Chúng tôi đến ngôi nhà của Gordon nằm bên một con đường nhỏ trên bờ phía tây của mũi đất. Ngôi nhà là kiểu mẫu trang trại điển hình của những năm 1960, sau đó được tu sửa lại cho hợp với mốt đương đại của những năm 1990. Vợ chồng nhà Gordon gốc gác từ một nơi nào đó ở miền Trung Tây và tôi cũng không rõ lắm về con đường sự nghiệp của họ. Hai người thuê căn nhà này và có ý định mua nó, như đã có lần họ nói với tôi. Nếu tôi mà làm việc với những người đồng nghiệp như của họ, tôi sẽ chẳng có kế hoạch lâu dài nào hết. Tôi thậm chí còn không mua cả chuối xanh.
Tôi chợt để ý đến quang cảnh bên ngoài xe. Trên con đường dễ chịu đầy bóng râm, một nhóm người hàng xóm và trẻ con trên xe đạp đang đứng xung quanh dưới những bóng cây dài màu tía. Họ nói chuyện và nhìn về phía ngôi nhà của Gordon. Ba chiếc xe cảnh sát của thị trấn Southold đỗ phía trước ngôi nhà cùng với hai chiếc khác không mang phù hiệu. Một chiếc xe tải nhỏ phục vụ cho khám nghiệm hiện trường đỗ giữa đường xe ra vào ngôi nhà. Một điều cần làm là không lái xe hoặc đỗ xe tại khu vực hiện trường để tránh làm mất chứng cứ. Tôi cũng phấn khởi khi thấy lực lượng cảnh sát nhà quê của Max đến lúc này cũng đã vào cuộc.
Trên đường còn có hai chiếc xe của truyền hình, một của hãng tin địa phương tại đảo Long Island, một của hãng NBC News.
Tôi còn thấy một đám phóng viên đang nói chuyện với những người láng giềng, chĩa micrô vào bất cứ ai mở miệng, vẫn chưa đến màn xiếc của báo chí, khi phần còn lại của những tay chuyên nặn tin nảy mò đến Long Island.
Dây băng màu vàng bảo vệ hiện trường được chăng vào cây cối xung quanh, cách ly ngôi nhà và nền. Max đỗ sau chiếc xe khám nghiệm và chúng tôi đi ra. Mấy chiếc máy ảnh nháy sáng, sau đó là một loạt ánh sáng từ những chiếc máy quay lớn. Chúng tôi đang được ghi hình cho bản tin lúc 11 giờ đêm. Tôi mong sao hội đồng giám định thương tật không xem bản tin này, chưa kể mấy tên đã cho tôi ăn đạn dạo trước, chúng sẽ biết tôi đang ở đâu.
Một sỹ quan mặc đồng phục đứng trên đường xe vào nhà với một cặp giấy trên tay, đó là người ghi biên bản hiện trường. Max báo cho anh ta tên, vị trí và thông tin về tôi. Vậy là tôi đã chính thức vào cuộc. Bây giờ là có thể phải chịu trát đòi của ủy viên công tố quận và các luật sư bào chữa. Đây là điều tôi thực sự không muốn chút nào, nhưng tôi đã trở lại khi số phận bắt phải thế.
Chúng tôi đi theo con đường trải sỏi qua một chiếc cổng vòm ra sân sau. Sân lát bằng gỗ tuyết tùng, nhiều bậc và thấp dần ra phía vịnh, nơi có bãi đậu và con tàu của vợ chồng Gordon. Một buổi tối thật đẹp. Giá như Tom và Judy vẫn còn sống để nhìn thấy cảnh đó.
Tôi quan sát đội khám nghiệm hiện trường làm việc, cộng thêm với ba viên cảnh sát của thị trấn Southold mặc đồng phục và một người phụ nữ mặc áo vét và váy đồng bộ, áo cánh màu trắng đi giày loại bền tốt. Đầu tiên tôi tưởng đó là người nhà được mời đến để nhận diện thi thể, nhưng sau thấy cô ta cầm một cuốn sổ và cây bút, trông có vẻ là người của chính quyền.
Tom và Judy nằm cạnh nhau trên nền sàn gỗ tuyết tùng màu xám bạc, lưng quay vào nhau, chân hướng về ngôi nhà, đầu quay ra phía vịnh. Chân tay họ ở tư thế xiên như thể hai người đang nặn thiên thần tuyết. Một viên sỹ quan cảnh sát đang chụp ảnh thi thể. Ánh đèn flash chớp sáng chiếu lên sàn gỗ tạo ra một thứ ma quái trên những xác chết, khiến họ trông ghê sợ trong một phần nghìn giây, giống như trong phim Đêm của người chết đang sống.
Tôi nhìn trân trân vào những thi thể. Tom và Judy Gordon đang ở độ tuổi trên dưới ba mươi lăm, rất đẹp, ngay cả lúc đã chết, đến mức họ đôi khi bị nhầm với những người nổi tiếng khi đi ăn tối tại những nơi sành điệu hơn.
Cả hai đều mặc quần bò màu xanh, đi giày chạy bộ, áo phông có cổ. Chiếc áo của Tom màu đen với biểu trưng thủy quân lục chiến phía trước. Áo của Judy màu xanh sành điệu hơn với hình chiếc thuyền buồn màu vàng in trên ngực trái.
Tôi đoán Max không nhìn thấy nhiều người bị giết trong một năm, nhưng có lẽ đã thấy đủ kiểu người chết: tự nhiên, tự tử, đâm xe để không đến nỗi tái xanh mặt. Trông anh nghiêm nghị, lo lắng, trầm tư và rất chuyên nghiệp, nhưng anh nhìn vào những thi thể kia như thể không tin rằng lại có người bị giết đang nằm đó ngay trên chiếc sàn gỗ đẹp.
Còn tôi, chẳng giấu gì các bạn, làm việc ở một thành phố có khoảng 1.500 vụ giết người mỗi năm, chẳng còn xa lạ gì với cái chết, như người ta vẫn nói. Tôi không thấy cả 1.500 người bị giết, nhưng cũng đủ để không còn ngạc nhiên, ghê tởm, sốc hay buồn. Nhưng khi đó là người mà ta thân quen và yêu mến, mọi chuyện lại khác.
Tôi bước ngang qua sàn gỗ đến gần Tom Gordon. Tom bị một lỗ đạn ở giữa sống mũi. Judy có một lỗ ở thái dương bên trái.
Nếu xác định thủ phạm là một tên duy nhất thì Tom, một người lực lưỡng, có lẽ bị bắn trước, chỉ một phát vào đầu. Sau đó Judy sững sờ quay sang phía chồng và lãnh viên đạn thứ hai vào thái dương. Cả hai viên đạn có lẽ đã xuyên qua xương sọ của họ và rơi ra phía vịnh. Rủi thay cho khoa đạn đạo học.
Tôi chưa bao giờ đến hiện trường một vụ giết người không bốc mùi - kinh khủng đến không thể tin được, nếu nạn nhân đã chết được một thời gian. Nếu ở đó có máu, tôi luôn ngửi thấy được mùi của nó. Còn nếu ổ bụng của thi thể đã bị làm thủng thì luôn có mùi đặc trưng của ruột. Đó là thứ mùi mà tôi không muốn thấy lại. Lần gần nhất tôi ngửi thấy mùi máu là của chính tôi. Dù sao đi nữa, vụ này xảy ra ở ngoài trời cũng đỡ hơn.
Tôi nhìn quanh và không thấy một chỗ nào gần đó mà hung thủ có thể nấp. Chiếc cửa kéo bằng kính của ngôi nhà còn mở và có thể kẻ giết người đã ở bên trong, nhưng cũng cách vị trí của thi thể sáu mét, trong khi không mấy người có thể bắn chính xác vào đầu như vậy từ khoảng cách đó bằng một khẩu súng ngắn. Tôi là bằng chứng sống của điều này. Ở khoảng cách sáu mét, trước hết phải bắn vào người, sau đó tiến đến gần và kết thúc bằng một phát vào đầu. Vì vậy có hai khả năng: kẻ giết người sử dụng súng dài chứ không phải súng ngắn, hoặc đã tiến đến gần hai người mà không làm họ cảnh giác. Một người trông bình thường, không có vẻ gì là đe dọa, thậm chí có thể là người quen của họ. Vợ chồng Gordon đã bước ra khỏi tàu, đi lên sân và nhìn thấy người này ở một điểm nào đó và tiếp tục tiến đến. Người kia giơ súng lên từ khoảng cách không quá mét rưỡi và bắn chết cả hai vợ chồng.
Tôi quan sát xung quanh hai thi thể và thấy những lá cờ nhỏ có màu được gắn nhiều chỗ trên sàn gỗ tuyết tùng. “Màu đỏ là chỉ máu à?”
Max gật đầu. “Màu trắng là xương sọ, màu xám là...”
“Hiểu rồi.” May mà tôi đã đi dép.
Max thông báo cho tôi, “Lỗ đạn ra rất to, gần mất cả phần nửa sau của đầu. Và như anh thấy, lỗ đạn vào cũng to. Tôi đoán là loại nòng 45. Hiện vẫn chưa tìm thấy hai đầu đạn, có lẽ chúng đã bay ra và rơi xuống vịnh.”
Tôi không đáp.
Max đi tới phía chiếc của trượt bằng kính. Anh thông báo, “Cửa trượt bị phá, ngôi nhà bị lục tung. Đồ đạc lớn không bị mất - tivi, máy tính, đầu đĩa, tất cả mọi thứ vẫn còn. Nhưng có thể đồ trang sức và các vật dụng nhỏ bị mất.”
Tôi suy nghĩ về điểm này trong giây lát. Cũng giống như những người trí thức khác làm việc cho cơ quan của chính phủ, vợ chồng Gordon không có nhiều đồ trang sức, tác phẩm nghệ thuật hay bất cứ thứ gì giống như vậy. Một gã nghiện thì sẽ khuân các thứ đồ điện tử đắt tiền hay na ná như thế rồi chuồn.
Max nói, “Tôi đoán thế này - một hoặc nhiều tên trộm đang lục lọi trong nhà, chúng nhìn thấy vợ chồng Gordon đang tiến đến gần qua cửa kính, chúng bước ra sân và nổ súng rồi tẩu thoát.” Anh nhìn tôi hỏi, “Đúng không?”
“Nếu anh nói như vậy.”
“Đúng thế.”
“Tôi hiểu.” Như thế nghe tốt đẹp hơn là căn nhà của các nhà khoa học nghiên cứu chiến tranh vi trùng tuyệt mật bị lục soát và các nhà khoa học bị sát hại.
Max tiến gần đến tôi và nói nhỏ, “Cậu nghĩ gì, John?”
“Một trăm đô la mỗi giờ đấy à?”
“Thôi nào, anh bạn. Đừng chọc tôi nữa. Có thể đây là vụ án mạng đôi tầm cỡ thế giới đấy.”
Tôi đáp, “Nhưng chẳng phải anh nói đây có thể đơn giản như chuyện chủ nhà đến hiện trường và chết sao.”
“Đúng nhưng hóa ra chủ nhà lại là... là cái gì cũng được.” Anh nhìn tôi rồi nói, “Dựng lại nhé.”
“Được. Anh hiểu rằng hung thủ không bắn từ chỗ cửa kính. Hắn đứng ngay trước mặt họ. Cái cửa mà anh thấy đang mở khi đó được đóng lại để vợ chồng Gordon không phát hiện ra điều gì bất thường lúc tiến gần đến ngôi nhà. Hung thủ có thể đang ngồi đây trên một trong những chiếc ghế này. Có thể gã đi đến bằng thuyền vì không muốn đỗ xe ở trước nhà để cho cả thiên hạ nhìn thấy. Hoặc cũng có thể đồng bọn đưa hắn đến đây. Trong cả hai trường hợp, vợ chồng Gordon hoặc đã biết gã hoặc không thấy phiền quá mức với sự xuất hiện của người này ở sân sau nhà mình. Và có thể đây là phụ nữ, một người xinh đẹp và hấp dẫn, vợ chồng Gordon tiến đến gần ả và ả tiến về phía họ. Hai bên có thể trao đổi một vài lời và ngay lập tức sau đó, hung thủ rút súng bắn chết họ.”
Cảnh sát trưởng Maxwell gật đầu.
“Nếu hung thủ đang tìm kiếm gì đó ở bên trong, có thể là đồ trang sức, tiền mặt hoặc giấy tờ tài liệu. Anh biết rồi, những thứ liên quan đến vi trùng. Gã giết vợ chồng Gordon không phải vì bất ngờ đụng với họ mà vì muốn họ chết. Gã đã chờ họ về. Anh biết tất cả những điều này mà.”
Anh gật đầu.
Tôi nói tiếp, “Một lần nữa, Max, tôi đã thấy nhiều vụ trộm vụng về và không thành công, trong đó chủ nhà bị giết, còn tên trộm thì chẳng lấy được gì. Nếu là trường hợp của một tên nghiện ma túy thì mọi việc chẳng có nghĩa gì cả.”
Cảnh sát trưởng Maxwell xoa cằm suy nghĩ về cái khác nhau giữa một gã nghiện với khẩu súng trong tay và một kẻ ám sát lạnh lùng, hay một hạng nào đó giữa hai thứ ấy.
Trong khi anh đang suy nghĩ, tôi quỳ bên cạnh hai thi thể, sát chỗ Judy. Đôi mắt cô mở rất to, trông còn nét thảng thốt. Mắt của Tom cũng mở, nhưng trông anh bình thản hơn người vợ. Đám ruồi đã đánh hơi thấy mùi máu xung quanh các vết thương. Tôi định xua chúng đi, nhưng điều đó không quan trọng.
Tôi xem xét hai thi thể kỹ càng nhưng không để chạm vào bất cứ thứ gì mà đội khám nghiệm hiện trường sẽ làm việc. Tôi quan sát tóc, móng tay, da, quần áo, giày và mọi thứ. Tôi vỗ nhẹ vào má Judy và đứng dậy.
Maxwell hỏi tôi, “Cậu quen biết họ bao lâu rồi?”
“Từ khoảng tháng Sáu.”
“Trước đây cậu đã đến ngôi nhà này lần nào chưa?”
“Rồi. Anh phải hỏi tôi thêm một câu.”
“Ồ... Tôi phải hỏi... Cậu ở đâu lúc 5 giờ 30 chiều?”
“Cùng bạn gái anh.”
Anh mỉm cười, nhưng không có ý vui vẻ.
Tôi hỏi Max, “Anh biết rõ về họ không?”
Ngập ngừng một lát, anh trả lời, “Chỉ xã giao thôi. Cô bạn gái kéo tôi đến các cuộc thi nếm rượu vang và những sự kiện đại loại như thế.”
“Cô ấy ư? Và tại sao anh lại biết tôi quen họ?”
“Họ có nói là đã gặp một cảnh sát New York đang dưỡng thương. Tôi nói là tôi biết cậu.”
“Thế giới nhỏ bé thật,” tôi nói.
Anh không đáp.
Tôi nhìn quanh sân. Phía đông của sân là ngôi nhà. Phía nam là một dãy hàng rào cao dày, bên kia hàng rào là nhà của Edgar Murphy, người láng giềng đã phát hiện ra các thi thể. Phía bắc là một khu đầm mở chạy dài vài trăm thước đến ngôi nhà tiếp theo vừa đủ tầm mắt nhìn. Phía tây, sân chia thành ba bậc thấp dần ra phía vịnh nơi bãi đỗ tàu chạy ra khoảng ba chục mét tới vùng nước sâu hơn. Ở cuối bãi đỗ là con tàu của nhà Gordon. Đó là loại tàu cao tốc làm bằng sợi thủy tinh, màu trắng bóng lộn, kiểu Formula 3 gì đó, dài độ chín mét. Con tàu được đặt tên là Spirochete, như chúng ta biết từ Phòng Thí nghiệm Sinh học 101 là tên loại vi trùng khủng khiếp gây ra bệnh giang mai. Vợ chồng Gordon thật có khiếu hài hước.
Max nói, “Edgar Murphy cho biết rằng vợ chồng Gordon thỉnh thoảng dùng tàu riêng để đi lại tới Đảo Plum. Họ đi bằng phà của chính phủ khi thời tiết xấu hoặc vào mùa đông.”
Tôi gật đầu. Tôi biết điều này.
Anh nói tiếp, “Tôi sẽ gọi cho Đảo Plum xem người ta có biết thời gian họ rời đảo hay không. Biển lặng, thủy triều đang lên, gió thổi từ phía đông, nên họ có thể mất thời gian nhiều nhất để đi từ đảo về đây.”
“Tôi không phải là thủy thủ.”
“Tôi thì biết nghề này. Có thể họ chỉ mất một giờ để đi từ Đảo Plum về đây, nhưng thường là một giờ rưỡi, tối đa là hai giờ. Ông bà Murphy nghe tiếng tàu của Gordon về khoảng lúc 5 giờ 30. Ta phải xem có thể biết được thời gian họ rời Đảo Plum hay không, sau đó sẽ có thể chắc chắn hơn một chút tiếng tàu mà ông bà Murphy nghe thấy lúc 5 giờ 30 có phải là của nhà Gordon hay không.”
“Đúng.” Tôi nhìn quanh sân. Một hiên nhà và những đồ đạc bình thường - bàn, ghế, quầy bar ngoài trời, ô che nắng, và những thứ khác. Những bụi cây và cây nhỏ mọc qua các khe gỗ trên sàn, nhưng cơ bản là không có chỗ nào để một người có thể nấp và phục kích hai người đang ở ngoài sân.
“Cậu đang nghĩ gì thế ?” Max hỏi.
“Tôi đang nghĩ đến chiếc sàn gỗ tuyệt vời kiểu Mỹ. Gỗ to, không cần tu sửa, nhiều bậc, có trang trí. Không giống như cái hiên hẹp lỗi mốt của tôi lúc nào cũng cần tô vẽ. Nếu tôi mua căn nhà của ông chú, tôi có thể làm một chiếc sân gỗ thấp dần ra phía vịnh giống như cái này. Nhưng sau đó tôi sẽ không còn nhiều vạt cỏ nữa.”
Max để một vài giây trôi qua rồi hỏi, “Đó là điều cậu nghĩ sao?”
“Đúng. Còn anh đang nghĩ gì?”
“Tôi đang nghĩ về một vụ giết hai mạng người.”
“Tốt. Vậy cho tôi biết những điều khác anh phát hiện được ở đây đi.”
“Được.” Anh chỉ ngón tay cái về phía con tàu “Khi vừa đến tôi sờ vào động cơ và thấy vẫn còn nóng, cũng như hai thi thể.”
Tôi gật đầu. Mặt trời bắt đầu lặn xuống vịnh, trời tối dần và trở nên mát hơn. Tôi bắt đầu thấy lạnh với chiếc áo phông và quần soóc, lại không mặc quần lót.
Tháng Chín thực sự là thời gian vàng ở vùng bờ biển Đại Tây Dương, từ Outer Banks tới Newfoundland. Ban ngày trời dịu, ban đêm dễ ngủ. Đó là mùa hè mà không nóng, không ẩm, mùa thu không có những cơn mưa lạnh. Những đàn chim mùa hè vẫn chưa rời đi, những con chim di cư đầu tiên từ phương bắc đang nghỉ lại trên đường xuống phương nam. Nếu tôi rời Manhattan và sống ở đây, tôi sẽ hòa vào thiên nhiên này, sẽ đi thuyền, câu cá và làm mọi thứ như thế.
Max nói tiếp, “Và một điều nữa - sợi dây được quấn quanh cái cọc.”
“Ồ, có một điểm đột phá trong vụ này rồi. Sợi dây nào?”
“Là sợi dây buộc tàu. Dây không buộc chặt vào mấu cọc trên bãi mà chỉ quấn tạm vào những chiếc cột lớn nhô khỏi mặt nước. Tôi đoán là họ định đi tiếp ra ngoài bằng tàu ngay sau đó.”
“Nhận xét tốt đấy.”
“Cậu có ý tưởng nào không?”
“Không.”
“Bất cứ nhận định nào của riêng cậu?”
“Tôi nghĩ anh đã có trước tôi rồi, thưa Cảnh sát trưởng.”
“Giả thuyết, ý nghĩ, linh cảm. Có thứ gì không?”
“Không.”
Maxwell dường như muốn nói điều gì khác, kiểu như “Cậu bị sa thải”, nhưng thay vào đó lại bảo “Tôi phải đi gọi điện.” Anh đi khuất vào trong ngôi nhà.
Tôi nhìn lại những thi thể. Người phụ nữ với bộ đồ nâu nhạt đang dùng phấn vẽ xuống sàn xung quanh Judy. Ở thành phố New York, người làm việc này là phải là nhân viên điều tra, và tôi đoán ở đây cũng thế. Mục đích là để cho người điều tra viên theo đuôi vụ án tới khi kết thúc và làm việc với ủy viên công tố quận phải biết và làm việc trong toàn bộ vụ án ở phạm vi có thể. Vì thế, tôi kết luận, người phụ nữ trong bộ đồ nâu nhạt là một điều tra viên và được phân công điều tra vụ án này. Tôi kết luận thêm rằng tôi sẽ đi đến chỗ phải đối phó với cô nàng nếu quyết định giúp Max trong vụ này.
Hiện trường của một vụ giết người là một trong những nơi thú vị nhất trên thế giới nếu bạn biết mình đang tìm kiếm gì và đang quan sát cái gì. Hãy xem những người như Tom và Judy, họ quan sát những con vi trùng dưới kính hiển vi và có thể nói tên của lũ vi trùng, hiện chúng đang làm gì, chúng có khả năng tác động như thế nào đối với người đang quan sát chúng, vv... Nhưng nếu tôi mà nhìn vào đám vi trùng thì cái mà tôi thấy chỉ là những đường vạch ngoằn ngoèo nhỏ. Tôi không có cái đầu hay đôi mắt được đào tạo để nghiên cứu vi trùng.
Tuy nhiên, khi nhìn vào xác chết và hiện trường xung quanh cái xác đó, tôi thấy được những điều mà đa số mọi người không nhìn thấy. Max chạm vào động cơ của con tàu và những thi thể rồi nhận ra rằng cả hai còn ấm. Anh thấy con tàu được buộc như thế nào và cả chục chi tiết nhỏ khác mà một người bình thường không nhận ra được. Nhưng Max chưa phải một điều tra viên thực thụ, anh vẫn thuộc loại hạng hai, trong khi giải quyết một vụ án mạng như thế này cần phải có tầm cao hơn nhiều. Anh biết vậy, và đó là lí do tại sao anh gọi tôi.
Ngẫu nhiên tôi lại có quen biết với nạn nhân. Đối với một điều tra viên thì đây là một lợi thế lớn. Ví dụ, tôi biết rằng vợ chồng Gordon thường mặc quần soóc, áo phông cộc tay, đi giầy da mềm ở trên tàu tới Đảo Plum. Khi làm việc, họ mặc quần áo của phòng thí nghiệm hoặc bộ đồ chống nguy hiểm sinh học hay thứ gì đó. Còn nữa, Tom trông không giống Tom trong chiếc áo phông màu đen, còn Judy như tôi nhớ là người ưa màu lạt hơn. Tôi đoán rằng họ ăn mặc như vậy là để ngụy trang, còn giầy thể thao là để chạy cho nhanh. Nhưng cũng phải nói lại, có thể chính tôi đang dựng ra manh mối. Phải rất cẩn thận mới tránh được việc này.
Nhưng trên dây giầy của họ còn có vết đất đỏ. Vậy là từ đâu ra? Không phải là từ phòng thí nghiệm, có lẽ cũng không phải là ở đường đi bộ ra bãi đỗ tàu phà của Đảo Plum, không phải trên tàu của họ, cũng không phải ở bãi đỗ và sàn sân nhà này. Có vẻ như họ đã ở đâu đó ngày hôm nay, cách họ ăn mặc cũng khác, và đương nhiên, ngày hôm nay cũng kết thúc theo cách khác. Còn có điều gì khác đang diễn ra ở đây. Tôi không biết là cái gì, nhưng rõ ràng là có một điều khác.
Tuy nhiên, vẫn còn khả năng họ tình cờ đụng phải một vụ trộm, nghĩa là vụ này không liên quan gì đến công việc của họ. Vấn đề là Max lo ngại về điều đó và nhạy cảm với nó, và nó đã lây sang tôi, xin lỗi các bạn về cách chơi chữ này. Và trước nửa đêm, Cục Điều tra Liên bang FBI, Tình báo Quân đội và cả CIA sẽ viếng thăm nơi này. Trừ khi Max tóm được một tên trộm nghiện ngập trước lúc đó.
“Xin lỗi.”
Tôi quay về phía phát ra giọng nói. Đó là người phụ nữ mặc đồ nâu nhạt. Tôi nói, “Không có gì.”
“Xin lỗi, anh có nhiệm vụ ở đây à?”
“Tôi ở đây với đội.”
“Anh là sỹ quan cảnh sát?”
Rõ ràng chiếc áo phông và quần soóc của tôi không hợp với hình ảnh của một nhân viên thực thi pháp luật. Tôi đáp, “Tôi đi cùng Cảnh sát trưởng Maxwell.”
“Tôi thấy rồi. Anh đã ghi tên vào hiện trường chưa?”
“Sao cô không đi kiểm tra?” Tôi quay người và bước xuống tầng sân gỗ phía dưới, tránh đụng vào những lá cờ nhỏ in màu. Tôi hướng ra phía bãi đỗ tàu. Cô nàng đi theo tôi.
“Tôi là điều tra viên Penrose từ đội điều tra án mạng quận Suffolk. Tôi phụ trách điều tra vụ này.”
“Xin chúc mừng.”
“Và trừ khi anh có trách nhiệm ở đây...”
“Cô phải nói với cảnh sát trưởng.” Tôi bước xuống bãi đỗ tàu ra tới chỗ buộc con tàu của vợ chồng Gordon. Gió thổi lộng và mặt trời đã khuất hẳn. Lúc này tôi không còn thấy chiếc thuyền nào ngoài vịnh, trừ một vài con tàu gắn động cơ chạy qua với đèn pha bật sáng. Một vầng trăng khuyết đã mọc lên từ phía đông nam, tỏa ánh sáng lung linh trên mặt nước.
Thủy triều đã lên cao và con tàu dài mười mét ở gần ngang với cầu tàu. Tôi nhảy lên boong.
“Anh làm cái gì đấy? Anh không được làm thế.”
Nàng rất đẹp, tất nhiên rồi, nếu xấu thì tôi đã tử tế hơn nhiều. Cách ăn mặc của nàng, như tôi thấy, khá đơn giản, nhưng cơ thể dưới lớp quần áo nghiêm chỉnh kia là một bản giao hưởng của những đường cong, một giai điệu của da thịt đang cố thoát tác. Quả thực, trông nàng như một kẻ buôn lậu giấu trong mình những trái bóng căng phồng. Điều thứ hai tôi nhận ra là trên tay nàng không có nhẫn cưới. Điền vào phần còn lại trong mẫu: tuổi hơn ba mươi một chút; tóc dài trung bình, màu nâu đồng; mắt xanh pha giữa màu da trời và màu lá cây; da trắng, không nhiều ánh nắng cho mùa này trong năm; trang điểm nhẹ; môi khêu gợi; không tì vết hoặc sẹo nhìn thấy được; không khuyên tai; không đánh móng tay; nét tức giận thể hiện trên mặt.
“Anh có nghe tôi nói không?”
Nàng còn có giọng nói ngọt ngào ngay cả với âm điệu như lúc này. Tôi đoán có lẽ vì gương mặt xinh đẹp, cơ thể tuyệt vời và giọng nói mềm mại nên điều tra viên Penrose khó mà làm người khác suy nghĩ nghiêm túc, và vì thế mà nàng cố bù lấp bằng thứ quần áo trông như của đàn ông. Có lẽ nàng còn có một cuốn sách tựa đề là Ăn mặc để làm nổ bóng.
“Anh có nghe tôi nói không?”
“Tôi đang nghe. Cô có nghe tôi nói không? Tôi bảo cô đi nói chuyện với ông cảnh sát trưởng.”
“Tôi phụ trách ở đây. Trong các vụ giết người, cảnh sát quận...”
“Thôi được, chúng ta sẽ cùng đi gặp cảnh sát trưởng. Chỉ một phút thôi.”
Tôi quan sát nhanh xung quanh con tàu, nhưng trời đã tối nên tôi không thấy gì nhiều. Tôi cố tìm một chiếc đèn pin. Tôi nói với Penrose, “Cô nên cử một nhân viên ở đây suốt đêm.”
“Cám ơn vì đã chia sẻ ý nghĩ của anh. Xin hãy ra khỏi chiếc tàu.”
“Cô có mang theo đèn pin không?”
“Ra khỏi tàu! Ngay lập tức.”
“Được.” Tôi bước lên thành tàu. Điều ngạc nhiên với tôi là nàng lại đưa tay cho tôi nắm. Da nàng mát rượi. Nàng kéo tôi lên cầu tàu và cùng một lúc, nhanh như một con mèo, tay phải nàng thò vào dưới áo tôi chộp ngay khẩu súng bên hông. Ái chà.
Nàng lùi lại, tay cầm khẩu súng của tôi. “Đứng nguyên tại chỗ.”
“Vâng, thưa cô.”
“Anh là ai?”
“Điều tra viên John Corey, Sở Cảnh sát New York, chuyên điều tra án mạng, thưa quí cô.”
“Anh làm gì ở đây.”
“Giống như cô thôi.”
“Không. Vụ này tôi làm. Không phải anh.”
“Có đấy, thưa cô.”
“Anh có tư cách chính thức gì ở đây không?”
“Có, thưa cô. Tôi được thuê làm cố vấn.”
“Cố vấn? Trong một vụ án mạng? Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái này.”
“Tôi cũng vậy.”
“Ai thuê anh.”
“Thị trấn này.”
“Vớ vẩn.”
“Đúng.” Nàng dường như không biết phải làm gì tiếp theo, nên để tỏ sự sẵn lòng giúp đỡ, tôi nói, “Cô có muốn khám người tôi không?”
Tôi nghĩ là mình nhìn thấy dưới ánh trăng một nụ cười thoáng qua trên đôi môi nàng. Trái tim tôi đang oằn lên vì nàng, hay có thể là cái lỗ thủng trong phổi tôi đang kiếm chuyện.
Nàng hỏi tôi, “Vừa nãy anh nói tên anh là gì?”
“John Corey.”
Nàng tìm kiếm trong trí nhớ mình. “Ồ... anh là anh chàng...”
“Chính là tôi. May cho tôi.”
Nàng dường như dịu lại, quay khẩu súng một vòng rồi đưa cho tôi, báng súng chìa ra trước. Nàng quay người bước đi.
Tôi đi theo nàng dọc theo cầu tàu qua ba bậc sân lên nhà. Những ánh đèn bên ngoài chiếu sáng cả khu vực xung quanh các cửa kính. Những con bướm đêm vây quanh các bóng đèn.
Max đang nói chuyện với một người trong đội kỹ thuật hình sự. Anh quay sang tôi và Penrose rồi hỏi, “Hai bạn đã gặp nhau chưa?”
Penrose bật lại, “Sao lại có anh ta tham gia vụ này?”
Max đáp, “Vì tôi muốn cậu ấy tham gia.”
“Đó không phải là quyết định của anh, thưa cảnh sát trưởng.”
“Và cũng không phải của cô.”
Hai người cứ lời qua tiếng lại, còn tôi thì phát ngán. Tôi nói, “Cô ấy đúng, thưa cảnh sát trưởng. Tôi ra khỏi chỗ này. Cho tôi đi nhờ xe về nhà.” Tôi quay người bước ra phía chiếc cổng vòm, rồi với một chút đóng kịch có chuẩn bị trước, tôi quay đầu lại phía Maxwell và Penrose nói, “Tiện thể, xin hỏi có ai lấy chiếc thùng nhôm ở đằng sau con tàu không.”
Max hỏi, “Thùng nhôm nào?”
“Vợ chồng Gordon có một chiếc thùng nhôm lớn họ dùng để chứa những thứ lặt vặt, có khi dùng làm thùng đá để bia và mồi câu.”
“Nó ở đâu?”
“Đấy là điều tôi muốn hỏi anh.”
“Tôi sẽ tìm.”
“Ý tưởng hay đấy.” Tôi quay người bước qua cổng ra bãi cỏ phía trước, xa hẳn những chiếc xe cảnh sát. Những người láng giềng đã tụ tập bởi sự hiếu kỳ một cách bệnh hoạn khi tin tức về vụ giết hai mạng người lan đi trong cộng đồng nhỏ bé này.
Một vài chiếc máy quay hướng về phía tôi, sau đó ánh đèn chiếu bật lên, soi sáng cả tôi và phần trước của ngôi nhà. Máy quay bắt đầu chạy, các phóng viên hướng về phía tôi. Giống y như dạo trước. Tôi đưa tay lên miệng giả vờ ho, nhỡ đâu có người trong hội đồng giám định thương tật đang ngồi xem truyền hình, chưa kể đến cô vợ cũ của tôi.
Một viên cảnh sát mặc đồng phục từ sân sau tiến ra phía tôi. Chúng tôi lên một chiếc xe mang hiệu của cảnh sát thị trấn Southold và đi ra. Anh chàng cảnh sát tên là Bob Johnson. Anh ta hỏi tôi, “Anh nghĩ thế nào, điều tra viên?”
“Họ bị giết.”
“Ồ, không đùa đâu.” Anh chàng ngập ngừng rồi hỏi, “Này, anh có nghĩ chuyện này có liên quan đến Đảo Plum không?”
“Không.”
“Nói anh biết nhé - Tôi đã chứng kiến nhiều vụ trộm, còn đây không phải trộm. Mọi thứ trông có vẻ giống như một vụ trộm, nhưng đó là lục lọi - anh hiểu không? Bọn chúng tìm kiếm thứ gì đó.”
“Tôi không nhìn vào bên trong.”
“Vi trùng.” Anh ta liếc sang tôi. “Vi trùng. Vi trùng trong chiến tranh vi trùng. Tôi nghĩ vậy. Có đúng không?”
Tôi không đáp.
Johnson nói tiếp, “Đó là điều xảy ra với chiếc thùng đá. Tôi nghe thấy anh nói thế.”
Tôi vẫn không đáp.
“Có nhiều lọ thủy tinh nhỏ hay thứ gì đó ở trong chiếc thùng. Đúng không? Ý tôi là, lạy Chúa, có thể có đủ thứ đó để quét sạch cả đảo Long Island... cả thành phố New York.”
Có lẽ là cả hành tinh này, Bob, tùy thuộc đó là loại vi trùng nào và khả năng phát triển của chúng từ số lượng ban đầu.
Tôi nghiêng người về phía sỹ quan Johnson, nắm lấy cánh tay để khiến anh ta chú ý hơn. Tôi nói, “Đừng có hé một tiếng thối tha nào về chuyện này. Anh hiểu không?”
Anh ta gật đầu.
Chúng tôi lái xe trong im lặng trở về nơi ở của tôi.