Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

Emma Whitestone quyết định ở lại qua đêm.

Nàng dậy sớm, tìm nước súc miệng và gây tiếng òng ọc to khiến tôi tỉnh giấc. Nàng tắm, dùng khăn tắm của tôi. Nàng chải tóc bằng ngón tay, tìm thỏi son môi và phấn mắt trong túi xách của nàng rồi đứng trần truồng trước gương trang điểm.

Khi mặc đồ lót, nàng xỏ chân vào dép rồi choàng chiếc váy lên người qua đầu. Tất cả chỉ hết bốn giây.

Nàng thuộc dạng phụ nữ ít phải mông má và không cần nhiều những thứ đồ tô vẽ cho một cô gái đi qua đêm.

Tôi không quen với việc để phụ nữ chờ mình nên phải chạy vội vào phòng tắm. Tôi xỏ chiếc quần jeans chật nhất cùng áo tennis màu trắng và giày thể thao. Tôi bỏ lại súng trong tủ quần áo.

Theo gợi ý của Whitestone, chúng tôi đến nhà hàng Cutchogue, một quán ăn kiểu của những năm 1930. Khách trong quán là nông dân, người giao hàng, người buôn bán ở địa phương, một vài khách du lịch, lái xe tải, và có lẽ thêm một cặp sắp được biết về nhau qua bữa sáng và sau khi làm tình.

Chúng tôi ngồi bên một chiếc bàn nhỏ. Tôi nói, “Người ta sẽ không bàn luận gì nếu thấy em vẫn mặc bộ đồ hôm qua chứ?”

“Họ thôi bàn luận về em nhiều năm nay rồi.”

“Thế còn danh tiếng của anh.”

“Danh tiếng của anh chỉ có thể tốt hơn nhờ đi cùng em đấy.”

Sáng nay miệng lưỡi chúng tôi hơi chua.

Nàng gọi đồ ăn sáng rất nhiều với lạp xưởng, trứng, khoai tây rán và bánh mì nướng. Nàng bảo vì nàng không ăn gì tối qua.

Tôi nhắc, “Em đã uống bữa tối còn gì. Anh đã bảo ra ngoài ăn bánh piza mà.”

“Piza không tốt cho anh.”

“Thứ em vừa gọi cũng không tốt cho em.”

“Em sẽ bỏ bữa trưa nay. Còn bữa tối thì sao?”

“Chắc chắn rồi. Anh cũng vừa định hỏi em.”

“Tốt. Đón em lúc sáu giờ ở cửa hàng hoa nhé.”

“Nhất trí.” Tôi nhìn quanh và thấy hai viên cảnh sát thị trấn Southold mặc quân phục, nhưng không thấy Max.

Thức ăn mang tới và chúng tôi dùng bữa. Tôi thích người khác nấu ăn cho mình.

Emma hỏi tôi, “Sao anh lại quan tâm nhiều đến thuyền trưởng Kidd thế?”

“Ai cơ? À... bọn cướp biển. Ờ, nó hấp dẫn mà. Ý anh là ông ấy đã ở ngay North Fork này. Anh có vẻ nhớ ra rồi. Từ khi anh còn bé. Không chơi chữ đâu.”

Nàng nhìn tôi và nói, “Tối qua anh quan tâm đến chuyện đó lắm mà.”

Sau phút ban đầu bột phát tối qua, điều lẽ ra không nên có, tôi đã cố kìm lại, như tôi đã nói. Nhưng Whitestone vẫn tò mò về sự tò mò của tôi. Tôi nói với nàng, “Nếu anh mà tìm thấy kho báu đó thì anh sẽ chia cho em.”

“Ngọt ngào quá.”

Tôi cố ra vẻ lãnh đạm nói, “Anh muốn quay lại nhà của hội Lịch sử. Chiều nay được không?”

“Tại sao?”

“Anh muốn mua cho mẹ anh thứ gì đó trong cửa hàng đồ lưu niệm.”

“Nếu anh gia nhập hội, em sẽ giảm giá cho anh.”

“Được rồi. Anh đón em lúc, xem nào, bốn giờ được không?”

Nàng nhún vai, “Được.”

Tôi nhìn nàng qua chiếc bàn. Ánh sáng mặt trời chiếu trên gương mặt nàng. Đôi khi, vào buổi sáng ngày hôm sau - và tôi thực sự ghét phải nói ra điều này - và đôi khi, ta không biết mình đang nghĩ điều quái quỉ gì về đêm hôm trước, và tệ hơn, ta không biết mình có căm ghét cái của nợ đàn ông kia hay không. Nhưng sáng nay, tôi có cảm giác thật dễ chịu. Tôi thích Emma Whitestone. Tôi thích cái cách nàng ép chặt hai quả trứng rán, bốn miếng lạp xưởng, một ụ khoai tây rán, bánh mì nướng phết bơ, nước hoa quả và trà có kem.

Nàng liếc nhìn chiếc đồng hồ phía sau quầy hàng và tôi nhận ra là nàng còn không đeo đồng hồ. Nàng là người phụ nữ của tinh thần tự do, và đồng thời còn là chủ tịch và chuyên viên lưu trữ của hội Lịch sử Peconic. Một sự tương phản thú vị.

Nhiều người mỉm cười với nàng, chào nàng, và tôi biết nàng được nhiều người mến mộ. Đó luôn là một dấu hiệu tốt. Nếu điều này nghe giống như là tôi đang có tình yêu thứ hai trong tuần thì đúng là thế thật. Tuy nhiên, tôi chưa hiểu cách đánh giá của Emma Whitestone về đàn ông, cụ thể là về Fredric Tobin và có lẽ là cả tôi. Có thể nàng không có đánh giá chung về đàn ông, hay về mọi người nói chung. Có thể nàng thích tất cả mọi đàn ông. Rõ ràng Fredric Tobin và tôi không thể nào tương phản nhau hơn thế. Tôi đoán điều hấp dẫn nàng ở Fredric Tobin có lẽ là chiếc túi quần căng phồng của gã. Còn với tôi, đó hẳn là cái căng phồng ở phía trước quần.

Chúng tôi nói chuyện phiếm một lúc, và tôi quyết phải tránh chủ đề về những tên cướp biển và thuyền trưởng Kidd cho đến chiều. Tuy nhiên, cuối cùng thì sự tò mò của tôi vẫn chiến thắng. Một đoạn phim dài hiện ra trong đầu, tôi mượn cây bút chì của cô hầu bàn và viết con số 44106818 lên một tờ giấy ăn. Tôi xoay tờ giấy về phía nàng và nói, “Nếu anh đánh xổ số với con số này, liệu có thắng không?”

Nàng mỉm cười trong lúc đang nhai bánh mì. “Độc đắc,” nàng nói. “Anh lấy mấy con số này ở đâu?”

“Anh đọc ở đâu đó. Có nghĩa gì không?”

Nàng nhìn quanh và hạ giọng nói, “Khi thuyền trưởng Kidd bị giam trong một nhà tù ở Boston vì tội cướp biển, ông ngầm gửi một mảnh giấy ra cho vợ mình là Sarah. Ở phần dưới cùng của mảnh giấy có ghi con số này.”

“Và sao nữa?”

“Và người ta đã cố giải nghĩa nó trong ba trăm năm nay.”

“Em nghĩ nó có nghĩa gì?”

“Câu trả lời rõ ràng nhất là các con số này liên quan đến kho báu được chôn giấu của ông ấy.”

“Em không nghĩ nó là con số trên chiếc quần lót của ông ấy đấy chứ?”

“Anh lại đang ngốc trở lại đấy à?”

“Anh đùa thôi. Hiểu không? Đùa?”

Nàng đảo mắt. Thực ra, nó hơi sớm cho sự khôi hài của tôi. Nàng nói, “Em không muốn bàn chuyện này ở đây. Lần cuối cùng có làn sóng điên khùng đi tìm kho báu của thuyền trưởng Kidd ở đây là vào những năm 1940. Em không muốn bị đổ tội vì đã khơi ra một cuộc săn tìm kho báu ồ ạt nữa.”

“Được.”

Nàng hỏi tôi, “Anh có con chưa?”

“Có thể.”

“Nghiêm túc đấy.”

“Chưa. Anh chưa có con. Còn em.”

“Chưa có. Nhưng em muốn có.”

Câu chuyện cứ tiếp tục như thế. Một lúc sau, tôi quay lại chuyện những con số kia và hỏi nàng bằng giọng thì thào, “Có phải những con số này là tọa độ trên bản đồ không?”

Nàng rõ ràng không muốn bàn chuyện này, nhưng vẫn đáp, “Đó là điều rõ ràng. Tọa độ bản đồ tám chữ số. Phút và giây. Tọa độ này thực tế là một điểm nào đó trên đảo Deer Isle ở Maine.” Nàng nhoài người qua bàn nói tiếp, “Mọi việc đi lại của thuyền trưởng Kidd khi ông trở lại vùng New York trong năm 1699 đều được ghi chép cẩn thận từng ngày qua các nhân chứng đáng tin cậy, vì thế chuyện ông ấy đến đảo Deer Isle để chôn giấu kho báu là khó có thể xảy ra.” Nàng nói, “Tuy nhiên, có một câu chuyện khác xung quanh đảo Deer Isle. Người ta cho rằng, John Jacob Astor đã thực sự tìm thấy kho báu của thuyền trưởng Kidd hay của ai đó trên đảo Deer Isle và đó là nguồn gốc gia tài của Astor.” Nàng nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp, “Có hàng chục cuốn sách, kịch, balat, những lời đồn đại, truyền thuyết và chuyện hoang đường xung quanh kho báu được chôn giấu của thuyền trưởng William Kidd. Chín mươi chín phần trăm là chuyện hoang đường.”

“Được rồi, nhưng những con số mà Kidd viết cho vợ chẳng phải là bằng chứng chắc chắn về một thứ gì đó hay sao?”

“Đúng vậy, nó có nghĩa là thứ gì đó. Nhưng ngay cả khi đó là những tọa độ trên bản đồ thì hàng hải thời đó quá sơ khai và không thể xác định được một điểm trên mặt đất với bất kì mức độ chính xác nào. Đặc biệt là kinh độ. Một tọa độ tám chữ số gồm phút và giây có thể chệch đến hàng trăm mét nếu sử dụng các phương pháp có được vào thời điểm năm 1699. Ngay cả hiện nay, với một thiết bị định vị vệ tinh, anh vẫn có thể bị chệch từ ba đến sáu mét. Nếu anh đào kho báu mà bị chệch đến sáu mét, anh có thể phải đào rất nhiều lỗ. Em nghĩ giả thuyết về tọa độ đã bị gạt sang một bên nhường chỗ cho các giả thuyết khác.”

“Ví dụ.”

Nàng hít một hơi nén sự bực bội, liếc nhìn xung quanh rồi nói, “Được, đây nàng cầm chiếc bút chì và tờ giấy ăn và viết tương ứng với mỗi con số là một chữ cái theo thứ tự an pha bê và được dòng chữ DDAOFHAH. Nàng nói, “Em nghĩ ba chữ cái cuối cùng chính là bí mật.”

“Là H-A-H?”

“Đúng. Hah, hah, hah. Anh hiểu chưa?”

“Hah, hah.” Tôi nhìn kỹ các chữ cái từ đầu tới cuối và ngược lại từ cuối tới đầu. Tôi xoay ngược chiều mảnh giấy và nói, “Kidd có mắc chứng bệnh khó đọc không?”

Nàng bật cười. “Không ích gì đâu, John. Nhiều bộ óc thông minh hơn anh và em đã cố giải mã nó ba trăm nay. Tất cả những gì người ta biết được là con số ấy vô nghĩa. Một trò đùa. Hah, hah, hah.”

“Nhưng tại sao?... Ý anh là, Kidd đang ở trong tù, bị buộc tội với án treo cổ - ”

“Vâng, được, nó không vô nghĩa, không phải là trò đùa. Nhưng nó chỉ có nghĩa đối với Kidd và vợ ông ấy. Bà ấy có thể đến thăm chồng một vài lần trong tù. Họ nói chuyện với nhau. Họ dành cuộc đời cho nhau. Ông ấy có thể đã nói cho vợ biết một nửa bí mật, hoặc một nửa kia viết trong một bức thư đã mất từ hồi đó.”

Chuyện này thú vị thật. Giống như thứ công việc tôi đang làm, chỉ trừ bí mật này đã ba trăm năm tuổi. Tôi hỏi nàng, “Còn giả thuyết nào không?”

“Giả thuyết nổi bật nhất là những con số này chỉ số bước chân. Đó là phương pháp truyền thống của bọn cướp biển để ghi nhớ vị trí của kho báu đã chôn giấu của chúng.”

“Bước chân?”

“Đúng.”

“Bước chân tính từ đâu?”

“Đó là điều bà William Kidd biết, còn anh thì không.”

“Ồ.” Tôi nhìn vào những con số. “Có nhiều bước chân quá.”

“Một lần nữa, anh lại phải biết mã hóa cá nhân. Nó có thể nghĩa là” - nàng nhìn vào tờ giấy ăn - “bốn mươi bốn bước theo hướng mười độ, và sáu mươi tám bước theo hướng mười tám độ. Hoặc có thế ngược lại. Hoặc đọc ngược từ cuối trở về trước. Ai biết? Nó chẳng có nghĩa gì cả nếu anh không biết điểm xuất phát.”

“Em có nghĩ rằng kho báu được chôn ở dưới một trong những cây sồi đó không? Cây của thuyền trưởng Kidd ấy?”

“Em không biết.” Nàng nói thêm, “Hoặc kho báu đã được tìm thấy và người tìm thấy nó không công khai cho cả thế giới biêt, hoặc chưa bao giờ có kho báu nào cả, hoặc nó vẫn chôn dưới đất và mãi mãi chôn dưới đó.”

“Vậy em nghĩ sao?”

“Em nghĩ là em phải đi mở cửa hàng.” Nàng vo tờ giấy ăn và nhét vào túi áo sơ mi của tôi. Tôi trả tiền và cả hai cùng đi. Quán ăn cách hội Lịch sử Peconic năm phút lái xe, nơi Emma đã để chiếc xe bán tải của nàng ở lại. Tôi cho xe vào bãi đỗ và nàng hôn vội vào má tôi, như thể chúng tôi không chỉ là tình nhân của nhau.

Nàng nói, “Gặp anh lúc bốn giờ nhé. Cửa hàng hoa Whitestone, đường Main Road, Mattituck.” Nàng xuống xe tôi, lên xe nàng, bóp còi, vẫy tay và chạy đi.

Tôi ngồi trên chiếc xe Jeep một lúc và nghe bản tin địa phương. Tôi đã phải ở trên đường rồi, nhưng tôi không biết phải đi đâu. Thực ra, tôi đã dùng hết mọi manh mối, tôi không có một văn phòng làm việc để có thể đến và sắp xếp giấy tờ. Tôi sẽ không nhận được một cuộc gọi nào từ các nhân chứng, từ đội kỹ thuật hình sự, vv... Thậm chí hầu như không ai biết tôi ở đâu để mà gửi một thông điệp giấu tên. Tóm lại, tôi cảm thấy giống như một thám tử tư, dù tôi thậm chí còn không có giấy phép hành nghề.

Nhưng tính chung lại, tôi đã khám phá được nhiều điều đáng ngạc nhiên kể từ lúc gặp Emma Whitestone. Nếu tôi có bất cứ nghi ngờ nào về lí do tại sao vợ chồng Gordon bị giết, thì con số 44106818 trong cuốn hải đồ kia phải gạt bỏ mối nghi ngờ đó.

Mặt khác, ngay cả trong trường hợp đúng là Tom và Judy là những người săn tìm kho báu - và tôi không nghi ngờ gì về việc này, dựa trên những bằng chứng đã có - không nhất thiết có nghĩa rằng chính vì việc theo đuổi kho báu mà họ bị giết. Đâu là mối liên hệ lôgic giữa chuyện đào bới khảo cổ của họ trên Đảo Plum và những viên đạn xuyên qua đầu họ trên sân gỗ sau nhà?

Tôi gọi về máy trả lời tự động ở nhà. Hai tin nhắn - một là của Max, hỏi tôi phải gửi tấm séc một đô la của tôi tới đâu, cuộc gọi kia là của ông chủ tôi, trung úy điều tra viên Wolfe, một lần nữa giục tôi gọi về văn phòng của ông ta, tỏ ý rằng tôi đang giẫm vào phân chó và chẳng mấy chốc sẽ ngập trong đó.

Tôi nổ máy và lái đi. Đôi khi chỉ lái xe thôi cũng cảm thấy dễ chịu.

Trên đài, phát thanh viên nói, “Tin mới về vụ giết hại hai nhà khoa học của Đảo Plum ở Nassau Point. Cảnh sát thị trấn Southold và cảnh sát quận Suffolk đã ra thông báo chung.” Anh chàng phát thanh viên - nghe giống như Don từ sáng thứ ba - đọc nguyên văn bản thông báo. Chết tiệt, nếu chúng tôi mà kiếm được người nổi tiếng ở thành phố để đọc các thông cáo báo chí không cần bình luận, chúng tôi đã ở trên thiên đường về quan hệ công chúng. Thông báo chung là một chiếc khinh khí cầu với chiếc giỏ khí cầu trống không, trừ thi thể của hai người đã chết. Bản thông báo nhấn mạnh việc ăn cắp vác xin Ebola là động cơ của họ. Một bản thông báo riêng của FBI nói họ chưa rõ thủ phạm là người nước ngoài hay trong nước, nhưng họ đang lần theo các manh mối tốt. Tổ chức Y tế thế giới bày tỏ sự quan ngại về việc đánh cắp loại “vác xin quan trọng sống còn” này, thứ cực kỳ cần thiết ở nhiều quốc gia thuộc Thế giới thứ Ba vv...

Điều thực sự làm tôi bực mình là giả thiết công khai của cơ quan chức năng về những điều diễn ra đã tạo hình ảnh về Tom và Judy là những người vô lương tâm, những kẻ ăn cắp phi đạo lý: trước tiên họ ăn cắp thời gian và tiền bạc đầu tư của cơ quan, sau đó bí mật chế tạo ra một loại vác xin, họ đánh cắp công thức và có lẽ cùng với một số mẫu với ý định bán đi kiếm một khoản lời khổng lồ. Trong lúc đó, hàng nghìn người ở châu Phi đang chờ chết vì căn bệnh kinh hoàng này.

Tôi có thể tưởng tượng ra Nash, Foster và bốn gã mặc đồng phục mà tôi đã nhìn thấy ở bến phà, cùng một mớ những người ở Nhà Trắng và Lầu Năm góc làm nóng bỏng cả đường dây điện thoại giữa Đảo Plum và Washington DC. Ngay khi mọi người biết rằng vợ chồng Gordon làm việc liên quan đến các loại vác xin biến đổi gen, một câu chuyện ngụy tạo hoàn hảo được thêu dệt cho hai nhà khoa học thiên tài này. Nói một cách công bằng, họ muốn tránh sự hoảng loạn và lo sợ về bệnh dịch, nhưng tôi dám đánh cá bằng cả lương hưu cho người bị thương tật ba phần tư rằng không có một người nào ở Washington nghĩ đến danh dự của vợ chồng Gordon hay gia đình họ khi bịa ra câu chuyện họ là những kẻ ăn cắp.

Điều trớ trêu, nếu có một sự trớ trêu ở đây, là Foster, Nash và cả chính phủ vẫn không nghi ngờ gì việc vợ chồng Gordon đánh cắp một hoặc nhiều loại bệnh dịch phục vụ cho chiến tranh sinh học. Những người có trách nhiệm ở Washington, từ tổng thống trở xuống, vẫn đang ngủ say với bộ đồ chống nguy hiểm sinh học trùm lên thằng nhỏ của họ. Tốt. Tiên sư nhà chúng nó.

Tôi dừng lại ở một cửa hàng bán đồ ăn tại Cutchogue, mua một hộp cà phê và mấy tờ báo - Thời báo New York, Bưu điện, Nhật BáoBản tin của Long Island. Trong cả bốn tờ báo, câu chuyện của vợ chồng Gordon chỉ chiếm một ô nhỏ ở trang trong. Ngay cả tờ Bản tin cũng không nói nhiều đến vụ án mạng. Tôi chắc rằng nhiều người ở Washington đang hân hoan vì câu chuyện đã lắng xuống. Và nó đang lắng thật. Điều này cho phép tôi được rảnh tay, cũng như đối với họ.

Và trong khi Foster, Nash và các cơ quan liên bang đang truy tìm những tên gián điệp và khủng bố nước ngoài, tôi lại đi theo linh cảm của mình cùng với những tình cảm về Tom và Judy Gordon. Tôi mừng và không quá ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng điều mà tôi nghĩ ngay từ ban đầu là đúng - đây không phải là chuyện liên quan đến chiến tranh sinh học, ma túy hay điều gì bất hợp pháp. Vâng, không quá bất hợp pháp.

Nhưng tôi vẫn chưa biết ai là kẻ đã giết họ. Cũng quan trọng không kém, tôi biết họ không phải là tội phạm, và tôi muốn trả lại danh dự cho họ.

Tôi uống hết chỗ cà phê, quẳng mấy tờ báo ra ghế sau và chạy ra đường. Tôi lái xe tới Soundview, một nhà nghỉ cạnh biển xây từ những năm 1950. Tôi vào thẳng phòng quản lý và hỏi thăm về Nash và Foster. Người thanh niên đứng sau quầy bar nói hai người đàn ông mà tôi tả đã trả phòng và đi rồi.

Tôi lái xe loanh quanh - tôi không muốn nói là không có mục đích, nhưng nếu bạn không biết là đang đi đâu và tại sao thì chắc rằng bạn là công chức nhà nước hoặc bạn đang chẳng có mục đích gì cả.

Tôi quyết định tới Orient Point. Thêm một ngày đẹp trời nữa, hơi lạnh hơn, gió thổi nhiều hơn, nhưng vẫn dễ chịu.

Tôi lái xe tới bến phả Đảo Plum. Tôi muốn coi những chiếc xe đỗ trong bãi xem có hoạt động gì bất thường không, và liệu tôi có thể tình cờ gặp ai đó biết được điều gì. Khi tôi lái xe tới nơi và tiến gần đến chiếc cửa, một nhân viên an ninh của Đảo Plum bước ra ngang đường và giơ tay lên. Là người tử tế, tôi không tông thẳng xe vào người gã. Gã đi quanh ra cửa xe và hỏi tôi, “Tôi có thể giúp gì được ngài không?”

Tôi giơ tấm phù hiệu cảnh sát lên và nói, “Tôi đang làm việc với FBI trong vụ Gordon.”

Gã soi kỹ tấm phù hiệu và thẻ của tôi, trong lúc tôi nhìn vào mặt gã. Rõ ràng tôi nằm trong bản danh sách ngắn của gã này gồm những kẻ phá hoại, gián điệp hay loại đàng điếm, và gã cũng không cố giấu điều đó trên nét mặt. Gã nhìn tôi, hắng giọng rồi nói, “Thưa ngài, nếu ngài cho xe vào đằng kia, tôi có thể xin lệnh cho ngài qua.”

“Được.” Tôi cho xe đỗ bên lề. Tôi đã không nghĩ sẽ có nhân viên an ninh ở ngoài cổng, điều mà tôi phải nghĩ tới. Gã kia đi vào tòa nhà gạch, còn tôi tiếp tục cho xe vào bãi đỗ. Tôi có vấn đề với chính quyền rồi.

Điều đầu tiên tôi nhận ra là hai chiếc xe quân sự đỗ ở bến phà. Tôi thấy trên mỗi chiếc xe có hai người mặc đồng phục. Khi đến gần, tôi có thể nhận ra họ và chiếc xe là của Thủy quân lục chiến. Tôi đã không nhìn thấy chiếc xe quân sự nào trên Đảo Plum sáng hôm thứ ba, nhưng từ hôm đó đến giờ thế giới đã thay đổi.

Tôi cũng nhận ra một chiếc Caprice màu đen, có thể là chiếc tôi nhìn thấy hôm thứ ba mà bốn người mặc đồng phục đã đi. Tôi ghi lại biển số xe.

Sau đó tôi chạy vòng quanh cả bãi khoảng một trăm xe đang đỗ và thấy chiếc Ford Taurus màu trắng mang biển xe cho thuê. Tôi đoán đây là chiếc mà Nash và Foster đã lái. Hôm nay có chuyện lớn trên Đảo Plum đây.

Không có chiếc phà nào trên bến hay ngoài biển. Ngoài những người lính thủy quân lục chiến đang chờ lái xe của họ lên phà, không còn ai xung quanh đây.

Nhìn qua gương chiếu hậu, tôi thấy bốn - đếm được bốn - nhân viên an ninh mặc đồng phục đang chạy về phía tôi, vẫy tay và gọi to. Rõ ràng là tôi đã hiểu sai ý người gác cổng. Ôi, anh bạn của tôi.

Tôi lái xe về phía bốn người bảo vệ. Tôi nghe thấy tiếng họ la lên, “Dừng lại! Dừng lại!” May mà không phải họ đang định rút súng.

Tôi muốn bản báo cáo tới tay Foster và Nash sẽ rất thú vị, thế nên tôi cho xe chạy vòng tròn quanh bốn người bảo vệ đang hô lên, “Dừng lại! Dừng lại!” Tôi chạy mấy vòng hình số tám rồi chạy ra ngoài trước khi có ai đó đóng chiếc cửa sắt lại và nổi điên lên rút súng ra. Tôi rẽ trái lên đường Main Road và rồ ga hướng về phía tây. Không ai bắn. Đó là vì sao tôi yêu đất nước này.

Trong vòng hai phút, tôi đã đến dải đất hẹp nối Orient với Đông Marion. Bên phải là biển Sound, bên trái là vịnh và rất nhiều chim chóc trên trời. Đường bay bờ biển Đại Tây Dương. Đúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Đột nhiên, một con mòng biển lớn màu trắng lao thẳng vào tôi từ trên trời. Đó là đường bay biểu diễn có bấm giờ chính xác, một cú bổ nhào thẳng đứng, tiếp theo là động tác xòe cánh làm giảm tốc độ bổ nhào, sau đó là lấy lại thăng bằng và vút lên cao; rồi với sự tính toán thời gian hoàn hảo, nó trút bom, để lại một bãi nửa tím nửa xanh tung tóe trên kính xe. Một ngày sao mà đen đủi.

Tôi nhấn cần gạt nước, nhưng bình nước rửa kính cũng hết sạch, những vết bẩn xoa kín kính xe trước tầm nhìn của tôi. Khiếp quá, khiếp quá. Tôi dừng xe lại. “Chết tiệt.” Vốn có tài xoay xở, tôi lấy chai rượu Tobin Merlot đắt tiền để trên ghế sau ra và lấy con dao kiểu quân đội Thụy sỹ có cái mở nắp rượu từ trong hộp để đồ. Tôi mở chai rượu và tưới một chút Merlot lên kính xe trong khi cần gạt nước hoạt động. Tôi uống một chút rượu. Không tồi. Tôi tưới thêm lên kính và uống thêm một ngụm. Một anh tài chạy xe qua bóp còi và vẫy tay với tôi. May sao, loại bom này có xuất xứ hầu hết là từ thứ để làm ra rượu vang nên kính xe cũng khá sạch, chỉ trừ màu tím trên kính. Tôi uống nốt chai rượu và quẳng vỏ chai lên ghế sau.

Tôi lại tiếp tục trên đường. Tôi nghĩ về Emma Whitestone. Tôi thuộc loại đàn ông luôn gửi hoa cho các cô gái vào ngày hôm sau. Nhưng gửi hoa cho một người bán hoa thì có lẽ hơi thừa. Với tất cả những gì tôi biết, phiếu đặt hoa của tôi sẽ đến tay nàng. Nàng sẽ trang trí bó hoa rồi tự tặng cho mình. Ngốc thế là cùng, Emma sẽ nói vậy. Tôi cần một món quà cho nàng. Một chai rượu vang Tobin cũng không hợp. Ý tôi là, họ từng là tình nhân của nhau. Nàng còn có tất cả các loại đồ thủ công mỹ nghệ của địa phương và những thứ linh tinh bán ở cửa hàng nàng. Chết tiệt, chuyện này khó nghĩ thật. Tôi ghét mua đồ trang sức hay quần áo cho phụ nữ, nhưng có lẽ giờ đó là điều tôi phải làm.

Trở lại đường Main Road, tôi dừng lại ở một trạm bán xăng và đổ xăng. Tôi cũng đổ đầy nước vào bình chứa nước rửa kính và rửa sạch kính rồi bỏ tiền mua một tấm bản đồ địa phương.

Tôi tranh thủ cơ hội quan sát trên đường xem có ai đỗ xe gần đó dòm ngó tôi hay không. Có vẻ như không có ai theo dõi, mà tôi thì rất giỏi phát hiện ra đuôi, cho dù có xảy ra vụ ở phố 102 Đông.

Tôi không nghĩ mình đang gặp nguy hiểm, nhưng vẫn tính chuyện về nhà lấy súng rồi lại quyết định thôi không về.

Giờ vũ khí bên người tôi không có gì hơn là một tấm bản đồ và một bộ óc cao cấp. Tôi chạy xe về phía bắc, nơi có những gò cao sát bờ biển. Một chút khó khăn, cuối cùng tôi cũng tìm được con đường đầy bụi đất dẫn đến chỗ tôi cần đến. Tôi đỗ lại, xuống xe và trèo lên đỉnh gò.

Lần này, tôi sục sạo quanh những bụi cây thấp và những lùm cỏ. Tôi tìm thấy tảng đá nơi tôi đã ngồi và nhận thấy nó đủ lớn để có thể dùng làm điểm mốc nếu có chôn giấu thứ gì đó nơi đây.

Tôi đến chỗ mép của vách đứng. Rõ ràng trong ba trăm năm qua đã có một lượng lớn đất bị xói mòn nên có thứ gì đó chôn ở sườn phía bắc - phía biển Sound - của quả gò có thể đã bị lộ ra bởi gió và nước, và có thể đã lăn xuống bãi biển. Tôi đang sắp xếp lại mọi thứ với nhau.

Tôi đi xuống dưới chân gò và lên xe. Sử dụng tấm bản đồ mới, tôi tìm đường tới phía tây của lạch nước Mattituck. Và đây chính là nó - không, không phải là những cái cây của thuyền trưởng Kidd, mà là một tấm biển đề “Đất của thuyền trưởng Kidd.” Có vẻ như một người chia đất nào đó có ý định tiếp thị. Tôi lái xe vào trong khu đất của thuyền trưởng Kidd, một bộ sưu tập nhỏ những căn nhà trang trại của thập kỉ 1960. Một chú nhóc - đúng nghĩa đen - đang đạp xe, tôi dừng lại và hỏi, “Cháu có biết những cái cây của thuyền trưởng Kidd ở đâu không?”

Thằng bé, độ mười hai tuổi, không đáp.

Tôi nói, “Người ta bảo có một nơi gần lạch nước, ở đó có những cái cây gọi là cây của thuyền trưởng Kidd.”

Thằng bé nhìn tôi rồi chiếc xe bốn bánh của tôi, và tôi đoán nỏ thấy tôi giống nhân vật trong phim Idiana Jones. Nó hỏi tôi, “Chú đi tìm kho báu à?”

“Ồ... không, chú chỉ muốn chụp ảnh những cái cây đó thôi.”

“Ông ấy chôn hòm báu vật dưới một trong những cái cây đó.”

Dường như tất cả mọi người trừ tôi đều biết rõ chuyện này. Đó là điều xảy ra khi ta không chú ý. Tôi nói với chú nhóc, “Những cái cây đó ở đâu?”

“Các bạn cháu và cháu đã có lần đào một cái hố thật to, trước khi cảnh sát đuổi chúng cháu đi. Những cái cây đó ở trong một công viên, nên chú không thể đào ở đó được đâu.”

“Chú chỉ muốn chụp mấy bức ảnh thôi.”

“Nếu chú muốn đào thì cháu sẽ canh chừng cảnh sát cho.”

“Được. Dẫn đường cho chú đi.”

Tôi đi theo chú nhóc trên chiếc xe đạp tới một con đường quanh co dốc xuống biển Sound và kết thúc ở một công viên trên bãi biển, nơi mấy bà mẹ trẻ đang ngồi cạnh đám trẻ con trong xe tập đi. Bên phải là lạch nước Mattituck và một bến du thuyền. Tôi cho xe đỗ sang lề và ra khỏi xe. Tôi không thấy có cây sồi lớn nào, chỉ toàn những bụi cây nhỏ và thân cây còi cọc phía bên kia đường. Công viên giới hạn bởi bờ biển ở phía bắc và lạch nước ở phía đông. Ở phía bên kia công viên, về hướng tây, tôi thấy một gò đất thấp dần xuống dưới mặt nước. Ở phía nam nơi tôi và chú nhóc vừa đến là nơi đất nhô lên cao, chính là đất của thuyền trưởng Kidd.”

Chú nhóc hỏi tôi, “Xẻng của chú đâu?”

“Chú chỉ chụp ảnh thôi.”

“Thế máy ảnh của chú đâu?”

“Tên cháu là gì?”

“Billy. Còn chú?”

“Johnny. Có phải chỗ này không?”

“Chắc chắn mà.”

“Những cái cây của thuyền trưởng Kidd ở đâu?”

“Đằng kia. Trong công viên.”

Chú nhóc chỉ tới một bãi đất lớn. Nó có vẻ như là một khoảng đất công viên không bị thay đổi tình trạng tự nhiên, được bảo tồn thiên nhiên tốt hơn những gì mà đầu óc của một gã Manhattan như tôi có thể tưởng tượng về công viên. Nhưng tôi vẫn không thấy có cây sồi lớn nào. Tôi nói với chú nhóc, “Chú có thấy cái cây nào đâu.”

“Kia kìa.” Nó chỉ cho tôi những cây sồi còi cọc, cây anh đào dại và những thứ cây tạp chủng khác, không có cây nào cao quá sáu mét. Thằng bé nói, “Chú nhìn thấy cái cây to kia không? Đó là chỗ cháu và Jerry đào. Một đêm nào đó chúng cháu sẽ quay lại.”

“Ý tưởng hay đấy. Qua bên đó xem sao.”

Billy để chiếc xe trên bãi cỏ, và tôi cùng người bạn mới đi bộ trên bãi. Cỏ mọc cao, nhưng những bụi cây có khoảng không rộng nên đi lại cũng dễ. Rõ ràng là thằng nhóc Billy này không tập trung trong giờ học về khoa học trái đất, nếu không thì nó đã biết rằng mấy cái cây này không thể có ba bốn trăm năm tuổi. Thực ra, tôi cũng không mong sẽ thấy những cây sồi cao ba bốn chục mét với hình đầu lâu xương chéo khắc trên thân.

Billy nói, “Chú có xẻng trong xe không?”

“Không. Hôm nay chú chỉ đi xem trước thôi. Ngày mai bọn chú sẽ tới đây và mang theo máy ủi.”

“Thật hả? Nếu chú tìm được kho báu thì phải chia đấy nhé.”

Tôi bắt chước giọng của một tên cướp biển nói, “Nếu ta tìm thấy kho báu, chú nhóc kia, ta sẽ cắt cổ tất cả những kẻ đòi chia của.”

Billy hai tay ôm lấy cổ và phát ra tiếng ộc ộc.

Tôi vẫn tiếp tục bước đi, chân đá vào nền đất cát, cho tới khi tôi tìm được nơi tôi đang tìm - một gốc cây khổng lồ đã mục phân nửa, bên trên phủ đầy đất và các loại cây con. Tôi nói với Billy, “Cháu có bao giờ nhìn thấy những gốc cây khác giống thế này không?”

“Ồ, có. Chúng như có ở khắp mọi nơi.”

Tôi nhìn quanh và hình dung ra những cây sồi nguyên sinh từng đứng sừng sững nơi này trong thời kỳ thuộc địa, trên mảnh đất bằng phẳng bên cạnh lạch nước lớn trong vùng biển Sound. Đây là một bến cảng tự nhiên cho tàu thuyền và dân đi biển. Tôi tưởng tượng ra một con tàu ba buồm đang vào biển Sound và thả neo ngoài khơi. Mấy người thủy thủ dùng xuồng bơi vào lạch nước và lên bờ ở chỗ tôi đỗ xe trên đường. Họ buộc chiếc xuồng vào một gốc cây và lội lên bờ. Họ đang mang theo thứ gì đó - một chiếc hòm - giống như Tom và Judy mang chiếc thùng lên bờ. Những người thủy thủ - William Kidd và mấy người khác - đi vào rừng sồi, chọn một cái cây, đào hố, chôn chiếc hòm, đánh dấu cái cây theo cách nào đó rồi đi ra, định rằng một ngày nào đó sẽ quay trở lại. Tất nhiên, họ không bao giờ trở lại. Đó là lí do vì sao có nhiều truyền thuyết như vậy về kho báu được chôn vùi.

Billy nói, “Đó là cái cây mà cháu và Jerry đã đào. Chú có muốn xem không?”

“Có chứ.”

Chúng tôi tới cạnh một cây anh đào dại xương xẩu và nghiêng ngả vì gió cao chừng bốn, năm mét. Billy chỉ vào gốc cây, chỗ có một cái hố nông đã lấp một nửa bằng cát. Chú nhóc nói, “Đây này.”

“Sao cháu không đào ở bên kia gốc cây? Sao không đào cách ra một chút?”

“Cháu không biết.., chúng cháu chỉ đoán thôi. Này, chú có bản đồ không. Bản đồ kho báu ấy?”

“Chú có. Nhưng nếu chú cho cháu xem thì chú sẽ bắt cháu nhảy từ tàu xuống biển đấy.”

“Aaahhh!” Thằng bé bắt chước khá giống cảnh người nhảy khỏi tấm ván bắc trên thành tàu xuống biển.

Tôi quay về chỗ đỗ xe, anh bạn nhỏ Billy đi bên cạnh. Tôi hỏi, “Sao hôm nay cháu không đi học?”

“Hôm nay là ngày Rosh Hashanah.”

“Cháu là người Do Thái à?”

“Không, nhưng Danny bạn cháu là người Do Thái.”

“Thế Danny đâu?”

“Bạn ấy đến trường.”

Thằng nhóc này có khiếu làm luật sư.

Chúng tôi quay ra xe. Tôi tìm được một tờ năm đô la trong ví. “Tốt lắm, Billy, cám ơn cháu đã giúp.”

Thằng bé cầm tờ tiền và nói, “Vâng, cám ơn chú! Chú có cần giúp thêm gì không?”

“Không, chú phải về để báo cáo với Nhà Trắng.”

“Nhà Trắng?”

Tôi dựng chiếc xe đạp dậy và đẩy cho chú nhóc. Tôi lên xe và nổ máy. Tôi bảo nó, “Cái cây mà cháu đang đào không đủ tuổi để có ở đó vào thời của Thuyền trưởng Kidd đâu.”

“Thật hả?”

“Thuyền trưởng Kidd sống cách đây ba trăm năm.”

“Chà.”

“Cháu biết những gốc cây mục nát trên mặt đất chứ? Đó là những cây to khi thuyền trưởng Kidd lên bờ ở đây. Thử đào quanh một gốc xem sao.”

“Vâng, cám ơn chú!”

“Nếu cháu tìm thấy kho báu, chú sẽ quay lại lấy phần của chú đấy nhé.”

“Jerry có thể sẽ cắt cổ chú.”

“Aaaaarrrghhh!”

Và tôi lái xe đi khỏi.

Điểm dừng tiếp theo, một món quà cho Emma. Trên đường đi, tôi ghép thêm một phần của ô chữ trong đầu.

Quả thật là có thể có nhiều hơn một kho báu được chôn giấu, nhưng kho báu mà vợ chồng Gordon đang tìm, và rất có thể đã tìm được, được chôn ở Đảo Plum. Tôi khá chắc chắn về điều này.

Và Đảo Plum là đất của chính phủ, vì thế bất cứ thứ gì lấy lên từ lòng đất đều thuộc về chính phủ, cụ thể là bộ Nội vụ.

Vì vậy, cách đơn giản để đánh lừa Caesar lấy kho báu trên đất của Caesar là chuyển kho báu đến đất của mình. Tuy nhiên, nếu đi thuê, ta sẽ gặp rắc rối. Và thế là có một mẫu đất bên bờ biển mua của bà Margaret Wiley.

Tuy nhiên, vẫn còn mấy câu hỏi nữa. Một là, tại sao vợ chồng Gordon biết có thể có một kho báu chôn trên Đảo Plum? Trả lời: họ biết được qua mối quan tâm của mình và vì tham gia hội Lịch sử Peconic. Hoặc, một người khác đã biết từ lâu rằng có một kho báu trên Đảo Plum nhưng người đó không được quyền lên đảo, rồi người này làm quen với vợ chồng Gordon vì họ là những nhân viên cấp cao và hầu như không bị hạn chế đi lại trên đảo. Cuối cùng, người này tiết lộ cho vợ chồng Gordon biết và âm mưu được sắp đặt, hai bên lập một giao ước kí bằng máu dưới ánh sáng của một ngọn nến bập bùng, hay thứ gì đó.

Tom và Judy là những người tốt, nhưng họ không phải thần thánh. Tôi nghĩ về điều mà Beth đã nói - “Vàng làm thánh lóa mắt” - và tôi hiểu ra câu đó đúng đến nhường nào.

Vợ chồng Gordon hiển nhiên dự định sẽ chôn lại kho báu trên khu đất của họ, sau đó vờ như phát hiện ra và công bố cho thiên hạ biết, đóng thuế đầy đủ cho chính quyền liên bang và bang New York. Có thể người đối tác kia lại có ý khác. Câu chuyện là vậy. Người kia không hài lòng với phần chia năm mươi phần trăm số của cải sẽ phải đóng thuế rất nhiều.

Điều này làm tôi đặt câu hỏi rằng kho báu có thể trị giá đến bao nhiêu. Đương nhiên là phải đủ lớn để người ta giết chết hai mạng người.

Như tôi vẫn dạy trên lớp học, một giả thuyết phải phù hợp với tất cả các dữ kiện thực tế. Nếu không, ta sẽ phải kiểm tra lại các dữ kiện thực tế. Nếu các dữ kiện là chính xác thì giả thuyết đó không có giá trị và ta phải thay đổi giả thuyết.

Trong trường hợp này, hầu hết các dữ kiện ban đầu đều hướng tới giả thuyết sai. Bỏ điều đó sang một bên, cuối cùng tôi đã có được cái mà các nhà vật lý học gọi là thuyết thống nhất - các cuộc khai quật gọi là khảo cổ trên Đảo Plum, chiếc tàu cao tốc đắt tiền, căn nhà thuê giá cao ở sát biển, chiếc tàu Spirochete đậu ngoài khơi Đảo Plum, làm thành viên của hội Lịch sử Peconic, một mẫu đất có vẻ như vô tác dụng bên bờ biển Sound, và có thể còn cả chuyến đi tới Anh. Cộng thêm vào đó là việc vợ chồng Gordon treo lá cờ đầu lâu xương chéo kỳ quái, chiếc thùng bị mất tích và con số có tám chữ số trong cuốn hải đồ của họ. Kết hợp tất cả với nhau, bạn sẽ có được thuyết thống nhất vững chắc gắn những điều tưởng như chẳng liên quan gì nhau đó lại.

Hoặc - và đây là một chữ hoặc lớn - Tôi đã mất quá nhiều máu ở não, và tôi hoàn toàn sai hoàn toàn vô căn cứ, không có khả năng trí óc cho công việc của một điều tra viên, nhưng may mắn được giao phụ trách một khu ở đảo Staten, thành phố New York.

Điều đó cũng có thể lắm. Cứ nhìn Nash và Foster mà xem, hai gã khá khôn ngoan đó với tất cả các phương tiện trên thế giới này trong tay, vậy mà vẫn hoàn toàn đi lạc, vẫn lần theo những đầu mối sai. Hai người đó có đầu óc tốt, nhưng vẫn bị trói buộc trong trong thế giới quan chật hẹp của mình: mưu đồ quốc tế, chiến tranh sinh học, khủng bố quốc tế, toàn những thứ kiểu đó. Có lẽ còn chưa bao giờ nghe đến tên thuyền trưởng Kidd. Tốt thôi.

Nhưng dù đã có thuyết thống nhất, tôi vẫn còn những vấn đề chưa biết và những điều chưa hiểu. Một điều mà tôi chưa biết là ai đã giết Tom và Judy Gordon. Đôi khi ta tóm được kẻ giết người thậm chí trước khi có đủ mọi dữ kiện hoặc trước khi ta hiểu được ta thực sự có gì - trong những trường hợp như vậy, kẻ giết người sẽ tỏ ra tốt bụng và giải thích cho ta rằng ta đã bỏ qua điều gì, đã hiểu sai điều gì, động cơ của hắn là gì, vv... Khi tôi nhận được một lời thú tội, tôi muốn không chỉ là việc nhận tội - tôi muốn rút ra một bài học từ chiếc đầu phạm tội. Điều này có ích cho những lần sau, mà bao giờ cũng có một lần sau như thế.

Trong vụ này, tôi đã có được điều mà tôi cho là động cơ phạm tội, nhưng chưa tìm được kẻ giết người. Tất cả những gì tôi biết về hắn là hắn rất thông minh. Tôi không nghĩ là vợ chồng Gordon lại sắp đặt mưu đồ với một tên đần độn.

Một trong những điểm trên tấm bản đồ trong đầu tôi về vụ này là những vườn nho của Tobin. Ngay cả lúc này, sau khi quan tâm đến câu chuyện về thuyền trưởng Kidd và tìm được thuyết thống nhất của mình, tôi vẫn không biết phải đặt mối quan hệ giữa Fredric Tobin và vợ chồng Gordon vào đâu cho phù hợp trong toàn bộ bức tranh.

Ồ, có lẽ tôi có thể... tôi hướng xe về phía những vườn nho của Tobin.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.