Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35

❊ ❊ ❊

Chúng tôi ngồi nghỉ trên cỏ cho đầu óc ổn định và lấy lại sức. Tôi ướt sũng, mệt mỏi, lạnh và rệu rã, cộng với lá phổi từng bị thủng đang lên cơn đau. Tôi đã để mất đôi giày. Nhìn sang Beth, tôi thấy nàng cũng đi chân đất. Nhìn theo cách lạc quan, chúng tôi vẫn còn sống, tôi vẫn còn khẩu .38 trong bao đeo vai. Tôi rút khẩu súng ổ quay ra để chắc chắn rằng viên đạn còn lại đang ở vị trí bắn tiếp theo. Beth sờ vào túi nàng và thông báo, “Được rồi... súng của em còn đây.”

Chúng tôi vẫn mặc áo mưa choàng và áo phao, nhưng tôi nhận ra Beth đã để mất chiếc ống nhòm đeo trên cổ nàng.

Chúng tôi nhìn ra biển và nhũng đám mây vần vũ xung quanh mắt bão. Trời vẫn mưa nhưng không còn nặng hạt và bị gió tạt. Khi đã bị nước mưa ngấm vào tận xương thì một chút mưa nhỏ đâu còn đáng kể gì. Điều tôi lo là cơ thể bị mất nhiệt nếu chúng tôi ngồi quá lâu.

Tôi nhìn sang Beth và hỏi, “vết rách trên trán em thế nào rồi?”

“Không sao.” Nàng nói thêm, “Em đã ngâm nó trong nước mặn.”

“Tốt. Thế còn vết thương do đạn bắn?”

“Nó tuyệt lắm, John.”

“Còn những chỗ bị rách và bầm dập khác thì sao?”

“Chỗ nào cũng có cảm giác hay lắm.”

Tôi nghĩ mình đã nhận ra một chút mỉa mai trong giọng nói của nàng. Tôi đứng dậy và cảm thấy chao đảo.

Beth hỏi tôi, “Anh có sao không?”

“Anh không sao.” Tôi chìa tay xuống để nàng nắm và kéo nàng đứng lên. Tôi nói, “Chúng ta đã tránh được vỏ dừa, nhưng chưa ra được khỏi rừng.”

Nàng nói với tôi bằng giọng nghiêm túc, “Em nghĩ Tom và Judy Gordon sẽ tự hào về tài lái tàu của anh.”

Tôi không đáp. Còn một câu bỏ lửng không nói ra, đó là “Emma sẽ hài lòng với những gì anh đã làm cho chị ấy.”

Beth nói, “Em nghĩ chúng ta nên quay lại theo hướng của eo Ruột Plum và tìm tòa nhà thí nghiệm chính.”

Tôi không trả lời.

Nàng nói tiếp, “Chúng ta không được để mất ánh đèn. Ta sẽ nhờ lực lượng an ninh của Đảo Plum đến giúp. Em sẽ gọi điện hoặc liên lạc bằng điện đài về cơ quan em.”

Một lần nữa, tôi không trả lời.

Beth nhìn tôi. “John?”

Tôi nói, “Anh không tới tận đây để nhờ vả Paul Stevens.”

“John, chúng ta đang yếu thế, mà giờ chỉ còn năm viên đạn. Giầy cũng không có. Đến lúc phải gọi cho cảnh sát thôi.”

“Em có thể đến khu nhà chính nếu em muốn. Anh sẽ đi tìm Tobin.” Tôi quay đầu và bước đi về phía đông dọc theo mép gò, hướng đến nơi tôi đã nhìn thấy chiếc tàu của Tobin thả neo cách chừng nửa dặm dưới bãi biển.

Nàng không gọi với theo tôi, nhưng nửa phút sau, nàng đã bước đi bên cạnh. Chúng tôi đi trong im lặng. Cả hai vẫn mặc áo phao, phần để giữ ấm, phần là để phòng, biết đâu lại có lúc dùng đến.

Cây cối mọc trên gò và những bụi nhỏ chen nhau dày đặc. Không có giầy, chúng tôi phải đi rón rén và không dễ chịu chút nào.

Gió tĩnh lặng trong mắt bão. Không gian im ắng. Tôi còn nghe thấy cả tiếng chim kêu. Tôi biết áp suất không khí đã xuống đến mức cực thấp bên trong mắt bão, và dù không nhạy cảm lắm trước biến đổi của áp suất, tôi cũng thực sự cảm thấy như ... cáu kỉnh, có thể là hơi khùng nữa. Thật ra, có lẽ cảm giác của tôi là bực mình và lòng đầy sát khí.

Beth hỏi tôi bằng giọng thì thào, “Anh có kế hoạch gì chưa?”

“Tất nhiên rồi.”

“Thế kế hoạch là gì, John?”

“Là cứ bình tĩnh.”

“Kế hoạch hoàn hảo thật.”

“Đúng.” Một chút ánh trăng lọt qua những đám mây màu khói và chúng tôi có thể nhìn được khoảng cách ba mét phía trước. Dù vậy, đi dọc theo mép của vách đất cũng hơi nguy hiểm bởi những rãnh xói. Vì thế, chúng tôi đi sâu vào bên trong và thấy con đường sỏi mà chiếc xe của Paul Stevens đã đưa chúng tôi đi qua để đến đầu phía đông của hòn đảo. Con đường hẹp đầy những thân cây đổ bật gốc và cành cây rơi ngổn ngang, thế nên chúng tôi cũng không lo bất ngờ gặp xe tuần tra.

Chúng tôi ngồi nghỉ trên một thân cây đổ. Hơi thở của hai người như khói trắng trong không khí ẩm ướt. Tôi cởi chiếc áo phao và áo mưa choàng, rồi bỏ nốt cả bao súng đeo vai và áo phông. Tôi cố xé chiếc áo phông làm đôi rồi quấn cả hai mảnh quanh bàn chân Beth. Tôi nói, “Anh sắp cởi quần lót ra đấy. Đừng có liếc.”

“Em không liếc đâu. Nhìn thẳng có được không?”

Tôi cởi bỏ chiếc quần bò chật đã ướt nhoẹt, rồi cởi quần lót ra và xé làm đôi.

Beth nói, “Boxers à? Em cứ tưởng anh thích dùng đồ của Jockey.”

Penrose có vẻ đang trong tâm trạng vui vẻ vì lí do gì đó. Trạng thái phởn phơ của người sống sót sau hoạn nạn, tôi đoán thế. Tôi buộc hai mảnh vải quanh bàn chân.

Beth nói, “Em xin góp cả đồ lót của em, nhưng nó bị ướt khi em thay trên tàu rồi, em không ngại mặc lại đâu. Anh có cần áo của em không?”

“Không. Cám ơn. Thế này được rồi.” Tôi kéo chiếc quần bò lên, đeo lại bao súng vào vai trần, mặc áo mưa và áo phao. Tôi cảm thấy lạnh và đã bắt đầu run.

Chúng tôi kiểm tra vết thương của Beth. Có một chút máu đang rỉ ra, nhưng dường như không nghiêm trọng gì.

Chúng tôi tiếp tục đi dọc theo con đường sỏi. Bầu trời lại tối dần, và tôi biết mắt bão đang di chuyển về phía bắc. Không lâu nữa nửa sau của cơn bão sẽ đi qua đây, và nó cũng mạnh không kém gì nửa trước. Tôi nói thầm với Beth, “Đây là đoạn mà Tobin thả neo. Từ chỗ này phải thận trọng và giữ im lặng.”

Nàng gật đầu. Hai chúng tôi rời con đường đi về hướng bắc, xuyên qua những đám cây cối xuống tới mép của vách cao. Và đúng như tôi đoán, chiếc Chris-Craft đang đậu cách bờ biển chừng năm chục thước. Chiếc tàu căng lên bởi những đợt sóng và hai sợi dây neo thả ở mũi và đuôi tàu. Trong ánh sáng mờ, chúng tôi nhìn thấy chiếc Whaler trên bãi biển phía dưới, hẳn là Tobin đã lên bờ. Một sợi dây từ chiếc Whaler kéo lên vách cao và cột vào một cái cây ngay gần chỗ chúng tôi.

Hai chúng tôi đứng bất động, nghe ngóng và căng mắt nhìn vào bóng tối. Tôi khá chắc chắn là Tobin đã đi sâu vào bên trong đảo. Tôi thì thầm với Beth, “Hắn đi tìm kho báu rồi.”

Nàng gật đầu bảo, “Chúng ta không thể lần theo hắn được. Ta cứ ở đây chờ hắn quay lại.” Nàng nói thêm, “Em sẽ bắt hắn.”

“Cô nàng Đạo đức.”

“Nghĩa là thế nào?”

“Nghĩa là, thưa cô Penrose, không ai lại bắt một người đã ba lần cố giết mình.”

“Anh không định giết hắn đấy chứ?”

“Muốn cá không?”

“John, em đã liều mạng để giúp anh trên con tàu rồi. Giờ anh nợ em một lần.” Nàng nói thêm, “Em vẫn có nhiệm vụ, em là cảnh sát, và chúng ta phải làm theo cách của em.”

Tôi không thấy có lý do nào để tranh cãi một điều mà tôi đã quyết định trong đầu rồi.

Beth bảo nên cởi bỏ sợi dây đi và để sóng cuốn chiếc Whaler ra ngoài, như thế Tobin sẽ không còn đường lùi. Tôi chỉ cho nàng thấy rằng nếu Tobin ra gần đến bãi biển phía dưới và nhìn thấy chiếc Whaler bị mất thì hắn sẽ biết là hắn đang bị theo dõi. Tôi nói với Beth, “Em chờ ở đây yểm hộ cho anh.”

Tôi túm lấy sợi dây và tụt chừng bốn mét rưỡi xuống chiếc Whaler đang nằm trên bãi biển đầy đá. Ở đuôi thuyền có chiếc thùng nhựa mà tôi đã nhìn thấy khi ở trong nhà để tàu của Tobin. Trong thùng có một mớ những đồ linh tinh, nhưng tôi thấy chiếc còi hơi đã biến mất. Fredric Tobin có thể đã đoán ra là tôi đã biết mọi chuyện và quẳng hết những thứ liên quan đi. Không sao - sẽ không có một bồi thẩm đoàn mười hai người dành cho hắn.

Tôi tìm được một chiếc kìm và dùng nó tháo bỏ chiếc chốt giữ chân vịt với trục lái. Tôi thấy mấy chiếc chốt sơ cua khác để trong thùng và bỏ cả vào túi. Tôi cũng tìm thấy một con dao nhỏ dùng để đánh vảy và xẻ thịt cá trong thùng liền cầm theo. Tôi tìm đèn pin nhưng không thấy chiếc nào để trên thuyền.

Tôi bám vào sợi dây leo lên, hai bàn chân bọc trong quần lót đạp sâu vào lớp đất cát. Lên đến đỉnh, Beth chìa tay ra kéo.

Tôi nói, “Anh đã tháo bỏ cái chốt ở chân vịt.”

Nàng gật đầu. “Tốt. Anh có giữ nó để phòng lúc cần đến không đấy?”

“Có. Anh nuốt rồi. Trông anh ngớ ngẩn lắm à?”

“Trông anh không ngớ ngẩn. Nhưng anh làm những điều ngớ ngẩn.”

“Đó là một phần mẹo mực của anh.” Tôi đưa cho nàng mấy chiếc chốt, còn con dao thì giữ lại.”

Beth nói một câu làm tôi ngạc nhiên, “Anh này, em xin lỗi vì mấy câu khó chịu của em. Em hơi mệt và căng thẳng.”

“Đừng lo.”

“Em lạnh. Chúng ta... rúc vào nhau được không?”

“Ôm ư?”

“Rúc. Người ta rúc để lấy lại thân nhiệt.”

“Đúng rồi. Anh đã đọc điều này ở đâu rồi. Được...”

Hơi một chút ngượng ngập, chúng tôi sát vào nhau, hay gọi là ôm nhau cũng được. Tôi ngồi lên một thân cây to bị đổ, còn Beth ngồi trong lòng tôi, hai tay nàng ôm quanh người, mặt vùi vào ngực. Chúng tôi cảm thấy ấm hơn một chút, dù quả thật đó không phải là cảm giác rạo rực, vì cái tình thế của chúng tôi bấy giờ. Đó chỉ là sự tiếp xúc giữa con người với con người, là sự nương tựa lẫn nhau để duy trì sự sống. Chúng tôi đã đi cùng nhau qua nhiều biến cố, và giờ đã gần tới đích. Có lẽ cả hai cùng cảm thấy một điều gì đó đã thay đổi giữa hai người kể từ khi xảy ra cái chết của Emma.

Dù sao, chuyện này cũng rất giống với Robinson Crusoe, hay đảo Giấu vàng, hay gì đó. Và có lẽ, tôi đang thích thú với nó như cánh mày râu của mọi thời đại vẫn thích được thử thách trước cả con người và thiên nhiên. Tuy nhiên, tôi có cảm nhận rất rõ rằng Beth Penrose không chia sẻ một chút nào cái máu trai trẻ của tôi. Phụ nữ thường thực tế hơn một chút. Họ không mấy khi tìm thấy sự thích thú với việc dìm mình trong bùn. Còn nữa, có lẽ đi săn và giết chóc không hấp dẫn nhiều với phụ nữ. Mà đó lại là điều thực sự đang diễn ra lúc này - đi săn và giết chóc.

Chúng tôi ngồi đó sưởi ấm cho nhau một lúc, nghe tiếng gió, tiếng mưa. Tôi nhìn chiếc tàu Chris-Craft trồi lên dập xuồng theo những đợt sóng, hai sợi dây neo căng lên. Tôi cũng để mắt xuống bãi biển phía dưới và lắng nghe để phát hiện tiếng bước chân đi trong rừng.

Cuối cùng, sau khoảng mười phút, chúng tôi rời nhau. Tôi đứng lên rũ các khớp cho đỡ tê cứng và chợt nhận ra một chỗ bị cứng khác không mong muốn là chiếc trục các đăng cũ.

Tôi bảo Beth, “Anh thấy ấm hơn rồi.”

Nàng ngồi thu lu bên gốc cây bị đổ, hai tay ôm gối. Nàng không đáp.

Tôi nói, “Anh đang cố đặt mình vào giầy của Tobin để hiểu suy nghĩ của hắn.”

“Ít nhất thì hắn cũng có giầy.”

“Đúng. Chắc rằng hắn đang đi sâu vào đảo về nơi cất giấu kho báu. Đúng không?”

“Tại sao lại là sâu trong đảo? Tại sao không ở ven bãi biển.”

“Kho báu có thể được tìm thấy ban đầu ở gần bãi biển, có thể trên một trong những mỏm đá - có thể đây là những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd - nhưng khả năng nhiều nhất là vợ chồng Gordon đã chuyển kho báu khỏi cái hố mà họ đã tìm ra nó, vì cái hố rất dễ bị sập và họ phải đào lại. Đúng không?”

“Có thể như vậy.”

“Anh đoán là vợ chồng Gordon đã giấu kho báu ở đâu đó bên trong hoặc xung quanh pháo đài Terry hoặc khu công sự pháo mà chúng ta đã thấy lần trước đến đây.”

“Có thể.”

“Vậy, nếu cho là Tobin biết kho báu đang ở đâu, thì giờ hắn phải lấy ra, mang qua rừng và trở lại đây. Có thể phải mất hai hoặc ba chuyến tùy theo trọng lượng của kho báu. Đúng không.”

“Có thể.”

“Vậy, nếu là hắn, anh sẽ đi lấy kho báu, mang nó trở lại đây, rồi đưa xuống chiếc thuyền Whaler. Anh sẽ không cố đưa chiếc Whaler trở ra chỗ chiếc Christ-Craft trong thời tiết như thế này, hay cố chuyển kho báu trên những con sóng kia. Đúng không?”

“Đúng.”

“Vì vậy, hắn sẽ chờ trên chiếc Whaler cho tới khi cơn bão đi qua, nhưng hắn muốn đi khỏi trước khi trời sáng, trước khi trực thăng và tàu tuần tra lượn ra. Đúng không?”

“Cũng lại đúng. Vậy thì sao?”

“Vậy thì chúng ta phải lần theo và chộp hắn khi hắn đang lấy kho báu ra. Đúng không?”

“Đúng - không, không đúng. Em không theo cách suy luận này.”

“Nó phức tạp, nhưng lô gíc.”

“Nó vớ vẩn thì có, John. Lô gíc bảo chúng ta phải ở đây. Tobin kiểu gì cũng phải quay lại đây, và chúng ta sẽ chờ hắn.”

“Em có thể chờ hắn. Anh sẽ lần theo thằng chó chết này.”

“Không, không được. Hắn có vũ khí mạnh hơn anh, mà em không đưa súng của em cho anh đâu.”

Chúng tôi nhìn nhau, tôi nói, “Anh sẽ tìm ra hắn. Anh muốn em ở đây, và nếu thấy hắn đến mà không thấy anh đâu”

“Thì có thể là hắn đã giết anh. Ở đây đi, John. Ở đây an toàn hơn nhiều.” Nàng nói thêm, “Tỉnh táo đi.”

Tôi lờ đi và quỳ xuống cạnh nàng. Tôi cầm tay nàng và nói, “Em xuống chỗ chiếc Whaler đi. Ở đó em có thể thấy hắn nếu hắn đi dọc theo bờ biển hoặc tụt xuống theo sợi dây. Em nấp vào chỗ nào đó phía sau những tảng đá. Khi hắn tới gần đủ để em nhìn thấy rõ hắn trong bóng tối thì bắn phát đầu tiên vào người hắn, sau đó lao đến gần và cho hắn một viên vào đầu. Được không?”

Nàng không nói gì khoảng mấy giây, rồi gật đầu. Nàng mỉm cười nói, “Sau đó em sẽ nói: ‘Đứng im, cảnh sát đây!’”

“Đúng. Em học khá lắm.”

Nàng rút khẩu Glock 9 li ra và đưa cho tôi. Nàng nói, “Em chỉ cần bắn một phát nếu hắn quay lại đây. Anh cầm lấy. Còn bốn viên trong súng. Đưa súng của anh cho em.”

Tôi cười, “Cái hệ đo bằng mét anh không thạo lắm. Anh sẽ dùng khẩu súng lục .38 sáu viên đúng của Mỹ này.”

“Năm viên.”

“Đúng rồi. Anh phải nhớ điều đó mới được.”

“Em có thể bảo anh đừng đi được không?”

“Không.”

Lúc này hôn nhanh một cái chắc là được, nhưng cả hai chúng tôi đều không còn bụng dạ nào nghĩ đến. Tôi nắm chặt tay nàng và nàng cũng xiết chặt lại. Tôi đứng dậy, quay người và bước đi qua những đám cây rời xa chỗ vách đứng đầy gió, rời xa Beth.

Năm phút sau tôi đến được con đường sỏi. Được rồi, giờ tôi là Fredric Tobin. Có thể tôi có một chiếc la bàn, nhưng dù có hay không thì tôi cũng đủ khôn ngoan để biết rằng phải đánh dấu bằng cách nào đó trên một trong những cái cây này cho nhớ vị trí trên đường tương ứng với chỗ tôi đã lên bờ trên bãi biển.

Tôi nhìn quanh và đúng rồi, tôi thấy một đoạn dây màu trắng buộc giữa hai cái cây cách nhau chừng ba mét. Tôi đoán đây là kim la bàn của Tobin, và mặc dù không có la bàn, cũng không có ai trên tòa nhà Empire State Building dẫn đường, tôi chắc rằng Tobin đã đi theo hướng chính nam. Tôi lần mò tìm đường qua rừng cây và cố giữ theo hướng đó.

Kỳ thực, nếu tôi không may mắn và không phát hiện ra điều gì cho biết Tobin đã đi đâu thì có thể tôi đã quay lại chỗ Beth. Nhưng tôi có cảm giác - đến mức gần như là chắc chắn - rằng có thứ gì đó đang lôi kéo tôi, đang đẩy tôi về phía Fredric Tobin và kho báu của thuyền trưởng Kidd. Tôi đã hình dung rõ ràng tôi, Tobin và kho báu đang ở một chỗ, và trong bóng tối xung quanh chúng tôi là những người đã chết - Tom và Judy, ông bà Murphy, Emma và cả chính thuyền trưởng Kidd.

Mặt đất dốc lên cao và chẳng mấy chốc tôi thấy mình đứng ở rìa của một khoảng trống. Ở rìa bên kia, tôi có thể nhận ra bóng hai tòa nhà nhỏ nổi lên trên nên trời tối. Tôi nhận ra đó chính là pháo đài Terry bị bỏ hoang.

Tôi tìm xung quanh xem có dấu vết gì không và phát hiện ra một đoạn dây buộc vào thân cây. Đây là chỗ đi ra của Tobin từ trong rừng, và đây sẽ là chỗ hắn đi vào khi quay lại. Có vẻ như hệ thống định hướng bằng bản năng trong đầu tôi đang hoạt động khá tốt. Nếu là một chú chim di cư đang bay về phương Nam, tôi sẽ đi đúng đường tới Florida.

Việc Tobin tới pháo đài Terry không có gì đáng ngạc nhiên. Hầu như tất cả các con đường lớn nhỏ trên Đảo Plum đều hội cả về đó, và có hàng trăm chỗ cất giấu kín đáo giữa những tòa nhà bỏ hoang và các công sự pháo gần đó.

Tôi biết, nếu chờ ở đây, tôi sẽ phục kích được hắn khi hắn quay lại. Nhưng tôi đang trong tâm trạng của một kẻ đi săn quyết tìm con mồi chứ không phải một người kiên nhẫn ngồi phục.

Tôi chờ một vài phút và tính toán xem có ai đó với một khẩu súng trường đang chờ tôi ở phía xa bên kia khoảng trống. Từ hàng trăm bộ phim về chiến tranh, tôi biết mình không nên đi qua một khoảng trống mà phải đi vòng. Nhưng nếu làm thế, hoặc tôi sẽ để mất Tobin, hoặc chính tôi sẽ bị lạc. Tôi phải đi theo đường hắn đã đi. Mưa đang ngày càng nặng hạt, gió cũng mạnh lên. Thật thảm hại cho tôi. Tôi ngửa đầu ra sau, há miệng để cho nước mưa tràn lên mặt và chảy vào cổ họng. Nước mưa làm tôi dễ chịu hơn.

Tôi đi vào giữa khoảng đất trống theo hướng nam. Miếng vải quấn dưới chân đã rách te tua, hai bàn chân đau buốt và chảy máu. Tôi tự nhủ mình là người gan lì hơn nhiều so với cái gã Tobin công tử bột kia, và tất cả những gì tôi cần là một viên đạn và một con dao.

Tôi đến đầu bãi phẳng và nhìn thấy một hàng cây mỏng phân cách phần bãi và khu đất rộng xung quanh pháo đài Terry. Tôi không còn cách nào để biết hắn đã đi đâu, và cũng không có thêm vết đánh dấu nào vì giờ các tòa nhà đã trở thành điểm mốc cho hắn. Tất cả những gì tôi có thể làm là đi tiếp.

Tôi chạy đích dắc từ tòa nhà này sang tòa nhà kia và tìm dấu vết của Tobin. Sau khoảng mười phút, tôi thấy mình đang ở gần tòa nhà chỉ huy cũ. Tôi biết đã để mất dấu hắn, và rằng hắn có thể đã đi tới bất kì nơi nào từ đây - theo phía nam tới bãi biển hải cẩu, hoặc về phía tây tới tòa nhà chính, hướng đông trên miếng xương sườn lợn. Hoặc, có thể hắn đang nấp đâu đó chờ tôi tới gần hơn. Hoặc, có thể tôi đã để mất hắn giống như lúc trên biển, và hắn đang ở sau tôi. Không hay rồi.

Tôi quyết định đi tìm nốt những khu nhà còn lại trong khu này. Tôi vừa bước chân chạy lom khom tới chỗ chiếc nhà thờ nhỏ thì bất thình lình có tiếng súng nổ, tôi vội hụp người nằm xuống. Tôi hiểu ra mấy phát bắn không phải nhằm vào mình.

Tôi chạy thật nhanh đến bên sườn của nhà thờ gỗ và nhìn về hướng vừa có tiếng súng. Cách đó chừng năm chục thước là trạm cứu hỏa. Có lẽ là bắn ở bên trong nên tiếng súng không đanh.

Tôi vừa định chạy về phía trạm cứu hỏa thì bất ngờ một trong những cánh cửa lớn ở phía trên mở tung ra và tôi vội nằm xuống. Cánh cửa hình như đang dao động với một biên độ ngắn, như thể có ai đã mở nó bằng một sợi dây kéo, và tôi đoán ở trong này mất điện. Kỳ thực, bên trong những cửa sổ ở tầng trên, tôi nhìn thấy ánh sáng của một ngọn nến hay đèn dầu gì đó đang bập bùng.

Và trước khi tôi phải quyết định sẽ làm gì tiếp theo, một chiếc xe cứu thương lớn không bật đèn chạy ra khỏi gara và rẽ ra đường, hướng về phía đông nơi có dải đất hẹp với nhũng ụ pháo đã đổ nát.

Chiếc xe có gầm cao và chạy khá dễ dàng qua những vật chướng ngại nguy hiểm trên đường. Chỉ một loáng, nó đã mất hút trong bóng tối.

Tôi chạy hết sức bằng chân đất về phía trạm cứu hỏa, rút súng ra và lao vào qua chiếc cửa gara đang mở. Tôi nhận ra có ba chiếc xe cứu hỏa trong gara.

Tôi đã đi dưới mưa lâu đến mức có cảm giác hơi là lạ ở nơi tạnh ráo trong chừng mươi giây đầu, nhưng tôi quen với nó cũng rất nhanh.

Khi mắt đã quen với bóng tối, tôi nhận ra một chiếc cột của lính cứu hỏa ở phía cuối của gara, và ánh sáng bập bùng từ phòng ngủ ở tầng trên lọt xuống qua chiếc lỗ ở trên trần. Ở bên trái cột là một cầu thang rộng. Tôi tới chỗ cầu thang và leo lên những bậc gỗ cọt kẹt, súng lăm lăm phía trước. Tôi biết không còn nguy hiểm gì với mình, và biết sắp được thấy điều gì.

Trên đầu cầu thang là căn phòng ngủ, bên trong thắp đèn dầu. Dưới ánh sáng của những ngọn đèn, tôi nhìn thấy hai người đàn ông nằm trên giường, không cần đến gần cũng biết là họ đã chết. Vậy là số người chết dưới tay Tobin đã lên đến bảy người. Rõ ràng là không cần phải có một phiên tòa ngớ ngẩn để kết thúc vụ này.

Bên cạnh mỗi chiếc giường có ủng và tất chân. Tôi ngồi lên chiếc ghế dài và xỏ lấy một đôi tất dày cùng một đôi ủng cao su mạ kẽm khá vừa vặn. Mấy chiếc tủ có khóa kê sát tường. Trên bức tường khác có áo mưa và áo cổ chui dài tay treo trên móc. Nhưng tôi chỉ mặc những đồ của người chết vừa đủ mức mình muốn. Không phải vì tôi là người mê tín.

Ở phía sau phòng ngủ của trạm cứu hỏa là một phòng bếp nhỏ, giống như kiểp bếp trên tàu biển. Trên bệ bếp có một hộp bánh sô-cô-la và tôi lấy một chiếc ra ăn.

Tôi xuống cầu thang và ra ngoài con đường chạy dọc theo hướng đông-tây phía trước trạm cứu hỏa. Tôi nhằm về phía đông đi lên dốc theo hướng của chiếc xe cứu hỏa hồi nãy. Những cành cây gãy nằm trên đường nơi chiếc xe chèn qua.

Tôi đi bộ khoảng nửa dặm, và dù trong bóng tối, tôi vẫn nhớ con đường này từ lần Stevens dẫn đi vòng quanh đảo. Mưa nặng hạt. Gió lại bắt đầu giật gãy những cành lá khỏi thân cây. Lúc lúc, tôi lại nghe một tiếng roác như thể tiếng súng trường làm tim đập thình thịch, nhưng âm thanh là từ những cành cây bị gãy và rơi xuống qua những cành bên dưới.

Con đường bị nước từ nền cao hai bên tràn xuống xối xả. Đường rãnh thoát nước dọc theo đường đã ngập không kịp chảy khi tôi cố đi ngược dốc qua những đống bùn lở và cành cây gãy. Thứ này hẳn là tệ hơn cả khi tuyết rơi dày thành đống trước trụ sở cơ quan tôi. Thiên nhiên thật đáng sợ. Đôi khi, thiên nhiên cũng nổi giận.

Đúng là tôi cũng không chú ý lắm đến phía trước vì khi nhìn lên, chiếc xe cứu thương đứng sừng sững ngay trước mặt, chưa đầy năm mét. Tôi khựng lại, rút súng ra và quỳ một chân xuống đất. Qua làn mưa, tôi nhận ra một cây to khổng lồ đổ chắn ngang trên đường phía trước chiếc xe.

Chiếc xe chiếm gần hết bề ngang của con đường hẹp. Tôi đi vòng qua phía trái, dòng nước chảy từ rãnh thoát nước ngập đến đầu gối. Tôi đi đến sườn cửa bên lái và ngó vào trong, nhưng không có ai trong cabin.

Tôi định làm cho chiếc xe không nổ máy được nữa, nhưng cửa cabin lại bị đóng, còn nắp che động cơ lại bị chốt từ phía trong. Chết tiệt. Tôi bò xuống dưới gầm cao của xe và rút dao ra. Tôi không biết nhiều lắm về cơ khí ô tô, còn Jack và Ripper[1] lại không biết nhiều về cấu tạo máy. Tôi cắt mấy ống dây, hóa ra là ống dẫn nước và hơi nước. Rồi để cho chắc ăn, tôi cắt luôn mấy sợi dây điện. Khá chắc chắn là đã làm vô hiệu hóa động cơ, tôi chui ra khỏi gầm và đi tiếp lên đường dốc.

Lúc này tôi đã ở giữa khu công sự pháo, xung quanh toàn bê tông, đá và những đống gạch vỡ phủ đầy dây leo và nhũng khóm cây, trông giống như khu thành đổ nát Mayan. Tôi đã có lần đến khu rừng ở ngoại ô Cancun. Thật ra, đó là lần tôi đi trăng mật. Còn lúc này không phải trăng mật. Càng không phải là trăng mật của tôi.

Tôi vẫn theo đường chính để đi dù đã nhìn thấy những con đường nhỏ hơn và những đoạn trải bê tông. Tôi đi theo hình dích dắc, qua phải, rồi qua trái. Rõ ràng là Tobin đã có thể theo một trong những lối đi này để vào khu công sự pháo. Tôi hiểu rằng cũng có thể tôi đã để mất hắn. Tôi dừng bước và khom người sát vào bên một bức tường bê tông giáp ngay bên đường. Đúng lúc đang định quay lại, tôi hình như nghe thấy tiếng gì đó ở đằng xa vọng lại. Tôi cố nín hơi thở nặng nhọc để lắng nghe và lại thấy âm thanh đó lần nữa, thứ âm thanh sắc và giống như tiếng hú. Cuối cùng, tôi nhận ra đó là tiếng còi vọng đến từ rất xa và chỉ vừa đủ nghe được trong tiếng ầm ào của mưa gió. Nó vọng đến từ hướng tây, rít lên từng hồi dài, giữa các hồi là một khúc ngắn bằng thứ âm cao vọt lên. Đúng là tiếng còi báo động, còi điện, và có lẽ phát ra từ tòa nhà chính.

Hồi còn nhỏ, tôi đã biết nhận ra tiếng còi báo động tập kích trên không, nhưng đây không phải thứ âm thanh đó. Nó không phải là tiếng còi xe cứu hỏa, cứu thương hay của xe cảnh sát, cũng không phải tín hiệu rò rỉ phóng xạ mà tôi đã có lần nghe thấy trong một bộ phim huấn luyện cho cảnh sát. Vì thế, một phần bằng cách loại trừ, một phần vì tôi cũng không đến nỗi đần độn lắm, nên tôi biết - dù tôi chưa bao giờ nghe thấy thứ tín hiệu này - rằng cái tôi nghe thấy là tiếng còi báo rộng rò rỉ nguy hiểm sinh học. “Đức Giê-su...”

Nguồn điện từ trong đất liền bị mất và chắc hẳn chiếc máy phát điện ở gần tòa nhà chính đã bị sự cố, các máy bơm không khí áp suất âm ngừng hoạt động và các máy lọc không khí điện tử bị đánh thủng. “Ma-ri...”

Ở đâu đó, một chiếc còi lớn chạy bằng pin đang phát tín hiệu báo tin dữ, và tất cả những người đang trực bão trên đảo giờ phải mặc những bộ đồ chống nguy hiểm sinh học và chờ đợi. Tôi không có bộ đồ nào như thế. Chết tiệt, tôi còn không có cả quần lót. “... và Giô-xép. Amen.”

Tôi không hoảng loạn vì tôi biết chính xác phải làm điều gì. Chuyện này giống như hồi ở trường, chúng tôi xuống tầng hầm khi tiếng còi báo động có không kích hú vang và người ta cho là những quả tên lửa đang hướng về phía Fiorello H. La Guardia High.

Nhưng, có thể mọi chuyện không xấu đến như vậy. Gió đang thổi mạnh từ phía nam theo hướng bắc... hay phải không nhỉ? Thật ra, cơn bão đang di chuyển về hướng bắc, nhưng gió lại thổi ngược chiều kim đồng hồ, vì thế bất cứ thứ gì mà gió mang đi ở phòng thí nghiệm chính ở đâu phía tây của hòn đảo có thể sẽ đến được đầu phía đông này. “Chết tiệt.”

Tôi đứng đó trong mưa và nghĩ về tất cả mọi chuyện - những vụ giết người, chuyện đuổi nhau trong bão và thoát chết trong gang tấc, tất cả - và sau sự dại dột chết người này, sự tự phụ ngu ngốc, tham lam và lừa lọc, giờ Thần Chết đã bước vào và chuẩn bị bàn ăn. Biến. Y như vậy.

Tôi biết chắc rằng nếu các máy phát điện gặp sự cố thì toàn bộ phòng thí nghiệm sẽ rò ra tất cả những gì bên trong nó. “Mình đã biết! Mình đã biết điều này sẽ xảy ra!” Nhưng tại sao lại là hôm nay? Tại sao nó lại xảy ra yào ngày thứ hai trong cả cuộc đời tôi có mặt trên cái hòn đảo ngớ ngẩn này?

Dù sao, điều mà tôi quyết định phải làm là chạy càng nhanh càng tốt trở lại bãi biển, tìm Beth, lên con thuyền Whaler, lên tàu Christ-Craft, và biến đi thật nhanh khỏi Đảo Plum, hy vọng điều tốt nhất sẽ đến. Ít nhất chúng tôi sẽ có một cơ hội, và Thần Chết sẽ định đoạt số phận của Tobin cho tôi.

Một ý nghĩ khác thoáng qua trong đầu, nhưng đó không phải là ý nghĩ hay ho - điều gì sẽ xảy ra nếu Beth sau khi nhận ra tiếng còi báo động phát đi tín hiệu gì đã dùng chiếc thuyền Whaler để ra tới tàu Christ- Craft và rời khỏi đảo? Tôi cân nhắc một chút, rồi quả quyết rằng một người phụ nữ dám nhảy lên một con tàu nhỏ trong bão để đi cùng tôi thì sẽ không thể bỏ tôi trong lúc này. Nhưng... bệnh dịch còn có thứ gì đó đáng sợ hơn cả biển khơi trong bão tố.

Trong lúc chạy hối hả xuống con đường dốc về phía chiếc xe cứu thương, tôi chợt nhận ra mấy điều: thứ nhất, tôi đã đi quá xa và không thể bỏ chạy kịp; thứ hai, tôi không muốn biết điều mà Beth đã quyết định; thứ ba, tôi phải tìm ra Fredric Tobin và giết hắn; thứ tư, đằng nào thì tôi cũng là người chết. Chợt cảm thấy xấu hổ vì đã để mất đi sự tỉnh táo, tôi quay lại về phía khu công sự để đối mặt với số phận. Tiếng còi vẫn tiếp tục hú.

Khi lên tới đỉnh của con đường, tôi chợt thấy một chớp sáng - đúng hơn là một luồng sáng, quét qua đường chân trời phía bên phải khoảng một giây rồi vụt tắt.

Tôi tìm kiếm trong khu vục xung quanh con đường và phát hiện ra một lối đi hẹp bằng gạch xuyên qua những đám cây. Có ai đó đã đi qua đây không lâu. Tôi tìm cách vượt qua những bụi cây và cành gãy rơi trên lối đi. Cuối cùng, tôi đến một chỗ giống như cái sân trũng xuống, xung quanh là những bức tường bê tông với những cánh cửa sắt dẫn vào các kho chứa đạn dưới lòng đất. Ở trên đỉnh của những ngọn gò chạy vòng quanh, tôi có thể nhìn thấy những ụ pháo bằng bê tông. Tôi nhớ ra đã đứng trên đỉnh của những ụ pháo này khi đến đây lần trước và nhìn xuống cái sân này.

Vẫn đứng khom người trong những bụi cây, tôi dòm qua phần sân của những ụ bê tông đã rạn nứt, nhưng không thấy động tĩnh gì và cũng không thấy ánh đèn khi nãy.

Tôi rút súng và di chuyển thận trọng vào trong sân, đi vòng ngược chiều kim đồng hồ xung quanh sao cho bức tường bê tông phủ đầy cây địa y luôn ở sau lưng.

Tôi tới chỗ chiếc cửa lớn đầu tiên có hai cánh bằng thép. Cửa đóng. Nhìn vào bản lề, tôi biết hai cánh cửa mở ra phía ngoài. Thấy gạch vụn và mảnh vỡ nằm lăn lóc phía trước, tôi biết lâu nay không có ai mở cửa ra.

Tôi tiếp tục đi vòng theo đường cung của chiếc sân và nhận ra rằng tôi là một con vịt ngồi, một con vịt chết, một con vịt luộc, nếu có ai đó đứng ở trên bờ công sự quan sát xuống khoảng trống này. Tôi tới chiếc cửa thứ hai và thấy cũng như chiếc cửa đầu tiên - những cánh cửa cũ bằng sắt đã hoen gỉ có vẻ như chưa từng được mở cả mấy chục năm nay.

Đến bức tường thứ ba trên sân nằm ở hướng nam, một trong những chiếc cửa hai cánh lại khép hờ. Những mẩu gạch đá vụn đã bị gạt sang bên khi cánh cửa mở ra trước đó. Tôi nhìn qua khe hở chừng mươi phân nhưng không nhìn hay nghe thấy thứ gì.

Tôi kéo cánh cửa về phía ngoài thêm một chút và tiếng bản lề kêu két két rất to. Chết tiệt. Tôi đứng im và dỏng tai nghe ngóng, nhưng chẳng có gì ngoài âm thanh của gió và mưa. Tiếng rít từ xa vọng lại của còi báo động đang nói với mọi người rằng điều không thể tưởng tượng được đã xảy ra.

Tôi hít một hơi thở sâu và lách người qua khe cửa.

Tôi đứng thật im lặng khoảng hơn một phút và cố huy động mọi giác quan để xem chỗ này là thế nào. Một lần nữa, cũng giống như khi ở trong trạm cứu hỏa, tránh được mưa đã là tốt lắm rồi. Tôi chắc rằng đó là điều tốt cuối cùng ở nơi này.

Nơi này có cảm giác ẩm ướt, mùi ẩm ướt, như một nơi không có ánh sáng, chưa bao giờ.

Tôi bước nhẹ nhàng sang bên trái với sải chân dài và chạm vào một bức tường. Tôi sờ soạng. Bức tường bằng bê tông và cong. Tôi bước bốn bước theo hướng ngược lại và cũng gặp một bức tường bê tông cong. Tôi đoán rằng mình đang ở trong một đường hầm giống như chúng tôi đã gặp trong chuyến đi lần đầu tiên tới đây - đường hầm dẫn tới chỗ ở của những người ngoài hành tinh Roswell và phòng thí nghiệm các bác sĩ Đức quốc xã.

Nhưng tôi không có thời gian cho các vị Đức quốc xã, cũng không quan tâm đến người ngoài hành tinh. Tôi phải quyết định xem đây có phải là chỗ Tobin đã đi không. Và nếu đúng, phải chăng hắn tới vì kho báu? Hay hắn đã biết tôi ở đâu và dẫn tôi vào cái bẫy này? Tôi không thực sự cần biết hắn muốn làm gì nếu hắn đã ở đây.

Tôi không nhìn thấy ánh đèn pin phía trước, chỉ có bóng tối dày đặc bao quanh dưới lòng đất này. Mắt người không thể nào quen được với bóng tối này, vì thế nếu Tobin có ở đây, hắn sẽ phải bật đèn pin lên để tìm tôi và lấy đường bắn. Và nếu hắn làm thế, tôi sẽ bắn thẳng vào hướng ánh đèn. Sẽ không có phát bắn thứ hai trong tình huống như thế này.

Chiếc áo mưa choàng và đôi ủng cao su phát ra tiếng động khi di chuyển, vì thế tôi bỏ cả hai thứ ra cùng với chiếc áo phao. Giờ trên người tôi là một bao súng đeo vai bằng da rất hợp mốt, quần bò, không đồ lót, một con dao găm cài ở thắt lưng, và đôi tất len của người chết. Tôi bắt đầu đi dò dẫm trong bóng tối đen kịt, chân nhấc cao để tránh những miếng gạch đá vỡ hay bất cứ thứ gì. Tôi nghĩ đến dơi, chuột, bọ và rắn, nhưng tôi đẩy những ý nghĩ ấy ra khỏi đầu; những loài ấy không phải thứ đáng sợ với tôi. Thứ đáng sợ là vi khuẩn bệnh than trong không khí phía sau, và một gã tâm thần với một khẩu súng trong bóng tối đâu đó phía trước.

Đức mẹ Ma-ri... Tôi xưa nay lúc nào cũng một lòng sùng đạo, rất thành kính. Chỉ là tôi không nói hoặc nghĩ nhiều về nó khi mọi chuyện diễn ra suôn sẻ. Ý tôi là, khi tôi đang nằm trên đường thoát nước, máu chảy xối xả chờ chết, tôi gọi tên Chúa không phải vì tôi đang trong cơn hoạn nạn. Chỉ là vì đó có lẽ là lúc và là nơi thích hợp để cầu nguyện, khi dường như không còn thứ gì khác đang diễn ra xung quanh... Người sinh ra Chúa...

Chân phải tôi giẫm lên thứ gì đó trơn tuột và suýt mất thăng bằng. Tôi khom người xuống và dò dẫm xung quanh chân. Tay tôi chạm vào một vật kim loại lạnh ngắt. Tôi thử lay nhưng nó không hề nhúc nhích. Tôi sờ với sang bên kia và cuối cùng nhận ra đó là đường ray gắn trên nền bê tông. Tôi nhớ Stevens đã nói rằng có một đường ray hẹp trên đảo này để vận chuyển đạn dược từ tàu thuyền trong vũng đậu vào các công sự pháo. Hẳn đây là đường ray ngầm dẫn đến kho đạn.

Tôi tiếp tục đi, chân bám theo đường ray. Sau khoảng vài phút, tôi rờ thấy đường ray rẽ sang phải, rồi cảm thấy thứ gì đó thô nhám. Tôi quỳ xuống và sờ xung quanh. Chỗ này có một cái ghi, đường ray chia làm hai nhánh sang phải và trái. Ngay lúc tôi nghĩ là Tobin và tôi đã đến gần cuối đường hầm thì lại có cái ngã ba chết tiệt này. Tôi vẫn quỳ và căng măt nhìn vào bóng tối ở cả hai hướng, nhưng không thể nhìn thấy hay nghe thấy thứ gì. Tôi chợt nghĩ nếu Tobin tưởng hắn chỉ có một mình thì hắn đã bật đèn lên, hoặc ít nhất hắn sẽ bước đi những bước nặng nề gây ra tiếng động. Vì không thể nhìn hay nghe thấy hắn, tôi đã có một trong những suy đoán quan trọng nhất của mình, rằng hắn biết hắn không chỉ có một mình. Hoặc có thể hắn đang ở quá xa phía trước tôi. Hoặc có thể hắn còn không có ở đây... hãy che chở cho những kẻ tội lỗi chúng con.

Tôi nghe thấy tiếng động ở bên phải, giống như tiếng một mảnh bê tông hoặc một viên đá rơi chạm mặt sàn. Tôi lắng nghe kỹ hơn và thấy hình như là tiếng nước. Tôi chợt nghĩ đường hầm này có thể có những lỗ thông và với trời mưa... giờ này, vào thời khắc...

Tôi đứng lên và bước sang hướng bên phải theo đường ray. Tiếng nước rơi nghe to hơn, không khí dễ chịu hơn.

Vài phút sau, tôi có cảm giác rằng đường hầm đã kết thúc và tôi đang ở một trong một không gian rộng lớn hơn - kho chứa đạn. Mắt tôi bị hút lên phía trên và tôi nhìn thấy một khoảng trời nhỏ tối ở trên đầu. Nước mưa rơi qua chiếc lỗ xuống mặt sàn. Tôi nhìn thấy cái gì đó giống như dàn giáo bắc cao lên chiếc lỗ, và tôi nhận ra đó là chiếc thang máy của kho đạn nơi các quả đạn pháo được tời lên tới các ụ súng bên trên. Đây đã là cuối đường hầm, và tôi biết Tobin đang ở đây, hắn đang chờ tôi... cái chết của chúng con. Amen.

❀ ❀ ❀

[1] Biệt hiệu của những kẻ giết người hàng loạt, ở đây là Tobin - ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.