Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 32

❊ ❊ ❊

Lái xe từ xưởng rượu Tobin tới Founders Landing thường chỉ mất hai mươi phút, nhưng hôm nay phải mất tới một tiếng do bão. Đường đi đầy những cành cây rơi và mưa nặng hạt trên kính chắn gió đến mức tôi phải đi như bò và bật cả đèn pha lên, dù lúc đó mới là năm giờ chiều. Thỉnh thoảng, một cơn gió mạnh lại đẩy chiếc xe Jeep dạt đi trên đường.

Beth bật đài, nhân viên dự báo thời tiết cho biết cơn bão chưa đủ mạnh để trở thành bão nhiệt đới, nhưng đã gần đạt tới mức đó. Bão Jasper vẫn đang di chuyển theo hướng bắc với tốc độ mười lăm dặm một giờ, mép bão còn cách bờ biển Long Island sáu mươi dặm. Cơn bão đang mang theo rất nhiều hơi nước và năng lượng từ Đại Tây Dương. Tôi nhận xét, “Mấy tay này chỉ muốn dọa người khác.”

Bố em bảo cơn bão tháng Chín năm 1938 đã phá hủy hoàn toàn những khu vực rộng lớn trên đảo Long Island.”

“Bố anh cũng nói với anh về cơn bão đó. Người già có vẻ hay phóng đại.”

Nàng chuyển chủ đề và nói, “Nếu Tobin ở nhà, em sẽ giải quyết mọi chuyện.”

“Tốt thôi.”

“Em nói thật đấỵ. Anh phải làm theo em, John. Chúng ta sẽ không được làm điều gì khiến ta đuối lý trong vụ này.”

“Chúng ta đã làm rồi. Đừng quá lo chuyện cố làm cho thật hoàn hảo một vụ án.”

Nàng không đáp. Tôi gọi về máy trả lời tự động ở nhà, nhưng chỉ thấy máy đổ chuông liên tục. Tôi nói, “Ở nhà anh mất điện rồi.”

“Có lẽ giờ này chỗ nào cũng mất.”

“Thật kinh khủng. Anh nghĩ là anh thích các cơn bão.”

“Bão nhiệt đới.”

“Đúng rồi. Cả nó nữa.”

Tôi chợt nghĩ rằng tôi sẽ không về Manhattan tối nay, và vì thế tôi sẽ không có cuộc gặp bắt buộc kia, và như vậy là càng gặp nhiều rắc rối cho công việc. Tôi nhận ra là mình không còn quan tâm nữa.

Tôi lại nghĩ đến Emma. Nếu nàng còn sống, cuộc đời tôi sẽ hạnh phúc hơn. Trong tất cả những mường tượng của tôi về cuộc sống nơi thành thị và nông thôn, tôi thực sự đã nghĩ đến mình sống ở đây cùng Emma Whitestone, câu cá, đi bơi, sưu tập chậu sứ, hay bất cứ điều gì mà người ta làm ở đây. Tôi cũng chợt nghĩ, vậy là tất cả những mối liên hệ của tôi với North Fork giờ đã hết - mợ June đã mất, cậu Harry sắp bán nhà, quan hệ của Max và tôi không bao giờ như trước nữa, vợ chồng Gordon đã chết, và giờ Emma cũng đã ra đi. Ngoài ra, mọi việc cũng có vẻ không suôn sẻ gì ở Manhattan. Tôi liếc sang Beth Penrose.

Nàng cảm thấy ánh mắt tôi và quay sang nhìn tôi. Ánh mắt hai người gặp nhau. Nàng nói, “Bầu trời rất đẹp sau khi cơn bão đi qua.”

Tôi gật đầu, “Cám ơn em.”

Khu vực xung quanh Founders Landing có rất nhiều cây cổ thụ, và không may, có nhiều cây lớn đã đổ ngang trên đường hoặc trên bãi cỏ. Phải mất thêm mười lăm phút nữa lòng vòng mới tới được nhà của Tobin.

Những cánh cửa sắt đều đóng. Beth nói, “Để em xuống xem có khóa không.” Nhưng vì cần thời gian hơn, tôi lái xe lao thẳng vào cửa.

Beth nói, “Sao anh không xem anh có thể hạ bớt máu nóng xuống hay không?”

“Anh đang cố đây.”

Khi chạy xe dọc theo đường vào nhà, tôi thấy bãi cỏ nơi tổ chức bữa tiệc hôm trước giờ phủ đây những cành cây gãy, thùng rác, đồ cắt cỏ và các loại mảnh vỡ.

Con vịnh ở đầu kia bãi cỏ như đang cuồng nộ, những đợt sóng lớn ào qua bờ đá xô lên cả trên bãi cỏ. Chiếc cầu tàu của Tobin vẫn chắc chắn, nhưng nhà để tàu đã mất nhiều mảnh ván gỗ. Tôi nói, “Vui thật.”

“Cái gì cơ?”

“Chiếc Chris-Craft biến mất rồi.”

Beth nói, “Ồ, hẳn là nó đang ở bãi đỗ nào đó trên cạn. Ai lại đi ra biển trong một đêm như thế này.”

“Đúng vậy.”

Tôi không nhìn thấy chiếc xe nào để trên đường xe vào nhà, còn căn nhà thì tối om. Tôi lái về phía chiếc gara đôi nằm tách biệt bên cạnh phía sau ngôi nhà. Tôi vòng sang phải và tông thẳng chiếc xe vào cửa gara khiến chiếc cửa đổ sập xuống thành nhiều mảnh. Tôi nhìn qua cửa kính và thấy chiếc Porsche trắng ở trước mặt với một miếng cửa vỡ trên đầu, một chiếc Ford Bronco ở bên kia của gara. Tôi bảo Beth, “Hai chiếc xe ở đây - có thể thằng khốn đang ở nhà.”

“Để em giải quyết với hắn.”

“Đương nhiên rồi.” Tôi cho xe chạy vòng và hướng về phía sau ngôi nhà, qua bãi cỏ và đỗ lại nơi có những thứ đồ đạc bị gió hất tứ tung.

Tôi cầm theo chiếc rìu ra khỏi xe, còn Beth nhấn chuông cửa. Chúng tôi đứng đợi dưới mái che ngoài cửa, không thấy ai ra, tôi dùng cây rìu để mở cửa. Beth nói, “John, vì Chúa, bình tĩnh đi.”

Chúng tôi vào trong bếp. Mất điện, bên trong tối và im ắng. Tôi bảo Beth, “Em chặn ở cửa này.”

Tôi vào trong sảnh chính ở giữa nhà và gọi lên cầu thang, “Ông Tobin!” Không ai trả lời. “Có nhà không, Fredric? Này, ông bạn!” Tao sắp chặt phăng cái đầu của mày ra đấy.

Chợt có tiếng cót két trên sàn nhà trên đầu, tôi bỏ chiếc rìu xuống và rút súng ra, chạy bốn bước một lên cầu thang. Quanh qua trụ cuốn, tôi nhằm chỗ vừa phát ra tiếng cót két xồng tới. Tôi quát lên, “Giơ tay lên! Cảnh sát đây! Cảnh sát đây!”

Tôi nghe thấy tiếng động phát ra từ một trong các phòng ngủ. Tôi liền lao ngay tới vừa kịp nhìn thấy cánh cửa tủ đóng lại. Tôi kéo mạnh ra, và một người phụ nữ kêu thét lên. Chị ta khoảng năm mươi tuổi, có lẽ là người trông nhà. Tôi nói, “Ông Tobin đâu?”

Chị ta lấy tay ôm mặt.

“Ông Tobin đâu?”

Beth cũng đã có mặt trong phòng. Nàng đi nhẹ nhàng qua tôi và cầm cánh tay người phụ nữ kia. Nàng nói, “Mọi việc ổn rồi. Chúng tôi là cảnh sát.” Nàng đưa chị ta ra khỏi tủ và bảo ngồi lên trên giường.

Sau khoảng một phút trò chuyện nhẹ nhàng, chúng tôi biết tên chị ta là Eva, nói tiếng Anh không tốt lắm, và biết thêm rằng Tobin không có ở nhà.

Beth bảo chị ta, “Xe của ông ấy còn ở trong gara mà.”

“Ông ấy về nhà rồi lại đi.”

“Đi đâu?” Beth hỏi.

“Ông ấy lấy chiếc tàu để đi.”

“Chiếc tàu?”

“Vâng.”

“Khi nào? Bao lâu rồi?”

“Không lâu lắm.”

Tôi bảo Eva, “Chị ra đằng này cạnh cửa sổ.”

Chị ta đứng lên như cái máy và đi tới bên cửa sổ.

“Chiếc tàu - chiếc tàu đi đường nào? Đường nào?” Tôi ra hiệu bằng tay.

Chị ta chỉ sang bên trái. “Đi đường kia.”

Tôi nhìn ra vịnh. Chiếc Chris-Craft đã đi về hướng đông của nhà để tàu, nhưng tôi không thấy gì trên mặt nước ngoài những con sóng.

Beth hỏi tôi, “Sao hắn lại đi tàu ra biển?”

Tôi đáp, “Có thể là để quẳng bỏ vũ khí đã dùng giết người.”

“Em nghĩ nếu cần hắn có thể làm thế vào một ngày thời tiết đẹp hơn thế này. Nàng quay sang Eva và hỏi, “ông ấy đi lúc nào? Mười phút? Hai mươi phút?”

“Có lẽ mười. Có lẽ hơn.”

“Ông ấy đi đâu?”

Chị ta nhún vai. “Ông ấy bảo đêm nay sẽ về. Bảo tôi chờ ở đây. Không phải sợ. Nhưng tôi sợ lắm.”

“Nó chỉ là một cơn bão thôi.” Tôi bảo chị ta.

Beth cầm tay Eva dắt ra khỏi phòng ngủ rồi đi xuống cầu thang tới phòng bếp. Tôi đi phía sau. Beth bảo chị ta, “Chị phải ở dưới tầng trệt. Không được đến gần các cửa sổ. Được không?”

Eva gật đầu.

Beth nói, “Tìm nến, diêm, đèn pin. Nếu chị sợ thì xuống dưới tầng hầm nhé. Được không?”

Eva lại gật đầu và tới chỗ một chiếc tủ để đồ lấy mấy cây nến.

Beth suy nghĩ một lát rồi hỏi tôi, “Thời tiết thế này thì hắn đi đâu?”

Tôi nối, “Lẽ ra hắn nên ở xưởng rượu để tìm mọi cách bảo vệ gia sản của mình. Nhưng hắn không tới xưởng rượu bằng tàu.” Tôi nói với Eva, “Chị có nhìn thấy ông ấy đi ra tàu không? Chị hiểu chứ?”

“Có. Tôi thấy ông ấy đi ra tàu.”

“Ông ấy có cầm theo cái gì không? Tôi vừa nói vừa ra hiệu. “Trong tay ấy?”

“Có.”

“Cái gì?”

Chị ta không nói gì.

Beth hỏi, “Ông ấy mang cái gì đi theo?”

“Súng?”

“Vâng. Súng to. Súng dài.”

“Súng trường?” Beth ra hiệu hình một cây súng trường.

“Vâng, súng trường.” Chị ta giơ hai ngón tay lên và bảo, “Hai.”

Beth và tôi nhìn nhau.

Eva nói, “Và để đào.” Lần này đến lượt chị ta diễn kịch câm và làm động tác đào bới. “Để đào.”

“Cái xẻng?”

“Vâng. Xẻng. Trong gara.”

Tôi thoáng suy nghĩ và nói với Eva, “Và hộp? Mang theo? Túi? Hộp?”

Chị ta nhún vai.

Beth hỏi tôi, “Anh nghĩ sao?”

Tôi nói, “Anh không nghĩ là Fredric Tobin lại đi câu cá với hai khẩu súng trường và một cái xẻng.” Tôi hỏi Eva, “Chìa khóa. Chìa khóa ở đâu?”

Chị ta dẫn chúng tôi đến bên chiếc máy điện thoại để trên tường, bên cạnh là chiếc bảng để treo chìa khóa. Đúng là một kẻ gọn gàng đến mức thái quá, Tobin kẻ ô gắn tên cho từng chiếc chìa khóa. Tôi thấy chìa khóa của chiếc Chris-Craft đã biến mất, nhưng chìa của chiếc Formula thì vẫn còn đấy.

Trong lúc tôi còn đang tính toán phải làm gì tiếp theo, Eva bảo, “Xuống cầu thang. Xuống hầm rượu.”

Cả hai chúng tôi nhìn Eva. Chị ta chỉ vào một cánh cửa ở đầu kia của phòng bếp và bảo, “Ông ấy đi xuống tầng dưới. Làm gì đó ở tầng dưới.”

Beth và tôi nhìn nhau.

Rõ ràng, Tobin không phải là ông chủ của Năm, và Eva mừng vì được tố giác ông chủ của mình - dù tôi vẫn thấy sự sợ hãi trong đôi mắt chị, và tôi biết đó không chỉ là do cơn bão làm chị sợ hãi. Chắc hẳn Tobin đã giết cả chị ta nếu không phải vì sợ để lại một xác chết ngay trong nhà mình.

Tôi bước đến bên cánh cửa và vặn chiếc núm, nhưng cửa đã bị khóa. Tôi quay ra lấy chiếc rìu và đứng ở tư thế chuẩn bị bổ.

Beth nói, “Khoan! Chúng ta cần phải có lí do để làm việc đó.”

Tôi nói với Eva, “Chị có đồng ý cho chúng tôi khám không?”

“Xin cứ việc.”

“Cám ơn.” Tôi vung cây rìu nhằm vào núm cửa bổ xuống và làm chiếc núm thụt cả vào bên trong cánh gỗ. Tôi mở cửa, bên trong là một cầu thang hẹp và tối dẫn xuống tầng hầm. Tôi bảo Beth, “Em có quyền rời khỏi đây bất cứ lúc nào.”

Cô nàng Nguyên tắc dường như đã hiểu ra rằng cả hai chúng tôi đã đi hơi xa rồi, rằng chúng tôi có thể vi phạm bất cứ điều luật nào mà chúng tôi đã bỏ qua. Nàng lấy một chiếc đèn pin từ Eva và đưa cho tôi. “Anh đi trước, người hùng. Em yểm trợ.”

“Đúng đấy.” Tôi đi trước, một tay cầm đèn pin, tay kia cầm cây rìu. Beth rút khẩu 9 li của nàng ra và theo sau.

Đó là một tủ rượu rất cũ với khoảng trống không đầy hai mét. Móng xây bằng đá và cả nền cũng vậy. Thoạt trông, dường như không có nhiều thứ ở dưới này - nó quá ẩm thấp không thể chứa đồ, quá ghê sợ dù chỉ để làm một phòng giặt giũ. Về cơ bản, nó dường như chỉ có một chiếc lò sưởi và một chiếc bình nước nóng. Tôi không thể nghĩ ra là Eva muốn tố giác cái gì với chúng tôi.

Ánh đèn pin soi lên một bức tường gạch dài ở đầu kia tầng hầm, chúng tôi đi về phía đó.

Bức tường xây bằng gạch và hồ trông mới hơn bệ móng cổ bằng đá. Bức tường chủ yếu để chia tầng hầm thành hai nửa trước và sau, kéo lên tới tận xà nhà bằng gỗ sồi.

Ở phần chính giữa bức tường là một cánh cửa bằng gỗ sồi có chạm khắc rất đẹp. Dưới ánh đèn pin hiện ra một tấm biển bằng đồng trên cánh cửa đề "Hầm rượu vang riêng của tại hạ.”

Vì “tại hạ” không phải là người có khiếu hài nên tôi đoán tấm biển này là quà tặng của một người nào đó ngưỡng mộ hắn, thậm chí có thể là Emma.

Beth thì thào, “Có nên vào không anh?”

Tôi đáp, “Chỉ khi cửa không khóa. Các quy tắc khám xét và bắt giữ.” Tôi đưa cho hàng chiếc đèn pin và thử kéo chiếc tay nắm to bằng đồng. Cửa khóa. Tôi trông thấy một lỗ khóa ở bên trên tay nắm. Tôi nói, “Cửa không khóa chỉ bị kẹt thôi.” Tôi vung cây rìu bổ thẳng vào lỗ khóa và khe cửa gỗ, nhưng không mấy suy suyển. Tôi bồi thêm cho mấy nhát nữa, cuối cùng nó cũng phải chịu bung ra.

Beth đã tắt đèn pin ngay khi cánh cửa bật tung vào bên trong. Hai chúng tôi đứng ở hai bên cửa, lưng quay về phía bức tường gạch, súng cầm trong tay.

Tôi quát to, “Cảnh sát đây! Giơ tay lên và đi ra!”

Im lặng.

Tôi ném chiếc rìu vào bên trong cửa. Tiếng kim loại chạm nền nhà, nhưng không thấy ai nổ súng vào chỗ đó.

Tôi bảo Beth, “Em vào trước đi. Năm nay anh đã bị bắn rồi.”

“Cám ơn.” Nàng khom mình và nói, “Em vào đây.” Nàng lao nhanh qua cửa, tôi bám theo sang trái. Chúng tôi đứng bất động ở tư thế khom người, súng nâng cao về phía trước.

Tôi không nhìn thấy thứ gì, nhưng cảm thấy căn phòng này mát hơn và có lẽ khô ráo hơn phần còn lại của tầng hầm. Tôi quát to, “Cảnh sát đây! Giơ tay lên!”

Chúng tôi chờ thêm nửa phút, sau đó Beth bật đèn pin lên. Dưới ánh đèn hiện lên một hàng giá để rượu vang. Nàng quét đèn quanh phòng. Ở giữa phòng có một chiếc bàn, bên trên đặt hai cây đèn nến và mấy chiếc giá để nến. Trên bàn còn có mấy hộp diêm và tôi thắp chừng mươi ngọn nến. Ánh sáng rực rỡ lan tỏa quanh hầm rượu và nhảy múa trên những vỏ chai.

Khắp nơi trong phòng đều có những giá gỗ để rượu thường thấy trong một chiếc hầm như thế này. Ngoài ra còn có những chiếc sọt gỗ và hộp bằng bìa cát tông đựng rượu vang, cái thì mở, cái còn đóng, chất đống khắp mọi nơi. Sáu thùng rượu vang để trên giá lắc, cái nào cũng có vòi. Tôi thấy những cuộn ống làm lạnh trên tường được bảo vệ bằng loại ống nhựa trong suốt Plexiglas cách nhiệt. Trần nhà trông như bằng gỗ tuyết tùng, còn sàn nhà bằng đá nhám được lát bằng đá hoa mịn gắn bằng bê tông. Tôi bảo Beth, “Anh để chai rượu vang của anh trong một cái chạn bếp.”

Beth soi đèn vào mấy chai rượu bám bụi trên một chiếc giá. Nàng bảo, “Đây là rượu vang Pháp xịn.”

Tôi đáp, “Có lẽ hắn để rượu của hắn sản xuất ở gara.”

Nàng chiếu đèn lên bức tường móng nơi có mấy chục hộp các tông chất lên nhau. Nàng bảo, “Rượu của hắn kia kìa. Mấy chiếc thùng có dán nhãn của hắn.”

“Đúng rồi.”

Chúng tôi tìm kiếm một hồi, thấy một chiếc tủ đựng ly, đồ mở nút chai, khăn ăn, vv... Đây đó lại treo một chiếc nhiệt kế, tất cả đều chỉ 60 độ F.

Rốt cuộc, tôi nói, “Eva muốn cho chúng ta biết điều gì nhỉ?”

Beth nhún vai.

Tôi nhìn Beth dưới ánh sáng của những ngọn nếu. Nàng cũng nhìn tôi. Nàng bảo, “Có lẽ ta nên xem những chiếc sọt và hộp các tông kia.”

“Đúng thế.”

Chúng tôi dỡ những chiếc sọt gỗ và hộp các tông xuống, mở ra chỉ thấy toàn rượu vang bên trong. Beth hỏi, “Chúng ta đang tìm gì nhỉ?”

“Anh không biết. Không phải là rượu vang.”

Ở một góc tường móng có một giá để các hộp rượu vang Tobin Vineyards, tất cả đều có mác “Thu Vàng.” Tôi đến bên cạnh và quăng chúng ra lối đi giữa hai hàng giá rượu. Tiếng thủy tinh vỡ và mùi rượu vang tỏa khắp căn phòng.

Beth nói, “Anh không nhất thiết phải đập bỏ rượu vang ngon như thế. Nhẹ nhàng thôi. Anh đưa từng hộp cho em.”

Tôi không đếm xỉa và bảo, “Tránh ra.”

Tôi quăng bỏ nốt lớp hộp cuối cùng, và kìa, trong góc tường, giữa những hộp rượu là thứ gì đó không phải rượu. Một chiếc thùng nhôm. Tôi nhìn chăm chăm vào nó dưới ánh sáng của những ngọn nến.

Beth đến bên cạnh tôi. Ánh đèn pin trên tay nàng soi lên chiếc thùng. Nàng hỏi, “Có phải đó là chiếc thùng mà anh nói hôm trước không? Chiếc thùng nhôm trên tàu của vợ chồng Gordon ấy?”

“Trông thì giống lắm. Nhưng đó là loại thùng sản xuất hàng loạt, trừ khi có dấu vân tay của họ trên đó, mà anh đoán là không, còn thì chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc được.” Tôi nói thêm, “Anh đoán đây chính là nó - chiếc thùng mà ai cũng tin là đã đựng đá khô và vi khuẩn bệnh than.”

“Vẫn có thể là thế.” Nàng nói thêm, “Em không hoàn toàn tin chuyện kho báu cướp biển.”

Tôi nói, “Anh hy vọng là các chuyên gia vân tay có thể tìm được dấu vết từ chiếc thùng nhôm đã bị quét sạch đó.” Tôi quay về phía cửa và định đi ra.

“Chờ đã. Anh không định... ý em là...”

“Mở ra ư? Em điên à? Rồi làm mất chứng cứ? Chúng ta thậm chí còn không được phép đến đây. Chúng ta không có lệnh khám-"

“Thôi đi!”

“Thôi cái gì?”

“Mở chiếc thùng chết tiệt ra đi - không, em sẽ mở. Cầm lấy cái này.” Nàng đưa cho tôi chiếc đèn pin và đứng khom người phía trước chiếc thùng nằm giữa hai hộp rượu vang. “Đưa cho em một cái khăn tay hay thứ gì cũng được.”

Tôi đưa cho nàng chiếc khăn tay của tôi. Nàng lót tay và bật chốt, mở chiếc nắp có bàn lề ra.

Tôi rọi đèn vào chiếc thùng. Chúng tôi chờ đợi được nhìn thấy vàng hay đồ trang sức bên trong, nhưng trước khi chiếc nắp mở hết, bên trong thùng hiện ra một chiếc đầu lâu người đang thao láo nhìn chúng tôi. Beth thốt lên một tiếng và nhảy lùi lại, chiếc nắp thùng rơi xuống lại đóng như cũ. Nàng đứng cách chiếc thùng mấy bước và thở hổn hển. Nàng chỉ vào chiếc thùng, mãi mới nói được thành tiếng, “Anh có nhìn thấy không?”

“Có. Tay này chết rồi.”

“Tại sao...? Cái gì...?”

Tôi cúi xuống bên cạnh chiếc thùng và bảo, “Khăn tay.” Nàng đưa cho tôi chiếc khăn và tôi mở nắp thùng ra. Ánh đèn pin soi xung quanh chiếc thùng nhôm to và rộng, bên trong là chiếc đầu lâu và mấy khúc xương người. Ở mỗi hốc mắt của chiếc đầu có một đồng tiền bằng đồng với lớp gỉ xanh bám dày trên bề mặt.

Beth khom người đứng bên cạnh tôi, tay quàng lên vai tôi, không biết để giữ thăng bằng hay cho đỡ sợ. Nàng đã bình tĩnh trở lại và bảo, “Đây là một phần của bộ xương người. Một đứa trẻ.”

“Không, một người lớn nhưng nhỏ con. Người thời đó nhỏ hơn. Em đã bao giờ thấy một chiếc giường của thế kỷ mười bảy chưa? Anh có lần đã ngủ trên một cái giường như thế.”

“Chúa ơi... Sao lại có xương người...? Còn thứ kia thì sao...?”

Tôi thò tay vào trong thùng và lấy ra một thứ sờ vào thấy ghê ghê. Tôi đưa lên trước ánh đèn. “Gỗ mục.” Giờ tôi có thể nhìn thấy dưới lớp xương có mấy miếng gỗ mục nát. Nhìn kỹ hơn, tôi thấy những mảnh đồng phủ lớp gỉ xanh bên ngoài, mấy chiếc đinh bằng sắt gỉ gần hết, một tấm vải mục.

Những mảnh xương không trắng trợt mà có màu nâu đỏ, xung quanh vẫn còn lớp đất bám, chứng tỏ người chết không phải được chôn trong quan tài và đã nằm trong lòng đất một thời gian dài.

Tôi xem kỹ mọi thứ trong chiếc thùng và tìm thấy một chiếc khóa móc bằng sắt đã gỉ và bốn đồng tiền vàng, tôi đưa cho Beth.

Tôi đứng dậy và dùng khăn lau tay. “Kho báu của thuyền trưởng Kidd.”

Nàng nhìn bốn đồng tiền vàng trên tay nàng. “Đây ư?”

“Một phần thôi. Anh thấy đây là một phần của một chiếc hòm gỗ, những mảnh vụn của chiếc nắp hòm bị cạy phá, anh đoán thế. Chiếc hòm được bọc trong giấy dầu hoặc vải bạt để cho khỏi thấm nước trong khoảng một năm gì đó, nhưng không phải là ba trăm năm.”

Nàng chỉ vào chiếc đầu lâu và hỏi, “Đây là ai?”

“Anh đoán đó là thần giữ của. Đôi khi một người bị kết án, một người dân bản địa, một nô lệ hay một người không may mắn nào đó bị giết và quẳng xác lên trên chiếc hòm. Thời đó người ta tin rằng hồn ma của người bị giết sẽ luôn túc trực và xua đuổi bất kỳ ai đào nấm mồ của mình lên.”

“Làm sao anh biết chuyện này.”

“Anh đọc trong một cuốn sách.” Tôi nói thêm, “Và đối với những người không mê tín, những người có thể đã nhìn thấy ai đó đang chôn thứ gì hoặc thấy vết đất mới, thứ đầu tiên mà họ thấy khi đào lên là một xác chết, và họ nghĩ đó chỉ là một nấm mồ. Khôn ngoan đấy chứ, phải không?”

“Em cũng đoán vậy. Em sẽ chẳng bao giờ dám đào thứ gì nữa đâu?”

Hai chúng tôi đứng hồi lâu trong căn hầm rượu, mỗi người theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Những vật bên trong chiếc thùng nhôm bốc mùi không lấy gì làm dễ chịu. Tôi cúi xuống đóng chiếc nắp lại. Tôi bảo Beth, “Anh đoán cái này sẽ được trưng bày cho thiên hạ xem ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó, cùng với vàng và đồ trang sức.”

Nàng nhìn bốn đồng tiền vàng trên tay và hỏi lại, “Nhưng kho báu giờ đang ở đâu?”

“Nếu xương mà biết nói thì anh chắc người này sẽ bảo cho ta biết.”

“Sao lại có đồng xu trong mắt người này?”

“Có lẽ là do chuyện mê tín gì đó.”

Nàng liếc nhìn tôi và nói, “Anh đã đúng. Chúc mừng anh vì những việc đã làm.”

“Cám ơn em.” Tôi nói. “Ta ra ngoài lấy một chút không khí trong lành.”

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.