúc đầu thì chưa. Lúc đó tôi đứng như trời trồng, sau đó mới nhận ra.”

“Làm sao ông biết là họ đã chết?”

“Ban đầu cũng không biết. Nhưng tôi nhìn thấy... cái gì như con mắt thứ ba trên trán anh ấy. Họ không động đậy chút nào. Mắt họ vẫn mở, nhưng không còn thở, không kêu rên. Không làm gì cả.”

Beth gật đầu, “Rồi sau đó ông làm gì?”

“Tôi chạy vội ra khỏi đó.”

Đến lượt tôi. Tôi hỏi Edgar, “Ông có nhớ là đã đứng bao lâu ở sân không?”

“Ồ, tôi không biết.”

“Nửa giờ?”

“Ấy không. Khoảng mười lăm giây.”

Tôi nghĩ có lẽ gần đến năm giây thì đúng hơn. Tôi để cho Edgar quen với điều này một đôi lần, cổ để cho ông ta nhớ xem có nghe thấy hoặc nhìn thấy điều gì đó không bình thường vào lúc ấy, bất cứ điều gì quên không nhắc tới, nhưng kết quả chẳng có gì. Tôi thậm chí còn hỏi ông ta có nhớ đã ngửi thấy mùi thuốc súng, nhưng hỏi ông ta cứ như hỏi cái đầu gối. Khi báo cho Maxwell, ông ta đã nói hết cả rồi, và chỉ có thế. Bà Murphy cũng đồng ý.

Tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu Edgar sang nhà Gordon sớm hơn mười phút. Có lẽ lúc này ông già không còn ngồi đây. Không biết ông ta đã nghĩ đến điều đó chưa. Tôi hỏi, “Theo ông nghĩ thì kẻ giết người trốn đi bằng phương tiện gì nếu ông không nghe hay nhìn thấy một chiếc xe hơi hay một con tàu nào?”.

“Ồ, tôi đã nghĩ đến điều đó.”

“Và?”

“Ở đây có rất nhiều người đi bộ, đạp xe, chạy bộ, đủ các loại. Anh hiểu chứ? Tôi không nghĩ là có ai đó lại để ý người khác làm chuyện này.”

“Đúng vậy.” Nhưng một người chạy bộ với một chiếc thùng đá để trên đầu có thể gây chú ý. Rất có khả năng kẻ giết người vẫn còn quanh quẩn đâu đó khi Edgar nhìn thấy các thi thể.”

Tôi thôi nhắc đến thời gian và hiện trường của vụ án để quay sang một loạt câu hỏi khác. Tôi hỏi bà Murphy, “Vợ chồng Gordon có nhiều bạn bè đến nhà không?”

Bà đáp, “Cũng khá nhiều. Họ hay tổ chức nấu ăn ngoài trời. Lần nào cũng có một vài người đến.”

Beth hỏi Edgar, “Họ có thường đi tàu về muộn không?”

“Thỉnh thoảng. Khó mà không thấy tiếng ồn của động cơ. Đôi khi họ về rất muộn.”

“Muộn cỡ nào?”

“Ồ, khoảng hai, ba giờ sáng.” Ông ta nói thêm, “Tôi đoán là họ đi câu đêm.”

Người ta có thể thả câu từ một chiếc Formula 303, như tôi đã cùng vợ chồng Gordon làm một vài lần, nhưng Formula 303 không phải là tàu câu, và tôi chắc là Edgar cũng biết điều đó. Nhưng Edgar thuộc lớp người cũ, những người cho rằng không nên nói xấu về những người đã chết - trừ khi bị ép buộc.

Chúng tôi cứ tiếp tục hỏi đáp, từ những câu hỏi về thói quen của vợ chồng Gordon, về những chiếc xe lạ, vân vân. Tôi chưa bao giờ làm việc cùng Beth Penrose, tất nhiên rồi, nhưng chúng tôi rất hợp, người tung kẻ hứng rất đúng ý nhau.

Sau một vài phút, bà Murphy nhận xét, “Họ là một đôi rất đẹp.”

Tôi chộp ngay ý tứ chỗ này và hỏi, “Bà có nghĩ là Tom có bạn gái không?”

“Ồ... tôi không có ý

“Judy có bạn trai không?”

“Ờ...”

“Khi Tom không có nhà thì cô vợ có một quý ông đến thăm. Đúng không?”

“Ờ, tôi không nói là bạn trai hay gì đó.”

“Bà cứ nói với chúng tôi đi.”

Và bà nói, nhưng không hấp dẫn đến thế. Một lần, vào tháng Sáu, khi Tom đi làm và Judy ở nhà, một người đàn ông đẹp trai, ăn mặc bảnh bao và để râu đến nhà với một chiếc xe thể thao màu trắng không rõ là của hãng nào rồi nửa giờ sau đi ra. Thú vị đấy, nhưng không phải là bằng chứng của một chuyện tình cuồng nhiệt để dẫn tới tội phạm do si mê. Sau đó khoảng hai tuần, vào một ngày thứ Bảy khi Tom đi ra ngoài bằng tàu, một người đàn ông xuất hiện trên đường xe vào nhà cùng một chiếc “xe Jeep màu xanh”, đi ra sân sau nơi Judy đang tắm nắng trong một bikini nhỏ xíu. Người đàn ông cởi áo sơ mi rồi tắm nắng cạnh Judy một lúc. Bà Murphy nói, “Tôi cho thế là không được khi mà chồng không có nhà. Ý tôi là cô ấy ăn mặc như thế, còn tay kia lại cởi áo ra nằm bên cạnh và hai người nói chuyện phiếm, sau đó tay kia đứng dậy và đi khỏi trước khi anh chồng về. Vậy tất cả chuyện đó là thế nào?”

Tôi đáp, “Đó lại hoàn toàn không có gì. Hôm đó tôi ghé qua để gặp Tom vì chuyện gì đó.”

Bà Murphy nhìn tôi, và tôi cảm thấy ánh mắt của Beth cũng đang nhìn tôi. Tôi nói với bà Murphy, “Tôi là bạn của gia đình Gordon.”

“Ồ...”

Ông Murphy cười tủm tỉm nhìn lên trần nhà. Ông ta cho tôi biết, “Bà vợ tôi đầu óc xấu xa lắm.”

“Tôi cũng thế.” Tôi hỏi bà Murphy, “Bà đã bao giờ qua lại với vợ chồng Gordon chưa?”

“Chúng tôi có mời họ sang nhà ăn tối một lần khi họ mới đến cách đây khoảng hai năm. Ngay sau đó họ mời chúng tôi sang bên ấy làm tiệc ngoài trời. Từ đó đến giờ không có thêm lần nào.”

Tôi không thể tưởng tượng được là tại sao. Tôi hỏi bà Murphy, “Bà có biết tên ai trong số bạn bè của họ không?”

“Không. Tôi nghĩ họ hầu hết là người của Đảo Plum. Họ toàn là những người kỳ quặc, nếu anh muốn nghe nhận xét của tôi.”

Và câu chuyện cứ như vậy. Chúng tôi muốn nói chuyện. Bà Murphy thì đung đưa, ông chồng thì hết đẩy ghế thẳng lên lại ngả ra. Một lần khi đang ngửa ra, ông ta hỏi tôi, “Họ đã làm gì thế? Đánh cắp một túi vi trùng để diệt sạch cả thế giới à?”

“Không, họ lấy cắp một loại vác xin trị giá rất nhiều tiền. Họ muốn giàu có.”

“Thế hả? Họ chỉ thuê cái nhà bên cạnh. Anh biết rồi chứ?”

“Có.”

“Phải trả đắt lắm.”

“Sao ông biết.”

“Tôi biết người chủ cũ. Một người còn trẻ tên là Sanders. Anh này là chủ xây nhà. Anh ta mua của gia đình Hoffmann là bạn của chúng tôi. Sanders phải trả quá nhiều, sau đó sửa sang lại và cho nhà Gordon thuê. Họ trả tiền thuê cao quá.”

Beth nói, “Xin cho tôi hỏi thẳng, ông Murphy. Một số người nghĩ là vợ chồng Gordon vận chuyển ma túy. Ông nghĩ thế nào?”

Ông ta đáp lại không chút do dụ, “Cũng có thể. Họ đi ra ngoài bằng tàu vào những giờ kì quặc. Không ngạc nhiên lắm.”

Tôi hỏi, “Ngoài người đàn ông có râu trên chiếc xe thể thao và tôi, ông có bao giờ thấy ai đó đáng nghi ở sân sau hoặc phía trước nhà không?”

“Ồ... nói thật, không thể nói rằng tôi đã thấy.”

“Bà Murphy?”

“Không, tôi nghĩ là không. Hầu hết những người đến đó đều có vẻ đáng kính. Họ uống rất nhiều rượu vang... thùng rác đầy vỏ chai... thỉnh thoảng họ còn nói oang oang trong lúc uống, nhưng họ mở nhạc nhỏ thôi - không phải là thứ điên loạn mà anh chị nghe đâu.”

“Ông bà có chìa khóa nhà họ không?”

Tôi thấy bà Murphy liếc nhìn chồng khi ông còn đang nhìn lên trần nhà. Yên lặng một chút rồi ông Murphy nói, “Có, chúng tôi có chìa khóa. Chúng tôi để mắt đến ngôi nhà cho họ vì chúng tôi thường quanh quẩn ở nhà.”

“Rồi sao nữa.”

“Ừm... có lẽ là tuần trước, chúng tôi thấy một chiếc xe sửa khóa ở bên đó, khi nó đi khỏi, tôi mang chìa khóa sang thử nhưng không mở được nữa. Tôi nghĩ Tom sẽ đưa cho tôi chìa khóa mới, nhưng không thấy gì. Anh ấy có chìa khóa vào nhà tôi. Anh hiểu không? Vì thế, tôi gọi cho Sanders và hỏi anh ta vì người chủ nhà thường phải có chìa, nhưng anh ta cũng không biết gì về chuyện này. Đó không phải việc của tôi, nhưng nếu vợ chồng Gordon muốn tôi trông nhà cho họ thì tôi nghĩ là tôi phải có chìa khóa.” Ông ta nói thêm, “Giờ tôi không biết là họ có giấu thứ gì bên trong hay không.”

“Chúng tôi sẽ đề nghị để ông làm phó cảnh sát trưởng danh dự, ông Murphy. Này, đừng nhắc lại bất cứ điều gì trong câu chuyện hôm nay với bất kì ai ngoài cảnh sát trưởng Maxwell nhé. Nếu có ai đến đây nói là người của FBI, cảnh sát quận Suffolk hay cảnh sát bang New York hay bất cứ danh nghĩa nào giống như vậy thì có thể họ đang nói dối đấy. Hãy gọi cho cảnh sát trưởng Maxwell hoặc điều tra viên Penrose. Được chứ?”

“Được.”

Beth hỏi ông Murphy, “Nhà ông có tàu không?”

“Giờ thì không có nữa. Mất việc lại tốn quá nhiều tiền.”

“Đã bao giờ có ai đến thăm nhà Gordon bằng tàu không?”

“Thỉnh thoảng tôi thấy có tàu ở bến nhà họ.”

“Ông có biết là tàu của ai không.”

“Không. Nhưng một lần có con tàu giống của họ. Tàu cao tốc. Nhưng không phải tàu nhà họ. Tên cái này khác.”

“Ông ở gần đủ để nhìn thấy à?” Tôi hỏi.

“Thỉnh thoảng tôi dùng ống nhòm.”

“Tên con tàu là gì?”

“Nhớ làm sao được. Nhưng đấy không phải là tàu của nhà Gordon.”

“Ông có nhìn thấy ai trên tàu không?” Beth hỏi.

“Không. Tôi chỉ vô tình nhìn thấy con tàu. Không thấy ai lên hay xuống tàu.”

“Đó là khi nào.”

“Để tôi nhớ xem... khoảng tháng Sáu... hồi đầu mùa.”

“Hôm đó vợ chồng Gordon có nhà không?”

“Không biết.” Ông nói thêm, “Tôi để ý xem có thấy ai rời khỏi nhà không, nhưng họ đi ra mà tôi không biết. Lúc sau nghe tiếng động cơ và tàu đang chạy ra ngoài.”

“Khả năng nhìn xa của ông được bao nhiêu?”

“Không tốt lắm, trừ khi có ống nhòm.”

“Còn bà, bà Murphy?”

“Cũng thế thôi.”

Đoán rằng ông bà Purphy quan sát nhà Gordon bằng ống nhòm nhiều hơn là họ thừa nhận, tôi hỏi họ, “Nếu chúng tôi đưa cho ông bà ảnh của một số người, liệu ông bà có thể nói đã từng nhìn thấy họ ở nhà Gordon hay không?”

“Có thể.”

Tôi gật đầu. Những người hàng xóm tọc mạch có thể trở thành nhân chứng tốt, nhưng đôi khi, giống như một chiếc camera quan sát rẻ tiền, những điều họ nhìn thấy lại quá nhiều, không mấy liên quan, không rõ ràng, không đáng để ý, cũng không cụ thể.

Chúng tôi hỏi đáp thêm nửa giờ nữa, nhưng những thứ thu được cứ ít dần theo từng phút. Ông Murphy còn làm được điều gần như không thể là ngủ thiếp đi trong lúc có cảnh sát phỏng vấn. Tiếng ngáy của ông ta bắt đầu làm tôi thấy khó chịu.

Tôi đứng dậy và vươn vai.

Beth đứng dậy và đưa cho bà Murphy danh thiếp của nàng. “Cám ơn ông bà vì đã dành thời gian cho chúng tôi. Xin hãy gọi cho tôi nếu ông bà nghĩ thêm được điều gì khác.”

“Vâng, tôi sẽ gọi.”

“Xin nhớ, tôi là điều tra viên được giao phụ trách vụ án này. Đây là đồng sự của tôi. Cảnh sát trưởng Maxwell đang hỗ trợ chúng tôi. Ông bà không nên nói chuyện với bất cứ ai khác về vụ án này.”

Bà gật đầu, nhưng tôi không biết ông bà Murphy này có chống chọi được với ai đó như gã Ted Nash của Cục Tình báo Trung ương CIA không.

Tôi hói bà Murphy, “Bà có phiền nếu chúng tôi đi quanh nơi ở của ông bà một chút?”

“Tôi nghĩ là không.”

Chúng tôi tạm biệt bà Murphy, tôi nói, “Tôi xin lỗi nếu tôi làm ông nhà chán.”

“Đến giờ chợp mắt của ông ấy mà.”

“Tôi biết rồi.”

Bà đi cùng chúng tôi ra cửa trước và nói, “Tôi sợ lắm.”

“Đừng sợ,” Beth nói. “Có cảnh sát theo dõi xung quanh khu này rồi.”

“Chúng tôi có thể bị giết khi đang ngủ.”

Beth đáp, “Chúng tôi nghĩ đó là một người quen của vợ chồng Gordon. Do thù hằn. Ông bà không có gì phải lo lắng đâu.”

“Nhưng nếu chúng quay lại thì sao?”

Tôi lại bắt đầu cảm thấy khó chịu. “Tại sao kẻ giết người lại quay lại?” Tôi hỏi hơi chút đanh giọng.

“Chúng luôn quay trở lại hiện trường mà.”

“Chúng không bao giờ quay lại hiện trường.”

“Chúng sẽ quay lại nếu muốn giết nhân chứng.”

“Vậy bà hoặc ông nhà có chứng kiến vụ giết người.”

“Không.”

“Vậy thì ông bà không phải lo lắng gì.” Tôi nói.

“Nhưng kẻ giết người có thể nghĩ chúng tôi đã nhìn thấy.”

Tôi liếc sang Beth.

Nàng nói, “Tôi sẽ cử một chiếc xe tuần tra theo dõi mọi thứ. Nếu bà cảm thấy lo lắng hoặc nghe thấy điều gì đó thì hãy gọi 911.” Nàng nói thêm, “Bà không lo nữa chứ.”

Agnes Murphy gật đầu.

Tôi mở cửa và ra ngoài nơi có ánh nắng. Tôi nói với Beth, “Bà ấy thực sự có chỗ đáng chú ý đấy.”

“Tôi biết rồi. Tôi sẽ để tâm chuyện này.”

Beth và tôi đi quanh chiếc sân bên sườn nhà và nhìn thấy lối đi ở hàng rào. Từ hàng rào có thể quan sát được phía sau ngôi nhà của Gordon và chiếc sân. Nếu bước qua và nhìn về bên trái có thể thấy được mặt nước phía dưới. Ngoài vịnh có một con tàu màu xanh trắng, Beth nói, “Đó là tàu của cảnh sát tuần tra vịnh. Chúng tôi cử bốn thợ lặn có bình dưỡng khí xuống tìm hai viên đạn nằm dưới bùn và rong biển. Đúng là mò kim đáy bể.”

Vụ án diễn ra chưa đầy hai mươi bốn giờ và hiện trường vẫn được bảo vệ cho tới ít nhất là sáng mai, do vậy chúng tôi không đi vào nhà Gordon, vì như thế có nghĩa là phải đăng nhập một lần nữa, trong khi tôi thì đang muốn rảnh nợ. Chúng tôi đi dọc theo hàng rào phía bên nhà Murphy xuống dưới bờ nước. Hàng rào mỏng và xơ xác dần khi gần tới nước mặn, và khi còn cách khoảng gần chục mét thì tôi có thể nhìn được qua bên kia. Chúng tôi tiếp tục đi cho tới chỗ tường chắn giáp với mặt nước. Nhà Murphy cho một chiếc cầu phao cũ ở bên trái, còn bên phải là chiếc cầu cố định của nhà Gordon. Chiếc Spirochete đã không còn ở đó.

Beth nói, “Cục Hàng hải đã đưa con tàu tới bãi đỗ của họ. Bên giám định sẽ xử lí với con tàu ở đó.” Nàng hỏi tôi, “Anh nghĩ thế nào về ông bà Murphy?”

“Tôi nghĩ chính họ làm.”

“Làm gì?”

“Giết vợ chồng Gordon. Không trực tiếp. Nhưng họ chặn Tom và Judy trên sân và nói chuyện với họ ba mươi phút về mua bán ở siêu thị trên tạp chí Thứ Bảy, rồi vợ chồng Gordon rút súng ra tự bắn lủng óc.”

“Có thể lắm.” Beth thừa nhận. “Nhưng còn điều gì xảy ra với những khẩu súng.”

“Edgar dùng chúng làm chỗ cài giấy vệ sinh.”

Nàng bật cười. “Anh thật quá đáng. Thể nào chẳng có lúc anh già.”

“Không. Tôi sẽ không già.”

Cả hai chúng tôi không ai nói gì trong mấy giây. Chúng tôi đứng nhìn ra vịnh. Cũng giống như lửa, nước có sức mê hoặc. Cuối cùng, Beth nói, “Anh có chuyện tình cảm với Judy Gordon à?”

“Nếu có thì tôi đã nói với cô và Max từ đầu rồi.”

“Anh sẽ nói với Max. Không phải tôi.”

“Thôi được - Tôi không có chuyện gì với Judy Gordon.”

“Nhưng anh bị cô ấy hấp dẫn.”

“Mọi người đàn ông đều như thế. Cô ấy đẹp mà.” Tôi không quên nói thêm, “Và rất thông minh,” như thể tôi thực sự coi đó là chuyện bình thường. Có lúc tôi có làm thế, nhưng có lúc tôi quên không lấy đầu óc làm lý do. Tôi nói, “Khi cô thấy một cặp vợ chồng trẻ rất gợi tình, có thể cô nên nghĩ đến khía cạnh tình dục.”

Nàng gật đầu, “Chúng ta sẽ nghĩ về chuyện này.”

Từ chỗ chúng tôi đứng, tôi có thể thấy cột cờ bên sân nhà Gordon. Chiếc cờ đầu lâu xương chéo đang bay trên đỉnh, hai chiếc cờ hiệu treo trên cột chống. Tôi hỏi Beth, “Cô có thể vẽ hình mấy chiếc cờ hiệu kia không?”

“Được chứ.” Nàng lấy sổ tay và bút ra rồi vẽ. “Anh nghĩ nó có liên quan à? Phải chăng là tín hiệu?”

“Tại sao không? Chúng là cờ hiệu mà.”

“Tôi nghĩ chúng chỉ để trang trí. Nhưng chúng ta sẽ biết thôi.”

“Đúng.” Tôi nói với Beth, “Giờ quay lại chỗ hiện trường nhé.”

Chúng tôi bước qua hàng rào và đi xuống chỗ chiếc cầu tàu của nhà Gordon. Tôi nói, “Được rồi, giờ tôi là Tom, cô là Judy. Chúng ta rời Đảo Plum vào giữa trưa, và giờ là khoảng 5 giờ 30. Chúng ta về đến nhà. Tôi tắt máy. Cô ra khỏi tàu trước và buộc dây. Tôi nhấc chiếc thùng lên trên cầu. Đúng không?”

“Đúng.”

“Tôi trèo lên cầu tàu. Chúng ta cùng xách chiếc thùng bằng quai và bắt đầu đi lên.”

Chúng tôi hình dung ra mọi việc và bước đi bên cạnh nhau. Tôi nói, “Chúng ta nhìn lên nhà. Nếu có ai đứng trên bất kì bậc sân nào thì ta vẫn nhìn thấy. Đúng không?”

“Đúng,” nàng đồng tình. “Cứ cho là có ai đó đứng ở đây, nhưng là người quen của chúng ta, và ta tiếp tục đi lên.”

“Được. Nhưng cô có nghĩ là người đó đi xuống để giúp một tay không. Chuyện giúp đỡ thông thường. Dù sao, chúng ta vẫn đi lên.”

Chúng tôi tiếp tục, hai người đi cạnh nhau tới bậc sân thứ hai. Beth nói, “Tới một điểm nào đó, chúng ta sẽ nhận ra chiếc cửa trượt bằng kính hoặc rèm che có mở ra hay không. Nếu mở thì ta sẽ lo, có thể dừng lại hoặc quay lại. Chiếc cửa phải đóng mới phải.”

“Trừ khi họ biết có người đang chờ mình ở trong nhà.”

“Đúng.” Nàng nói, “Nhưng đó phải là người có chiếc chìa khóa mới.”

Chúng tôi tiếp tục đi về phía ngôi nhà tới bậc sân cao nhất và dừng lại cách đường phấn vẽ vài bước chân. Beth đối diện với chỗ nằm của Judy, còn tôi đối diện với chỗ của Tom. Tôi nói, “Vợ chồng Gordon chỉ còn bước thêm một vài bước và sống thêm chưa đầy một phút. Họ nhìn thấy gì?”

Beth nhìn chăm chú xuống những đường vẽ bằng phấn, rồi ngước lên nhìn căn nhà trước mặt chúng tôi, những chiếc cứa kính, khu vục ngay phía trước bên trái và phải. Cuối cùng nàng nói, “Họ vẫn đi về phía nhà, khi đó còn cách khoảng sáu mét. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ cố bỏ chạy. Họ vẫn ở cạnh nhau, không có chỗ nào để nấp, trừ ngôi nhà, và không ai có thể bắn hai phát vào đầu họ từ khoảng cách như vậy. Họ chắc chắn phải quen biết với kẻ giết người, và kẻ đó không làm họ cảnh giác.”

“Đúng. Tôi đang nghĩ có thể hung thủ khi đó đang nằm trên một chiếc ghế dài giả vờ ngủ, đó là lý do tại sao hắn không xuống chào vợ chồng Gordon ở dưới cầu tàu. Vợ chồng Gordon biết người này và có thể Tom gọi, ‘Này, Joe, dậy giúp chúng tôi với chiếc thùng vác xin Ebola này đi.’ Có thể là bệnh than. Hoặc tiền. Thế là tên kia dậy, ngáp vài cái rồi bước mấy bước về phía họ từ một chiếc ghế dài nào đó trong số này, khi vừa đủ tầm thì rút súng ra bắn vào đầu họ. Đúng không?”

Nàng đáp, “Có thể.” Nàng bước quanh vạch phấn và đứng ở chỗ hung thủ chắc chắn đã đứng, không quá mét rưỡi từ đường phấn vẽ bàn chân. Tôi tiến lên chỗ Tom đã đứng. Beth nâng tay phải lên và dùng tay trái đỡ cổ tay phải. Nàng chỉ ngón tay phải vào mặt tôi và nói, “Pằng.”

Tôi nói, “Họ không mang chiếc thùng khi bị bắn. Nó sẽ bị rơi khỏi tay Tom khi anh ấy bị bắn. Tom và Judy phải đặt chiếc thùng xuống trước.”

“Tôi không chắc họ có mang chiếc thùng nào không. Đó là giả thuyết của anh, không phải của tôi.”

“Vậy thì chiếc thùng luôn ở trên tàu đã đi đâu?”

“Ai biết? Bất kì chỗ nào. Hãy nhìn vào hai đường phấn này, John. Họ nằm gần nhau như vậy, tôi không biết là họ có thể đã mang một chiếc thùng rộng mét hai giữa hai người không.”

Tôi nhìn lại vào những đường vẽ. Nàng có lý, nhưng tôi nói, “Họ có thể đã đặt chiếc thùng cách mấy bước về phía sau rồi mới tiến đến chỗ hung thủ khi đó đang nằm trên ghế dài hoặc đang đứng ở đây hoặc vừa mới bước ra khỏi chiếc cửa trượt”

“Có thể. Nhưng dù thế nào tôi vẫn nghĩ là vợ chồng Gordon có quen biết với hung thủ.”

“Đồng ý.” Tôi nói với Beth, “Tôi không nghĩ là vô tình mà hung thủ và vợ chồng Gordon lại ở chỗ này. Nếu hung thủ bắn ở trong nhà thì sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nhưng hắn lại chọn vị trí này - hắn định trước sẽ bắn ở đây.”

“Tại sao?”

“Lý do duy nhất tôi có thể nghĩ được là vì hắn sử dụng súng có đăng ký, và hắn không muốn để lại đạn để sau này sẽ phải kiểm tra đạn đạo nếu có bị tình nghi.”

Nàng gật đầu và nhìn ra phía vịnh.

Tôi tiếp tục, “Bên trong ngôi nhà, viên đạn sẽ găm vào chỗ nào đó, và có thể hắn sẽ không thể lấy lại được. Vì thế hắn tính toán bắn hai phát vào đầu ở cự ly gần với một khẩu súng ngắn cỡ nòng to và không có vật cản nào từ lỗ đạn ra trên đầu đến chỗ sâu ngoài vịnh.”

Nàng lại gật đầu. “Có vẻ là như thế, phải không?” Nàng nói thêm, “Điều đó làm thay đổi đặc điểm của hung thủ. Hắn không phải là một tên nghiện, không phải một sát thủ với một khẩu súng không đăng kí. Đó là người không có được loại súng không thể lần ra - là một công dân tốt với khẩu súng có đăng kí. Phải chăng anh định nói thế?”

Tôi nói, “Nó phù hợp với những gì tôi thấy ở đây.”

“Đó là lý do tại sao anh muốn có danh sách những người ở địa phương có đăng kí sử dụng súng.”

“Đúng.” Tôi nói thêm, “Loại nòng lớn, có đăng kí chứ không phải là loại bất hợp pháp hay vũ khí nóng, và có lẽ là một khẩu súng lục chứ không phải súng ổ quay vì súng ổ quay thì gần như không thể giảm thanh được. Vậy hãy bắt đầu với giả thiết như vậy.”

Beth nói, “Làm sao để một công dân tốt với một khẩu súng có đăng kí có thể có được ống giảm thanh?”

“Câu hỏi hay đấy.” Tôi suy nghĩ về toàn bộ những đặc điểm của hung thủ mà tôi vừa nghĩ ra và nói, “Giống như mọi thứ khác trong vụ này, luôn có sự mâu thuẫn trong mỗi giả thuyết.”

“Đúng vậy.” Nàng nói thêm, “Và rồi còn cả hai mươi khẩu súng tự động nòng 45 trên Đảo Plum.”

“Quả là có thật.”

Chúng tôi nói chuyện một lúc, cố gắng ghép các sự kiện với nhau, gắn vào thời điểm 5 giờ 30 chiều qua thay vì 5 giờ 30 chiều nay.

Tôi nhìn thấy một người cảnh sát của thị trấn Southold mặc đồng phục qua cửa kính, nhưng anh ta không nhìn thấy chúng tôi và đi chỗ khác.

Sau khoảng dăm phút suy nghĩ, tôi nói với Beth Penrose, “Khi còn bé, tôi thường tới đây từ Manhattan với gia đình hoàn toàn kiểu Mỹ của tôi - Bố, Mẹ, em trai Jim, em gái Lynne. Chúng tôi thường thuê một ngôi nhà nhỏ ở gần căn nhà lớn kiểu thời Victoria của cậu Harry và ở đó hai tuần cho muỗi nó cắn. Chúng tôi hứng độc cây thường xuân, để cho luỡi câu móc vào tay và nắng cháy da. Chúng tôi chắc hẳn phải vui lắm, vì năm nào cũng háo hức chờ đi nghỉ, chuyến đi dã ngoại kiểu Sam và Max[2] hàng năm của gia đình Corey.”

Nàng mỉm cười.

Tôi tiếp tục, “Một năm, khi tôi khoảng mười tuổi, tôi tìm thấy một viên đạn súng hỏa mai, và tôi sung sướng lắm. Ý tôi là có người nào đó đã bắn nó một hai trăm năm trước. Sau đó vợ của cậu Harry, mợ June - Chúa phù hộ cho linh hồn của bà - đưa tôi đến một nơi gần thôn Cutchogue mà bà nói đã từng là một ngôi làng của người da đỏ Corchaug. Ở đó bà chỉ cho tôi cách tìm những mũi tên và những chiếc hầm nấu ăn, những chiếc kim bằng xương và đủ mọi thứ. Thật không thể tin được.”

Beth không nói gì, nhưng nàng nhìn tôi như thể câu chuyện tôi kể rất thú vị.

Tôi tiếp tục, “Tôi nhớ có mấy đêm không ngủ được vì nghĩ tới những viên đạn súng hỏa mai và những mũi tên, những người dân di cư đến và người da đỏ, những người lính Anh và lính Đại lục, đủ thứ. Trước khi hai tuần thần tiên kết thúc, tôi biết mình muốn trở thành một nhà khảo cổ học khi lớn lên. Nhưng mọi việc không diễn ra như thế nhưng tôi nghĩ đó là một trong những lí do khiến tôi trở thành điều tra viên.”

Tôi giải thích với nàng về con đường lái xe vào nhà cậu Harry và việc họ đã sử dụng xỉ than cùng vỏ sò như thế nào để giữ cho khỏi bụi và bùn đất. Tôi nói, “Vậy là một nghìn năm sau, có nhà khảo cổ học nào đó đào chỗ ấy lên và tìm thấy xỉ than cùng vỏ sò, người đó sẽ đoán đây là một chiếc hầm nấu ăn dài. Thực ra là anh ta tìm thấy chỗ đường lái xe vào nhà, nhưng lại làm cho cái anh ta nghĩ là chiếc hầm nấu ăn phù hợp với giả thuyết. Cô vẫn nghe đấy chứ?”

“Có.”

“Được. Đó là bài nói trên lớp của tôi. Cô muốn nghe không?”

“Anh nói đi.”

“Tốt, - những thứ bạn nhìn thấy ở hiện trường một vụ giết người đều ở trạng thái tĩnh, nó không còn chuyển động. Các bạn có thể nghĩ ra rất nhiều câu chuyện xung quanh nó, nhưng tất cả đều chỉ là giả thuyết. Một điều tra viên, cũng giống như một nhà khảo cổ học, có thể ghép những sự kiện chắc chắn và những chứng cứ khoa học vững chắc với nhau, nhưng vẫn đưa ra những kết luận sai. Ngoài ra, một vài lời nói dối và ngụy tạo cùng những người cố gắng giúp đỡ nhưng lại dẫn đến sai lầm. Cộng với những người nói cho bạn những điều bạn muốn nghe phù hợp với giả thuyết của bạn, và những người che giấu âm mưu, rồi chính kẻ giết người cũng có thể sắp đặt những manh mối giả. Xuyên suốt qua tất cả những mâu thuẫn này, những điểm không thống nhất và những lời nói dối chính là sự thật.” Tôi nói với Beth, “Đến chỗ này, nếu tính toán thời gian của tôi là đúng, chuông reo lên và tôi nói, ‘Thưa các anh chị, công việc của các anh chị là tìm ra sự thật.”

Nàng nói, “Hoan hô.”

“Cám ơn.”

“Vậy ai giết vợ chồng Gordon?” Nàng hỏi.

“Tôi nghĩ nát óc ra rồi.” Tôi đáp.

❀ ❀ ❀

[1] Tên một chương trình khách mời nổi tiếng của đài truyền hình CBS do Montel Williams thực hiện-ND.

[2] Tên hai nhân vật trong bộ truyện tranh cùng tên nổi tiếng ở Mỹ.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.