Những tia nắng của buổi sáng chiếu qua cửa sổ phòng ngủ của tôi trên tầng hai. Tôi hạnh phúc thấy mình còn sống, hạnh phúc khi biết rằng hình ảnh con lợn nhầy nhụa máu nằm chết trên gối bên cạnh tôi chỉ là một cơn ác mộng. Tôi lắng nghe tiếng chim bên ngoài để biết rằng mình không phải là sinh vật duy nhất còn sống trái đất này. Một con mòng biển cất tiếng quàng quạc đâu đó trên vịnh. Những con ngỗng Canada đang inh ỏi trên đám cỏ ngoài nhà. Một tiếng chó sủa từ xa xa vẳng lại. Cho đến lúc này, mọi việc vẫn tốt đẹp.
Tôi dậy tắm rửa, cạo râu, làm thủ tục buổi sáng và pha một cốc cà phê loại bột khô để lạnh bằng chiếc lò vi sóng ở trong bếp.
Tôi đã suy nghĩ cả đêm, hay nói theo cách của người trong nghề là dùng suy luận logic. Tôi cũng đã gọi lại cho cậu Harry, bố mẹ và các em tôi, Dom Fanelli, nhưng không gọi cho báo New York Times và Max. Tôi nói với họ là người trên ti vi không phải là tôi, và tôi cũng không xem các bản tin đó. Tôi nói rằng đêm qua tôi xem chương trình Bóng Đá Tối Thứ Hai ở quán Olde Towne Taveme - việc đáng ra tôi nên làm - và có nhiều người làm chứng cho tôi. Mọi người đều tin cả. Tôi hy vọng là sỹ quan chỉ huy của tôi, trung úy điều tra viên Wolfe đã nói lúc trước, cũng sẽ tin.
Tôi cũng nói với cậu Harry là bà Margaret Wiley thích ông lắm, nhưng ông có vẻ không hào hứng, ông cho tôi biết, “Dickie Johnson và cậu sinh cùng nhau, lớn lên cùng nhau, có cùng nhiều phụ nữ, rồi cùng già đi, nhưng ông ấy mất trước cậu.”
Thất vọng làm sao. Tôi gọi cho Dom Fanelli, nhưng anh đi vắng nên tôi nhắn lại cho vợ anh là Mary. Trước đây Mary thân với tôi cho đến khi tôi lấy vợ, nhưng cô với vợ tôi không ưa nhau chút nào. Chuyện tôi ly hôn rồi cả việc tôi bị bắn đều không khiến chúng tôi trở lại làm bạn như ngày trước. Thật khó hiểu. Ý tôi là, với các bà vợ của đồng sự. Cùng lắm thì đó cũng chỉ là một mối quan hệ không bình thường. Tôi nói với Mary, “Bảo Dom là không phải tôi trên ti vi đâu. Có nhiều người cũng nhầm như thế.”
“Vâng.”
“Nếu tôi có chết thì là do CIA. Bảo cậu ấy thế.”
“Vâng.”
“Trên Đảo Plum có thể có người muốn giết tôi. Bảo cậu ấy thế.”
“Vâng.”
“Bảo cậu ấy nói chuyện với Sylvester Maxwell, cảnh sát trưởng ở đây, nếu tôi chết.”
“Vâng.”
“Bọn trẻ thế nào?”
“Vâng.”
“Vừa phải chạy. Phổi tôi sắp hỏng rồi.” Tôi gác máy.
Ít nhất tôi đã nói cho người khác biết, và nếu các cơ quan liên bang có nghe trộm điện thoại thì cũng tốt cho họ khi biết tôi nói với người khác rằng tôi nghĩ là CIA đang muốn giết tôi.
Tất nhiên, tôi không thực sự nghĩ như vậy. Ted Nash về mặt cá nhân muốn giết tôi, nhưng tôi không cho là CIA lại đồng ý để gã giết một người chỉ vì người đó thích mỉa mai châm chọc. Tuy nhiên, vấn đề là nếu vụ này có liên quan đến Đảo Plum một cách hệ trọng, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thấy có thêm vài thi thể nữa được phát hiện.
Đêm qua, trong lúc gọi điện, tôi kiểm tra lại súng đạn bằng đèn pin và kính lúp. Mọi thứ trông vẫn ổn. Đa nghi cũng là trò vui nếu nó không làm mất quá nhiều thời giờ và không khiến ta đi chệch hướng. Ý tôi là, nếu bạn có một ngày bình thường như bao ngày khác, bạn có thể tưởng tượng là ai đó đang muốn giết bạn, hoặc hại bạn, và bạn chơi những trò như dùng nút khởi động xe từ xa, tưởng tượng ra có người đang nghe trộm điện thoại, có người “luộc” súng của bạn. Một số người điên khùng tưởng tượng ra những người bạn bảo mình phải giết người. Có những người điên rồ lại tưởng tượng ra kẻ thù đang muốn giết mình. Tôi cho là loại người thứ hai còn đỡ điên hơn và hữu ích hơn nhiều.
Phần thời gian còn lại của đêm qua, tôi xem lại đám giấy tờ tài chính của vợ chồng Gordon một lần nữa. Là việc này hoặc xem chương trình của Jay Leno[1].
Tôi xem kỹ khoảng thời gian tháng Năm và tháng Sáu của năm trước xem vợ chồng Gordon chi tiêu thế nào cho chuyển đi nghỉ một tuần ở Anh sau chuyến công cán. Tôi nhận ra thẻ Visa của họ vào tháng Sáu dùng nhiều hơn một chút so với bình thường và cả thẻ Amex cũng vậy. Một chỗ vấp nhỏ trên con đường bằng phẳng. Ngoài ra, hóa đơn điện thoại của họ vào tháng Sáu vừa rồi cao hơn bình thường khoảng một trăm đô la, có lẽ là do những cú gọi đường dài trong tháng Năm. Tôi buộc phải đoán là họ có mang theo tiền mặt hoặc séc du lịch, nhưng không thấy có đợt rút tiền mặt không bình thường nào. Đây là dấu hiệu đầu tiên và duy nhất cho thấy rằng vợ chồng Gordon còn có nguồn tiền mặt khác. Những người có thu nhập bất hợp pháp thường mua hàng nghìn đô la séc du lịch, ra nước ngoài và tiêu pha xả láng. Hoặc có thể vợ chồng Gordon biết cách sống ở Anh chỉ với hai mươi đô la mỗi ngày.
Dù vụ này có như thế nào thì với những giấy tờ tài chính này, họ về cơ bản là rất minh bạch trong chi tiêu, như chúng ta vẫn nói. Dù họ có dính đến chuyện gì đi nữa thì họ cũng đã che giấu rất kín, hoặc là nó không dẫn đến những khoản chi phí lớn hay những món đặt cọc khổng lồ. Ít nhất là không có trong đống giấy tờ này. Vợ chồng Gordon là những người rất thông minh, tôi tự nhắc mình. Và họ là những nhà khoa học, nên họ thận trọng, kiên nhẫn và rất tỉ mỉ.
Lúc này là tám giờ sáng thứ Tư, tôi đang nhấp nháp ly cà phê dở ẹc thứ hai và lục tủ lạnh xem còn thứ gì để ăn. Rau diếp và mù tạc? Không. Bơ và cà rốt? Cái này được.
Tôi đứng bên cửa sổ bếp với món cà rốt và lọ bơ, suy nghĩ, nghiền ngẫm, nhai nhẩm. Tôi chờ điện thoại để chuông, chờ Beth gọi nhắc lại cuộc hẹn lúc năm giờ sáng, nhưng mọi thứ trong căn bếp vẫn im ắng chỉ trừ chiếc đồng hồ.
Sáng nay tôi ăn mặc bảnh hơn với chiếc quần màu mâu vàng, áo sơ mi kẻ sọc. Một chiếc áo khoác màu xanh treo trên thành ghế. Khẩu 38 để dưới mắt cá chân. Tấm phù hiệu cảnh sát - với giá trị của nó ở nơi đây - nằm trong áo khoác. Và lạc quan làm sao, tôi còn để một chiếc bao cao su trong ví. Tôi sẵn sàng cho cả chiến trường và tình trường, hay bất cứ thứ gì có thể đến với tôi trong ngày.
Cầm miếng cà rốt trong tay, tôi bước xuống chỗ bãi cỏ dốc ra vịnh. Một làn sương nhẹ lơ lửng trên mặt nước. Tôi ra đầu cầu tàu, chỗ này cần phải sửa sang lại. Tôi nhìn nơi mình bước đi. Tôi nhớ lần vợ chồng Gordon buộc tàu vào chiếc cầu tàu này - đó là khoảng giữa tháng Sáu, chỉ một tuần sau lần đầu tiên tôi gặp họ trong quầy bar của nhà hàng Claudio ở Greenport.
Lần đó khi họ đến, tôi đang ở tư thế dưỡng thương truyền thống ở hiên nhà phía sau, uống bia bồi bổ, quan sát ngoài vịnh bằng ống nhòm và thấy họ.
Trở lại lần gặp ở nhà hàng Claudio một tuần trước đó, họ bảo tôi tả bề ngoài ngôi nhà nhìn từ dưới nước và họ đã tìm được.
Tôi nhớ khi đi xuống dưới cầu tàu để đón họ, và họ mời tôi đi dạo một vòng bằng tàu. Chúng tôi chạy lòng vòng quanh những con vịnh nằm giữa North Folk và South Folk — vịnh Great Peconic và Little Peconic, vịnh Noyack và Southold, rồi tới vịnh Gardiners, sau đó là Orient Point. Có một chỗ, Tom mở hết tốc lực của tàu và tôi tưởng chúng tôi sắp bay lên không. Con tàu hướng mũi lên trời và tưởng chừng sắp vượt qua tốc độ âm thanh. Đó cũng là lần mà vợ chồng Gordon chỉ cho tôi Đảo Plum. Tom nói, “Đó là nơi vợ chồng em làm việc.”
Judy thêm vào, “Để chúng em xem có thể lấy cho anh một chiếc thẻ khách không. Cái này hay thật đấy.”
Và đúng là nó hay ho thật.
Cũng chính vào hôm đó chúng tôi gặp phải gió và các luồng hải lưu ở eo biển Ruột Plum, tôi tưởng mình sắp nôn thốc cả ruột ra ngoài, không biết có phải vì thế mà nó có tên như vậy không.
Tôi nhớ chúng tôi đã có cả một ngày trên biển và trở về đây khi đã mệt nhoài, người cháy nắng, cạn khô nước và đói. Tom kiếm bánh pizza ăn, còn Judy và tôi uống bia ngoài hiên sau nhà và ngắm nhìn mặt trời lặn.
Tôi không nghĩ mình là người thật sự dễ mến, nhưng vợ chồng Gordon làm mọi thứ để trở thành bạn của tôi, và tôi không hiểu tại sao. Lúc đầu tôi không cần hay muốn có bạn. Nhưng Tom khéo léo và hóm hỉnh, còn Judy lại đẹp. Cô ấy còn thông minh nữa.
Đôi khi có những điều tưởng chừng vô nghĩa khi chúng đang diễn ra, nhưng sau một thời gian hay sau một sự cố nào đó, ý nghĩa của những việc làm, những câu nói lại trở nên rõ ràng. Phải vậy không?
Vợ chồng Gordon có thể đã biết rằng họ đang gặp nguy hiểm. Họ đã làm quen với cảnh sát trưởng Maxwell, và họ muốn một hay một số người nào đó biết là họ thân với cảnh sát trưởng. Tiếp theo, họ dành thời gian khá nhiều để làm thân với bạn, và một lần nữa, tôi nghĩ điều này có thể là một cách để thể hiện với ai đó rằng Tom và Judy có đi lại với cớm. Có thể Max hoặc tôi sẽ nhận được một bức thư nếu có chuyện gì đó xảy ra với vợ chồng Gordon, nhưng tôi không nôn nóng.
Còn nữa, về những điều làm tôi suy nghĩ khi nhớ lại, cũng vào cái đêm tháng Sáu đó, trước khi Tom trở về với món bánh pizza, Judy đã đổ ba chai bia vào cái dạ dày rỗng của tôi và hỏi tôi về căn nhà của cậu Harry, “Một chỗ như thế này thì giá khoảng bao nhiêu?”
“Tôi đoán là khoảng bốn trăm nghìn, có thể hơn. Sao cơ?”
“Em hỏi thế thôi. Cậu anh có định bán không?”
“Ông ấy bảo bán cho tôi thấp hơn giá thị trường, nhưng tôi phải thế nợ đến hai trăm năm.”
Câu chuyện đến đó là kết thúc. Nhưng khi ai đó hỏi chúng ta một ngôi nhà, một chiếc xe hay một con tàu giá bao nhiêu, rồi hỏi chủ có định bán không, chắc chắn họ là người tọc mạch hoặc là dân buôn. Vợ chồng Gordon thì không phải hạng người tọc mạch. Giờ, tất nhiên, tôi nghĩ là họ mong sẽ nhanh chóng trở nên giàu có. Nhưng nếu họ giàu lên nhờ một phi vụ bất hợp pháp thì rất khó có chuyện họ vung tiền khắp nơi và mua những căn nhà bốn trăm nghìn đô la sát bờ biển. Vì vậy, số tiền mà họ mong đợi phải là hợp pháp hoặc có lớp vỏ che đậy hợp pháp. Vác xin ư? Có thể.
Và rồi có điều gì đó không ổn, những bộ óc thông minh kia bị bắn nát rơi trên sàn gỗ, giống như ai đó đánh rơi một túi hai cân thịt bò xay gần chiếc lò nướng để ngoài trời.
Tôi nhớ vào cái đêm tháng Sáu đó Tom đã nói rằng tôi nghĩ chúng tôi đã gặp nguy hiểm ngoài biển. Tom đã chuyển từ bia sang rượu và lúc này hơi chếnh choáng. Anh nói với tôi một câu triết lý đúng là của dân kỹ thuật, “Một con tàu ở trong cảng là con tàu an toàn. Nhưng đó không phải là điều mà những con tàu sinh ra để làm.”
Thực sự là không, nói theo cách ẩn dụ. Tôi chợt nghĩ những người chơi với virut Ebola hay những thứ chết người khác phải là những người dám chịu rủi ro, vì công việc của họ là vậy. Họ đã chiến thắng lâu như vậy trong trò chơi vi trùng đến mức họ bắt đầu nghĩ rằng mình đã bị mê hoặc. Họ quyết định bước vào một trò chơi nguy hiểm khác, nhưng là trò chơi mang lại nhiều tiền bạc hơn. Tuy nhiên, họ như cá trên cạn, nhưng người thợ lặn đi leo núi hay ngược lại, tốn rất nhiều công sức nhưng không một chút thành quả nào.
Trở lại với buổi sáng thứ tư của tháng Chín, lúc này khoảng chín giờ. Tom và Judy Gordon, hai người đã cùng đứng trên chiếc câu tàu này với tôi giờ đã chết. Trái bóng đang trên phần sân của tôi, nếu ví von theo cách khác.
Tôi quay trở lại và bước về phía ngôi nhà, người như được tiếp thêm sức nhờ không khí buổi sáng và món cà rốt, tinh thần được thôi thúc bằng những kí ức về hai người bạn tốt. Đầu óc tôi trở nên minh mẫn, những thất vọng và lo lắng của ngày hôm qua đã được trả về đúng nơi của nó. Tôi đã được nghỉ ngơi và giờ nóng lòng vào cuộc. Để đá đít.
Tôi vẫn còn một điểm nữa dường như chưa tìm được mối liên hệ, điểm cần phải đặt đúng chỗ trên màn hình radar: Fredric Tobin, ông chủ rượu vang.
Nhưng trước tiên, nghĩ rằng ai đó có thể gọi điện trong lúc tôi đang ở ngoài cầu tàu, tôi kiểm tra máy trả lời tự động, nhưng không thấy có tin nhắn nào. “Đồ chết tiệt.” Thôi đi, John.
Khó chịu hơn là bị tổn thương, tôi rời nhà. Tôi mặc chiếc áo khoác Mr. Ralph Lauren, áo sơ mi Mr. Tommy Hilfiger, quần lót Mr. Eddie Bauer, quần soóc đấm bốc của Mr. Perry Ellis, thoa kem mặt Mr. Karl Lagerfeld, mang súng ổ quay Messrs. Smith & Wesson.
Tôi nổ máy bằng điều khiển từ xa và trèo lên xe.
“Bonjour[2], Jeep.”
Tôi chạy lên đường Main Road và rẽ sang hướng đông về phía mặt trời đang lên. Đường Main Road là đường nông thôn, nhưng đã trở thành những con phố chính của nhiều ngôi làng. Giữa các khu dân cư là những ngôi nhà kho và nhà trang trại, những vườn ươm, những quầy bán hàng nông sản, một vài nhà hàng đơn giản, những cửa hàng bán đồ cũ, những nhà thờ gỗ rất đẹp kiểu New England.
Tuy nhiên, có một thứ đã thay đổi so với thời tôi còn bé là con đường Main Road giờ có thể tự hào về hơn hai chục xưởng rượu vang. Không tính đến vị trí của các vườn nho, hầu hết các xưởng rượu đều lập trụ sở trên đường Main Road để câu khách du lịch. Có những tua du lịch rượu vang, những lễ hội nếm rượu, sau đó là một chuyến thăm không thể tránh khỏi tới cửa hàng đồ lưu niệm, nơi du khách thấy có nghĩa vụ phải mua thứ rượu vang hảo hạng của địa phương cùng với những cuốn lịch, sách dạy nấu ăn, đồ mở nút, khay bưng rượu và đủ những thứ linh tinh khác.
Hầu hết các khu nhà xưởng sản xuất rượu vang đều là nhà trang trại hoặc nhà kho cải tạo thành, một số là những tổ hợp lớn xây mới kết hợp giữa những cơ sở sản xuất với cửa hàng, nhà hàng, vườn rượu, vân vân. Đường Main Road thực ra không phải là Rue de Soleil, North Folk không phải là Côte de Rhone, nhưng không khí ở đây dễ chịu, dường như là sự giao hòa giữa Cape Cod [3] và Thung lũng Napa[4].
Bản thân rượu vang thì không có gì tệ, người ta nói với tôi thế. Một số loại còn khá ngon, tôi được nghe thế. Một số còn giành chiến thắng tại các cuộc thi toàn quốc và quốc tế, cũng thấy nói thế. Còn với tôi, tôi chọn một chai Bud.
Trong thôn có tên là Peconic, tôi cho xe vào một bãi đỗ lớn trải sỏi với tấm biển gỗ đề, “Vườn nho Fredric Tobin.” Tấm biển bằng sơn mài màu đen, các chữ cái được khắc vào gỗ và sơn màu vàng. Những đường hoa văn khó hiểu sơn nhiều thứ màu đan chéo nhau trên nền đen mà tôi sẽ tưởng là do ai đó cố ý phá hoại nếu chưa thấy những đường vẽ tương tự trên các mác rượu vang Tobin trong mấy kho và trên các vỏ chai vang khi ngôi trên sân sau ở nhà Tom và Judy, về những đường vẽ trên tấm biển của ông Tobin, tôi kết luận đó là nghệ thuật. Càng ngày càng khó phân biệt giữa một tác phẩm nghệ thuật với một hành vi phá hoại.
Tôi bước ra khỏi chiếc xe thể thao đắt tiền của mình và nhận ra có cả chục cái khác giống của tôi. Có thể đây là nơi chúng sinh ra. Hay những chiếc xe tự chọn này dành cho những gã dân thành thị và ngoại ô có cách nghĩ rằng ra khỏi đường có nghĩa là bãi đỗ xe? Nhưng tôi lạc đề mất rồi.
Tôi đi bộ về phía khu nhà Tobin. Đâu đâu cũng có mùi nho nghiền và lên men, cả triệu con ong bay quanh, khoảng một nửa số đó thích mùi kem thoa mặt Lagerfeld của tôi.
Tôi phải tả xưởng rượu của Tobin thế nào đây? Chỗ này giống như một lâu đài của Pháp được làm bằng ván gỗ tuyết tùng của Mỹ. Hiển nhiên là Tobin đã phải mất một phần gia tài nhỏ cho giấc mơ của mình.
Tôi đã từng đến đây và đã biết chỗ này. Ngay cả lúc chưa đi vào, tôi cũng biết là bên trong có một quầy lễ tân đón khách, ở bên trái là một cửa hàng lớn bán đồ lưu niệm và rượu vang.
Bên phải là một nơi sản xuất rượu vang thực sự, một tòa nhà hai tầng trải rộng với những chiếc thùng chứa to bằng đồng, những chiếc máy nghiền và các loại dụng cụ. Có lần tôi đã vào đây thăm có hướng dẫn viên đi theo và lắng nghe những lời ba hoa. Chưa bao giờ trong lịch sử loài người lại có nhiều thứ vớ vẩn được bịa ra như vậy về một thứ nhỏ bé là quả nho. Quả mận to hơn đấy. Đúng không? Người ta làm rượu vang mận đấy. Đúng không? Vậy cái thứ vớ vẩn về nho này thì sao?
Nổi bật lên trên khu nhà là một tháp trung tâm lớn, giống như nơi để quan sát và canh giữ gia súc, cao chừng mười lăm mét, bên trên có cắm một lá cờ. Không phải là quốc kỳ Mỹ, mà là một lá cờ đen với biểu tượng Tobin trên đó. Có người thích nhìn thấy tên mình ở xung quanh.
Tất cả tòa nhà được sơn màu trắng, vì thế nếu nhìn từ xa nó giống như những lâu đài bằng đá mà ta thường thấy trong các tờ quảng cáo du lịch. Freddie đã đầu tư một khoản lớn vào tòa nhà này, điều khiến tôi tự hỏi không biết chính xác có bao nhiêu tiền cho công việc ép nho này.
Xin tiếp tục với bức tranh về lâu đài Tobin: xa hơn nữa về bên trái là một nhà hang nhỏ mà phụ nữ và các nhà phê bình bao giờ cũng coi là đẹp. Tôi thì gọi đó là cầu kỳ và ngột ngạt. Nhưng không sao, nó không nằm trong danh sách những nơi tôi dự định sẽ đến nếu nhà hàng Olde Towne Taverne bị Hội đồng Y tế đóng cửa.
Nhà hàng này có một cái sân có mái che để cho những người ăn mặc đồ Eddie, Tommy, Ralph, Liz, Carolé và Perry có thể ngồi và thao thao về rượu vang, thứ mà thực ra chỉ là nước nho ép có cồn.
Liền phía sau nhà hàng xinh đẹp là một căn phòng lớn hơn, một nơi lý tưởng để tổ chức lễ cưới, lễ rửa tội, hay lễ trưởng thành của người Do Thái, theo tờ quảng cáo có chữ kí của Fredric Tobin, ông chủ ở đây.
Tôi đã từng ở trong căn phòng đó tại một trong những buổi dạ tiệc nếm rượu vang của Tobin hồi tháng Bảy. Bữa tiệc được tổ chức để mừng những mẻ rượu mới mà tôi đoán ông ta bày ra là có ý rằng rượu vang đã sẵn sàng để bán và để nốc vào. Tôi là khách của vợ chồng Gordon, hình như tôi đã có lần nhắc đến, và hôm đó có khoảng hai trăm người tham dự, toàn những hạng tinh hoa của dân North Folk - các chủ ngân hàng, luật sư, bác sỹ, thẩm phán, chính trị gia, một vài người từ Manhattan có chỗ nghỉ hè ở đây, những thương gia và nhà buôn bất động sản ăn nên làm ra, vv... Lẫn giữa những người có máu mặt ở địa phương là các họa sĩ, nhà điêu khắc và nhà văn nửa mùa, những người vì nhiều lí do vớ vẩn mà chưa hề thấy được cảnh Hampton qua con vịnh. Có thể là nhiều người trong số họ không kiếm đủ tiền để đến Hampton, nhưng họ sẽ nói với bạn rằng họ chân thực hơn trong nghệ thuật so với những đồng nghiệp ở Hampton. Ọe. Hôm đó Max cũng được mời nhưng không đến được. Tom và Judy cho biết họ là những người duy nhất của Đảo Plum có mặt hôm đó. Tom nói, “Các ông bà chủ nhà tránh người của Đảo Plum như tránh hủi.” Cả hai chúng tôi đều cười thầm. Lạ thật, tôi nhớ Tom. Cả Judy nữa. Cô ấy thật thông minh.
Tôi nhớ cái lần đi nếm nước nho ép ấy, Tom giới thiệu tôi với ông chủ Fredric Tobin, người mà mới thoáng trông có vẻ như hạng đi giày mềm, nếu các bạn hiểu ý tôi muốn nói gì. Tobin đóng bộ cánh điệu đà màu tía, áo sơ mi vải lụa trắng, chiếc cà vạt như thể để quảng cáo rượu vang và những chùm nho.
Tobin khá lịch sự, nhưng hơi lạnh nhạt với moa, điều luôn làm tôi khó chịu trong những bữa tiệc kiểu khoe của. Ý tôi là một điều tra viên án mạng vượt qua những ranh giới tầng lớp xã hội, và chủ nhà được một hai người như thế đến ba hoa chích chòe. Mọi người ai cũng thích nghe chuyện giết người. Nhưng Fredric đã như lảng mất trước khi tôi nói với ông ta điều tôi nghĩ về rượu vang.
Tôi nói với Tom và Judy rằng quý ông kia thậm chí không thèm ve vãn tôi. Tom và Judy cho tôi biết rằng Freddie (vì không ai dám gọi ông ta như thế ngay trước mặt) thực ra là người cuồng nhiệt với tình dục khác giới. Judy cho biết một số người nhầm cái vẻ duyên dáng và thanh lịch của Fredric với biểu hiện của người đồng tính. Điều này chưa bao giờ xảy ra với tôi.
Tôi được vợ chồng Gordon cho biết ngài Tobin ngọt ngào và tinh tế đã từng học nghề trồng nho ở Pháp và có mấy thứ bằng về nước nho ép.
Tom chỉ cho tôi một người phụ nữ trẻ đang là nhân tình nhân ngãi sống chung với Tobin. Trông cô nàng cực kỳ gợi cảm - hai mươi lăm tuổi, cao, tóc vàng hoe, mắt xanh, cơ thể trông như đúc ra từ khuôn bằng thạch, ồ, Freddie, đúng là mèo mù vớ cá rán. Thế nào mà tôi lại đánh giá sai ông chứ?
Cuộc gặp gỡ giữa tôi với ông chủ của những chú ong chỉ có vậy. Tôi hiểu tại sao Tom và Judy lại tìm ra thằng cha này - một trong những lí do là vợ chồng họ thích rượu vang và Tobin là chủ sản xuất ra một số loại hảo hạng. Nhưng trên hết còn có một loạt những quan hệ xã hội nhằng nhịt xung quanh chuyện rượu vang, chẳng hạn như bữa tiệc đó, rồi những bữa dạ tiệc riêng, những buổi hòa nhạc ngoài trời trong vườn nho, những buổi picnic phung phí trên bãi biển, vv... Vợ chồng Gordon dường như tham gia vào tất cả những trò này, một điều làm tôi ngạc nhiên, mặc dù họ không nịnh nọt gì Fredric Tobin hay tâng bốc hắn, nhưng hiển nhiên là họ có rất ít điểm chung với hắn về mặt xã hội, tài chính, nghề nghiệp hay điều gì khác. Vấn đề là tôi thấy có một chút không hợp với tính cách của Tom và Judy khi họ chơi với một gã như Fredric. Về cái tên của hắn, đây là một trường hợp bỏ bớt một chữ ‘e’ trong khi mọi người khác ở đây đều cố thêm chữ ‘e’ vào mọi thứ. Nói ngắn lại, Fredric Nho là một con lừa đần độn thích khoe của, và tôi thích ý nghĩ phải chọc giận hắn một bữa. Này nữa, hắn còn có râu, và có lẽ có một chiếc xe thể thao màu trắng.
Giờ tôi đang trong cửa hàng lưu niệm, tha thẩn xung quanh cố tìm thứ gì đó cho tình yêu đã mất của tôi, một thứ gì đó giống như cái mở nút chai ở tay cầm có dòng chữ “Tôi bị chơi ở North Folk.” Không có thứ đó, tôi tìm được một viên gạch lát chất liệu gốm sơn tay rất đẹp, bên trên có hình một con chim ưng đậu trên chiếc cọc. Đó là một con chim trông rất lạ, nhưng tôi thích viên gạch vì nó không có chút gì liên quan đến rượu vang.
Khi người bán hàng gói quà, tôi hỏi cô ta, “Ông Tobin có nhà không?” Cô gái trẻ hấp dẫn liếc tôi đáp, “Em không chắc.”
“Tôi nghĩ là tôi đã nhìn thấy xe của ông ấy. Xe thể thao màu trắng. Đúng không?”
“Có thể ông ấy ở đâu đây. Cái này hết mười đô chín mươi bảy xen cả thuế.”
Tôi trả mười đô chín mươi bảy xen cả thuế và lấy tiền trả lại cùng gói quà.
“Anh đã đi thăm nơi làm rượu chưa?” Cô nàng hỏi tôi.
“Chưa, nhưng tôi đã có lần xem làm bia.” Tôi lấy tấm phù hiệu trong áo khoác ra và chìa trước mặt cô nàng. “Sở cảnh sát, thưa cô. Điều tôi muốn cô làm là bấm bất kì cái nút nào trên điện thoại để liên lạc với phòng của ông Tobin và bảo ông ấy đến đây thật nhanh. Được chứ?”
Cô nàng gật đầu và làm theo tôi bảo. Cô ta nói trong điện thoại, “Marilyn đây, có một người cảnh sát ở đây muốn gặp ông Tobin.”
“Ngay lập tức.”
“Không được chậm trễ,” cô nàng dịch ra. “Được... được, tôi sẽ nói với ông ấy.” Cô ta bỏ máy và nói với tôi, “Ông ấy sẽ xuống ngay.”
“Ở trên nào xuống?”
Cô nàng chỉ lên một cánh cửa đóng trên bức tường phía xa và nói, “Chỗ đó dẫn lên các phòng trên tháp - phòng làm việc.”
“Đúng rồi. Cám ơn cô.” Tôi đi về phía cánh cửa và mở ra, bên trong là một phòng lớn, vách gỗ, kiểu như một hành lang rộng làm chân tháp. Một chiếc cửa dẫn lên các bể lên men, một cửa dẫn ra khu lễ tân mà tôi vừa đi vào. Một chiếc cửa khác ghép bằng kính dẫn ra ngoài, phía sau của xưởng rượu. Ngoài ra còn có cầu thang bộ dẫn lên các tầng trên, bên phải là một chiếc thang máy.
Cánh cửa thang máy mở và Tobin bước ra. Gã chỉ liếc qua tôi trong lúc đi vội ra chỗ cửa hàng. Tôi để ý thấy trên mặt gã có nét lo lắng. Tôi nói, “Ông Tobin?”
Gã quay về phía tôi, “Vâng?”
“Tôi là điều tra viên Courtney.” Đôi khi tôi phát âm sai cả tên mình.
“Ồ... Vâng, tôi có thể làm gì cho anh?”
“Tôi chỉ cần một chút thời gian của ngài.”
“Về chuyện gì cơ?”
“Tôi là điều tra viên án mạng.”
“Ồ... vợ chồng Gordon.”
“Vâng, thưa ngài.” Gã có vẻ không nhớ mặt tôi, mà mặt tôi thì vẫn như khi tôi gặp gã hồi tháng Bảy. Thật ra tên tôi có thay đổi đôi chút, nhưng tôi không muốn kích thích gã. Về địa vị của tôi, thẩm quyền của tôi và những điều liên quan đến thủ tục, đơn giản là tôi chưa nghe tin nhắn của Max trên máy. Tôi nói với gã, “Tôi được biết ngài là bạn của nạn nhân.”
“Ờ... chúng tôi có quen biết nhau.”
“Tôi hiểu.” về cái gã Fredric Tobin này, tôi thật sự thất vọng khi phải nói ràng gã ăn mặc cũng có phần giống tôi, quần áo và giầy đều là hàng hiệu. Gã không thắt cà vạt màu nho, nhưng lại đeo một chiếc nơ màu hoa cà trông rất ngớ ngẩn trên túi ngực áo khoác.
Tobin khoảng năm mươi tuổi, có thể trẻ hơn, chiều cao dưới trung bình, điều có lẽ giải thích cho tòa nhà kiểu Napoleon của gã. Người gã không gầy không béo, tóc nâu ngắn và không phải tất cả tóc đều là của gã, cùng với một bộ râu cắt tỉa gọn gàng. Gã có bộ răng cũng không hoàn toàn của mình màu trắng ngọc, nước da rám nắng. Nhìn tổng thể, gã là người ăn mặc trau chuốt, khéo mồm và biết tự chủ. Tuy nhiên, tất cả những thứ trang sức và quần áo kia không làm thay đổi được đôi mắt tối và nhỏ luôn chuyển động, như thể chúng được thả lỏng trong hốc mắt.
Tobin dùng loại kem thoa mặt mùi nhựa thông mà tôi đoán là không hấp dẫn bầy ong.
Gã hỏi tôi, “Có phải là anh muốn hỏi tôi điều gì đó?”
“Chỉ là một vài câu hỏi thông thường thôi.” Ấy quên, là những câu hỏi thông thường trong một vụ điều tra án mạng.
“Xin lỗi, tôi không... tôi hoàn toàn không biết gì về những điều xảy ra với vợ chồng Gordon.”
“Họ bị giết.”
“Tôi biết... ý tôi là”
“Tôi chỉ cần những thông tin cơ bản.”
“Có lẽ tôi nên mời luật sư của tôi đến.”
Tôi hơi nhướng mày vì câu này. Tôi nói, “Đó là quyền của ngài.” Tôi nói thêm, “Chúng ta có thể làm việc này ở sở cảnh sát với sự có mặt của luật sư của ngài. Hoặc có thể làm ngay tại đây trong khoảng mười phút.”
Gã dường như suy tính. “Tôi không biết... Tôi không quen với việc này.”
Tôi nói với thứ giọng nhã nhặn nhất của mình. “Ngài Tobin, ngài không phải là người bị tình nghi. Tôi chỉ phỏng vấn những người bạn của vợ chồng Gordon. Ngài biết đấy - chỉ là thông tin cơ bản.”
“Tôi hiểu. Ờ... nếu anh nghĩ tôi có thể giúp được gì, tôi rất vui lòng trả lời các câu hỏi của anh.”
“Vậy được rồi.” Tôi muốn kéo gã này ra xa chiếc điện thoại, nên tôi nói, “Này, tôi chưa bao giờ đi dưới một vườn nho. Chúng ta có thể đi không?”
“Tất nhiên là được. Thật ra tôi cũng định đi ra vườn nho lúc anh đến.”
“Vậy thì tiện cả đôi đường.”
Tôi đi theo gã qua chiếc cửa bằng kính ghép ra bên ngoài. Hai chiếc xe tải chất đầy nho đỗ gần đó.
Tobin cho tôi biết, “Chúng tôi bắt đầu thu hoạch nho cách đây hai ngày.”
“Vào thứ hai.”
“Vâng.”
“Đó hẳn là ngày đáng nhớ đối với ngài.”
“Đó là ngày chúng tôi mong đợi.”
“Hôm đó chắc ngài ở đây cả ngày nhỉ.”
“Tôi ở đây từ sớm.”
Tôi gật đầu. “Bội thu chứ?”
“Rất tốt, cho đến lúc này. Cảm ơn anh.”
Chúng tôi đi qua bãi cỏ phía sau tới vườn nho gần nhất giữa hai hàng nho chưa hái. Ở ngoài này mùi nho thật dễ chịu, còn lũ ong thì vẫn chưa biết tôi đến, ơn Chúa.
Tobin chỉ chiếc túi nhỏ tôi xách theo với biểu tượng xưởng của gã trên đó và hỏi, “Anh mua gì đấy?”
“Một viên gạch lát có vẽ hình cho bạn gái tôi.”
“Cụ thể?”
“Beth.”
“Ý tôi là viên gạch lát nào?”
“À, viên có hình con chim ưng.”
“Loại này đang thịnh hành trở lại.”
“Gạch lát vẽ hình ư?”
“Không. Chim ưng. Anh biết đấy-"
“Chúng rất kỳ lạ. Tôi đọc sách thấy nói rằng chúng chung thủy với bạn tình suốt đời. Ý tôi là có lẽ chúng không theo đạo Thiên chúa. Sao chúng lại chung tình suốt đời nhỉ?”
“Điều tra viên-”
“Nhưng tôi lại đọc một tài liệu nói khác về chúng. Con cái sẽ chung tình suốt đời nếu con đực trở về đúng tổ của nó. Ngài biết không, những người nghiên cứu đời sống hoang dã đã dựng những chiếc cột lớn có bục ở trên, và chúng xây tổ trên đó. Những con chim ưng ấy. Không phải những người nghiên cứu.”
“Điều tra viên-"
“Điều họ phát hiện ra là con cái không thật sự chỉ chung tình. Chúng gắn với cái tổ. Hàng năm chúng trở về đúng tổ cũ và giao phối với con đực đầu tiên xuất hiện. Giống như các quý bà, quý cô Southampton trong những ngôi nhà nghỉ hè của họ. Ngài hiểu chứ? Họ không bao giờ muốn bỏ ngôi nhà ở Hamton. Ý tôi là người đàn ông có thể chết, có thể biến mất hoặc không bao giờ xuất hiện. Nhưng đôi khi họ chỉ đến muộn vì lỡ tàu. Trong lúc đó, người đàn bà kia đang mây mưa với kẻ khác. Nhưng thôi, trở lại với chuyện chim ưng-"
“Xin lỗi. Điều tra viên... gì nhỉ-"
“Xin cứ gọi tôi là John.”
Gã liếc nhìn tôi, và tôi biết gã đang cố đánh giá xem tôi thuộc hạng người nào, nhưng vẫn chưa hiểu lắm. Dù sao, sau câu chuyện vòng vo của tôi, Tobin nghĩ rằng tôi thuộc loại khờ khạo và gã có phần nhẹ nhõm hơn. Gã nói với tôi, “Tôi bàng hoàng khi nghe tin đó.” Gã nói thêm, “Đó là một thảm kịch. Họ còn trẻ và đầy nhiệt huyết.”
Tôi không đáp.
“Anh có biết tang lễ dự định thế nào không?”
“Không, thưa ngài. Tôi nghĩ họ vẫn còn ở cơ quan giám định pháp y. Thi thể của họ giờ chắc vẫn còn từng mảnh, và sẽ được ghép lại sau. Giống như trò chơi ghép hình trừ trường hợp cơ quan giám định giữ lại các bộ phận nội tạng. Ý tôi là, ai mà biết được thi thể người ta bị mất nội tạng?”
Tobin không bình luận gì.
Chúng tôi bước đi trong im lặng qua những vườn nho. Đôi khi, nếu bạn không đặt ra câu hỏi thì người mà bạn đang phỏng vấn sẽ sốt ruột và bắt đầu huyên thuyên để lấp đi sự im lặng. Sau một vài phút, Tobin nói, “Họ có vẻ giống như người tốt.”
Tôi gật đầu.
Gã để một vài giây trôi qua rồi tiếp tục, “Họ không thể có một kẻ thù nào trên thế giới này. Nhưng có những điều lạ lùng trên Đảo Plum. Sự việc nghe có vẻ giống như một vụ trộm. Đó là điều mà tôi nghe thấy trên đài. Cảnh sát trưởng Maxwell nói đó là một vụ trộm. Nhưng một số cơ quan truyền thông đang tìm cách gắn vụ việc với Đảo Plum. Tôi nên gọi cho cảnh sát trưởng Maxwell. Anh ấy với tôi là chỗ bạn bè. Anh ấy có quen biết với vợ chồng Gordon.”
“Thật chứ? Ở đây dường như mọi người đều quen biết nhau cả.”
“Có lẽ thế. Đó là do địa lí. Chúng tôi ở đây ba bề là nước. Nó gần giống như một hòn đảo nhỏ. Mọi người đi lại gặp nhau luôn. Đó là lí do tại sao chuyện này gây hoang mang. Rất có thể là một người trong chúng tôi.”
“Ý ngài là kẻ giết người hay nạn nhân.”
“Ồ, một trong hai loại.” Tobin đáp. “Kẻ giết người có thể là một trong số chúng tôi, và nạn nhân có thể đã là ... Anh có nghĩ là tên giết người kia sẽ lại tấn công không?”
“Ồ, tôi hy vọng là không. Tôi đã đủ việc để làm rồi.”
Chúng tôi tiếp tục bước đi dọc theo những dãy nho thực sự dài, nhưng Tobin đã thôi huyên thuyên nên tôi hỏi gã, “Anh có thân lắm với vợ chồng Gordon không?”
“Chúng tôi chỉ quen biết xã giao. Họ bị lôi cuốn bởi sự mê hoặc và lãng mạn của nghề làm rượu vang.”
“Thật chứ?”
“Anh có thích rượu vang không?”
“Không. Tôi là dân uống bia. Thỉnh thoảng tôi có uống vốt ka. Này, ông thấy điều này thế nào?” Tôi thuyết phục gã bằng thứ vốt ka khoai tây thứ thiệt của Krumpinski, loại có hương vị tự nhiên. “Ngài nghĩ sao? Một nghề tương tự, đúng không? Ở đây chỗ nào cũng thấy trồng khoai tây. Cả phần đuôi của đảo Long Island này có thể tắm trong rượu. Một số người thấy mứt nho và khoai tây nghiền. Chúng ta thấy rượu vang và vốt ka. Ngài nghĩ sao?”
“Một ý tưởng hay.” Gã bứt một chùm nho trắng và cho một quả vào miệng. “Rất ngon. Rắn, ngọt, nhưng không quá ngọt. Mưa nắng vừa đủ. Năm nay là năm được mùa nho.”
“Tuyệt thật. Ngài gặp vợ chồng Gordon lần cuối khi nào?”
“Cách đây một tuần. Này, thử đi.” Gã đưa cho tôi mấy quả nho.
Tôi bỏ một quả vào miệng, cắn và nhằn bỏ vỏ. “Không tệ lắm.”
“Vỏ đã phun thuốc rồi. Anh phải bóp cho phần cùi vào miệng. Đây này.” Gã đưa cho tôi nửa chùm.
Chúng tôi đi cạnh nhau như những người bạn cũ, bóp cùi nho vào miệng - nhưng không phải cho vào miệng nhau. Chúng tôi chưa thân nhau đến thế. Tobin thao thao về thời tiết, về những cây nho và đủ thứ. Gã nói, “Ở đây có lượng mưa hàng năm vừa phải giống như ở Bordeaux.”
“Thật chứ?”
“Nhưng loại vang đỏ của chúng tôi không đặc như của Bordeaux. Vị của chúng tôi khác.”
“Tất nhiên rồi.”
“Ở Bordeaux, người ta để vỏ nho ngâm với rượu vang mới trong một thời gian dài sau khi lên men. Sau đó họ để rượu trong thùng khoảng hai hoặc ba năm. Việc này ở đây không làm được. Nho của chúng tôi và của Bordeaux cách nhau cả đại dương. Chúng đều là nho, nhưng khi phát triển lại có điểm riêng khác nhau. Cũng giống như chúng ta thôi.”
“Nhận xét hay đấy.”
“Chúng tôi cũng phải nhẹ nhàng hơn khi chắt lọc so với ở Bordeaux. Mấy năm đầu tôi mắc sai lầm.”
“Chúng ta ai cũng vậy thôi mà.”
“Ở đây việc bảo vệ nho cũng quan trọng hơn, ví dụ như so với xử lí vị tanin trong rượu. Chúng tôi không có tanin như ở Bordeaux.”
“Đó là lí do tôi tự hào là người Mỹ.”
“Khi sản xuất rượu, người ta không thể quá giáo điều hoặc quá lý thuyết. Anh phải phát hiện ra cái hợp lý và hiệu quả.”
“Nghề của tôi cũng vậy.”
“Nhưng chúng ta có thể học hỏi từ những bậc thầy cũ. Ở Bordeaux, tôi học được về sự quan trọng của tán lá nho.”
“Đó là nơi để học nghề này mà.” Câu chuyện không đến nỗi tệ như những bài học lịch sử, nhưng cũng không cách nhau là mấy. Tuy vậy, tôi vẫn để gã nói. Tôi cố nhịn cho khỏi ngáp.
Gã nói, “Tán lá giúp nhận được ánh nắng mặt trời ở vĩ độ bắc này. Ở miền nam nước Pháp, Italia hay ở California họ không gặp phải vấn đề này. Nhưng đây là Forth Folk, giống như ở Bordeaux, ta phải cân bằng giữa mức độ che phủ của lá với ánh sáng mặt trời lên trái nho.”
Và gã cứ tiếp tục thao thao bất tuyệt.
Thế nhưng tôi lại thấy mình hình như thích gã, dù ấn tượng ban đầu không mấy tốt đẹp. Tôi không có ý nói là chúng tôi sẽ trở thành bạn thân thiết, nhưng Fredric Tobin là người khá lịch lãm, mặc dù hơi có chút thái quá. Có thể nói gã thích việc mình làm, gã dường như lúc nào cũng ở nhà bên những cây nho. Tôi bắt đầu hiểu tại sao vợ chồng Gordon lại có thể thích gã.
Gã nói với tôi, “North Folk là một vùng tiểu khí hậu, khác với các khu vục xung quanh. Anh có biết là ở đây có nhiều ánh nắng mặt trời hơn ngay bên kia vịnh ở Hamptons không?”
“Ngài cứ đùa. Thế những người giàu có ở Hamptons có biết điều đó không?”
Gã tiếp tục, “Nhiều ánh nắng hơn ở bên kia biển Sound, phía Connecticut.”
“Thật chứ? Tại sao lại thế?”
“Nó liên quan đến các vùng biển và gió chính phong xung quanh đây. Vùng này có khí hậu biển. Connecticut có khí hậu lục địa. Ở bên đó mùa đông lạnh hơn khoảng mười độ, rất có hại cho cây nho.”
“Đến mà không nói gì.”
“Ngoài ra ở đây cũng không bao giờ quá nóng đến mức làm khô cây. Các vùng biển quanh đây có tác động làm khí hậu ôn hòa.”
“Ấm hơn, nhiều nắng hơn, chim ưng quay trở lại. Tuyệt thật.”
“Còn đất ở đây cũng đặc biệt. Đó là loại đất bang giàu dinh dưỡng và được làm khô bởi lớp đất cát bên dưới.”
“Này, khi tôi còn nhỏ, nếu ai đó nói với tôi ‘John, có ngày chỗ này sẽ thành vườn nho hết,’ ngài biết không, tôi sẽ cười vào mặt và đá vào mông.”
“Anh có thấy điều này thú vị không?”
“Rất thú vị.” Chán phèo.
Chúng tôi đi sang một dãy khác nơi một người thợ đang dùng máy hái nho. Những chùm nho bị tống vào chiếc máy kì cục kia. Chà. Không biết ai phát minh ra những thứ này.
Chúng tôi rẽ sang một dãy khác nơi có hai cô gái trẻ đầy gợi cảm mặc quần soóc và áo phông Tobin đang hái nho bằng tay. Những rổ nho đặt trong hàng cây. Ông chủ của những cây nho dừng lại và đùa cợt với họ. Hôm nay gã đang thắng, còn hai cô nàng cũng đáp lại rất hợp. Có lẽ gã phải bằng tuổi bố họ, nhưng con gái chỉ quan tâm đến tiền, đơn giản chỉ là tiền. Tôi phải dùng cả vẻ bề ngoài lẫn sự khôn ngoan mới đưa được họ lên giường, nhưng tôi biết có những tay nhà giàu nói những điều ít lịch lãm và thông minh hơn với các quý cô trẻ đẹp - những câu như “Cuối tuần này bay đến Paris bằng máy bay Concorde nhé.” Lần nào cũng ăn cả.
Sau chừng khoảng một phút, chúng tôi đi khỏi chỗ những người hái nho. Tobin nói với tôi, “Tôi chưa nghe bản tin sáng nay, nhưng một nhân viên của tôi nói cô ấy nghe trên đài rằng vợ chồng Gordon có thể đã đánh cắp một loại vác xin mới thần kỳ và định bán đi. Có vẻ như họ đã bị lừa và sát hại. Phải vậy không?”
“Đó dường như là điều đã xảy ra.”
“Không có mối nguy hiểm của một... một căn bệnh, hoặc một thứ dịch nào đó-"
“Hoàn toàn không.”
“Tốt. Đêm hôm trước có rất nhiều người lo lắng.”
“Giờ thì không phải lo gì nữa. Ngài ở đâu vào đêm hôm thứ hai.”
“Tôi ư? Ồ, tôi ăn tối với bạn bè. Trong nhà hàng của tôi, ngay đây, là sự thật.”
“Lúc mấy giờ?”
“Khoảng tám giờ. Lúc đó chúng tôi vẫn chưa nghe thấy tin tức gì.”
“Vậy trước đó ngài ở đâu? Khoảng năm giờ, năm giờ ba mươi?”
“Tôi ở nhà.”
“Một mình sao?”
“Tôi còn có người quản gia và bạn gái tôi.”
“Tốt rồi. Họ có nhớ ngài ở đâu lúc năm giờ ba mươi chứ?”
“Tất nhiên. Lúc đó tôi ở nhà.” Gã nói thêm, “Đó là ngày thu hoạch nho đầu tiên. Tôi đến đây từ sáng sớm. Đến khoảng bốn giờ thì tôi mệt quá và về nhà chợp mắt một chút. Sau đó tôi quay lại đây ăn tối. Một lễ mừng nhỏ cho mùa thu hoạch. Không ai biết được khi nào thì sẽ bắt đầu thu hoạch, nên bữa hôm đó không có kế hoạch trước. Trong khoảng một hai tuần nữa, chúng tôi sẽ có một bữa tiệc lớn mừng thu hoạch.”
“Cuộc sống thú vị thật.” Tôi hỏi, “Có ai trong bữa tối?”
“Bạn gái tôi, người quản lý, mấy người bạn...” Gã nhìn tôi nói, “Nghe có vẻ như một cuộc thẩm vấn.”
Nó là thẩm vấn đấy. Nhưng tôi không muốn khích động Tobin để gã gọi luật sư riêng hay gọi Max. Tôi nói với gã, “Đây chỉ là những câu hỏi thông thường, ngài Tobin ạ. Tôi đang muốn dựng lên một bức tranh về mọi người đang ở đâu vào tối thứ hai, quan hệ của mọi người với nạn nhân như thế nào. Đại loại như vậy. Khi chúng tôi có một kẻ tình nghi thì một số bạn bè và đồng nghiệp của vợ chồng Gordon có thể trở thành nhân chứng. Ngài hiểu chứ? Chúng tôi không biết cho đến khi chúng tôi biết.”
“Tôi hiểu.”
Tôi để gã thoải mái một lát và tiếp tục câu chuyện về cây nho. Gã khá dẻo mồm, nhưng giống như mọi người khác, gã hơi nhạy cảm về những chuyện với cảnh sát. Tôi hỏi gã, “Tuần trước ngài gặp vợ chồng Gordon khi nào và ở đâu?”
“Ồ... để tôi nhớ... Ăn tối ở nhà tôi. Tôi có mấy người nữa đến nhà.”
“Ngài có điều gì hấp dẫn vợ chồng Gordon?”
“Ý anh là gì?”
“Là điều tôi vừa nói.”
Gã đáp, “Tôi nghĩ là tôi đã nói rồi.”
“Vậy tại sao ngài thường mời họ tới nhà?”
“Ờ... thật ra, họ kể một số chuyện rất hấp dẫn về Đảo Plum. Khách khứa của tôi lúc nào cũng thích thú.” Gã nói thêm. “Còn vợ chồng Gordon thì kiếm được bữa tối.”
“Thật chứ?” Vợ chồng Gordon rất hiếm khi nói với tôi về công việc của họ.
“Ngoài ra,” gã nói, “họ còn là một cặp vợ chồng đặc biệt hấp dẫn.” Gã hỏi tôi, “Anh đã... ý tôi là, tôi đoán khi anh gặp họ... nhưng cô ấy là người đẹp hiếm có.”
“Đúng thế thật.” Tôi hỏi, “Ngài có tán tỉnh cô ấy không?”
“Gì cơ?”
“Ngài có quan hệ với cô Gordon không?”
“Chúa ơi, không.”
“Đã bao giờ ngài thử chưa?”
“Tất nhiên là không.”
“Ít nhất là ngài có nghĩ đến chuyện ấy chưa?”
Gã ngẫm nghĩ xem đã từng bao giờ nghĩ đến nó chưa, rồi nói, “Thỉnh thoảng. Nhưng tôi không phải là hạng chuyên chim vợ người khác. Tôi còn nhiều việc phải làm.”
“Thế hả?” Tôi đoán là sâm banh có tác dụng khi người ta sở hữu cả vườn nho, cả lâu đài, những bể chứa lên men và xưởng đóng chai. Không biết những gã chủ xưởng bia có lên giường nhiều như những ông chủ rượu vang không. Có lẽ là không. Ai mà hiểu được tại sao.
Tôi hỏi Tobin, “Ngài đã bao giờ đến nhà Gordon chưa?”
“Chưa. Tôi còn không biết là họ sống ở đâu.”
"Vậy làm sao để ngài mời họ?”
“Ồ... người phụ trách quan hệ công chúng của tôi làm việc đó. Nhưng giờ nghĩ đến thì tôi nhớ là họ sống... đã sống ở Nassau Point.”
“Đúng, thưa ngài. Bản tin có đưa cả rồi. Phát hiện hai người dân Nassau Point bị giết.”
“Vâng. Tôi nhớ họ có nói họ có một ngôi nhà ở sát biển.”
“Đúng như vậy. Họ thường xuyên đi làm tới Đảo Plum. Có lẽ họ đã nói cả chục lần trong các bữa tiệc cùng với những câu chuyện về Đảo Plum.”
“Vâng, họ có nói như vậy.”
Tôi để ý thấy Tobin có mấy giọt mồ hôi nơi chân tóc. Tôi phải nhớ trong đầu là những người vô tội nhất thường có mồ hôi khi họ bị tra tấn một cách biến tướng và văn minh. Ý tôi là ngày xưa người ta thường tra hỏi để lấy thông tin khiến người bị hỏi phải đổ mồ hôi hột - những chiếc đèn sáng chiếu vào mặt, những cuộc thẩm vấn liên tiếp, sự tra tấn với đủ mọi nghĩa. Ngày nay, chúng ta rất lịch thiệp, nhưng dù có lịch thiệp đến đâu thì nhiều người - cả vô tội lẫn có tội - đều không thích bị thẩm vấn.
Trời đang ấm dần lên và tôi cởi bỏ chiếc áo khoác rồi vắt qua vai. Khẩu S&M của tôi để dưới chân nên Tobin không thấy.
Lũ ong đã phát hiện ra tôi. Tôi nói, “Chúng có đốt không đấy?”
“Nếu chọc giận chúng thì chúng sẽ đốt.”
“Tôi có chọc giận chúng đâu. Tôi thích loài ong mà.”
“Đây là loại ong vàng. Mặc áo khoác vàng. Chắc anh dùng loại nước hoa mà chúng thích.”
“Nước hoa Lagerfeld.”
“Đó là một trong những loại chúng ưa thích.” Gã nói thêm, “Mặc kệ chúng.”
“Đúng. Vợ chồng Gordon có được mời ăn tối hôm thứ hai không?”
“Không, tôi thường không mời họ tới một bữa tiệc nhỏ không dự định trước... Bữa hôm thứ hai chỉ có mấy người bạn thân và những người trong nghề thôi.”
“Tôi hiểu rồi.”
“Sao anh lại hỏi chuyện đó.”
“Ồ, chỉ vì sự trớ trêu của nó. Nếu hôm đó mà họ được mời, có thể họ đã về nhà sớm hơn, thay đồ... và có thể đã lỡ cuộc hẹn với thần chết.”
Gã nói, “Không ai lỡ hẹn được với thần chết.”
“Vâng, tôi nghĩ ngài nói đúng.”
Lúc này chúng tôi đang ở một dãy nho có quả màu tím. Tôi hỏi Tobin, “Sao nho tím lại làm thành rượu vang đỏ?”
“Tại sao...? Ồ... tôi nghĩ anh nên gọi nó chính xác hơn là vang tím.”
“Tôi sẽ gọi thế.”
Tobin nói, “Thực ra thứ này gọi là nho noir. Noir nghĩa là đen.”
“Tôi hiểu tiếng Pháp. Nho này gọi là nho đen, trông nó màu tím, và rượu thì gọi là vang đỏ. Ngài biết tại sao người ta nhầm lẫn rồi chứ?”
“Nó thực sự không phức tạp đến thế đâu.”
“Phức tạp thật đấy. Bia là đơn giản. Có loại nhẹ và nặng. Đúng không? Rồi có bia vàng, bia đen. Quên những thứ đó và quên loại bia đen đi. Cơ bản là có hai loại là bia vàng và bia đen. Ngài đến một quán bar và có thể biết được có thứ gì trong thùng vì trên thùng đã có dán mác rồi. Ngài có thể hỏi ‘Có loại bia chai gì?’ Khi họ còn đang nhớ để kể ra từng thứ thì ngài nói ‘Bud’. Thế là xong chuyện.”
Tobin mỉm cười. “Buồn cười thật. Thực ra vào những ngày nóng bức tôi cũng làm một cốc bia lạnh.” Gã ghé sát đến tôi nói với vẻ bí mật, “Đừng nói với ai đấy nhé.”
“Yên tâm đi. Này, chỗ này dài không biết nhường nào. Ngài có bao nhiêu mẫu ở đây?”
“Chỗ này là hai trăm mẫu. Tôi còn một trăm mẫu nữa rải rác quanh đây.”
“Chà. Rộng thật. Ngài có thuê đất không?”
“Có một số.”
“Ngài có thuê đất của bà Margaret Wiley không?”
Gã không đáp ngay, và nếu tôi đang ngồi đối diện với gã qua một chiếc bàn thì đã thấy được vẻ mặt gã lúc đó. Tôi nói, “Margaret Wiley.” Nhưng sự lưỡng lự của gã đủ để gây chú ý.
Cuối cùng, Tobin cũng đáp, “Chắc là tôi có thuê. Đúng, có thuê. Khoảng năm mươi mẫu. Sao anh lại hỏi thế?”
“Tôi biết là bà ấy có cho những người trồng nho thuê đất. Bà ấy là bạn cũ của cậu mợ tôi. Thế giới quả là nhỏ bé. Vùng đất nhỏ bé.” Tôi chuyển đề tài và hỏi, “Vậy ngài là người trồng nho lớn nhất vùng này à?”
“Tobin là người có vườn nho lớn nhất North Fork, nếu đó là điều anh muốn hỏi.”
“Làm sao ngài có thể quản lý hết?”
“Công việc vất vả đấy, cần có hiểu biết về nghề trồng nho, về bảo quản, và về một sản phẩm thượng thặng.” Gã nói thêm, “Và cả may mắn nữa. Chúng tôi sợ nhất là bão. Từ cuối tháng Tám tới tháng Mười. Có năm thu hoạch rất muộn. Khoảng giữa tháng Mười. Không ít hơn sáu cơn bão từ biển Caribbean đổ vào. Nhưng mỗi cơn lại đi theo một hướng. Thần Bacchus trông coi chúng tôi. Đó là vị thần rượu vang.”
“Và là nhà soạn nhạc thiên tài.”
“Đó là Bach.”
“Đúng rồi.”
“Còn nữa, chúng tôi có các buổi hòa nhạc ở đây và thỉnh thoảng tổ chức các buổi nhạc kịch. Tôi có thể để anh vào danh sách khách mời, nếu anh muốn.”
Lúc này chúng tôi đang quay trở lại phía tòa nhà lớn ốp gỗ. Tôi nói, “Vậy thì tuyệt. Rượu vang, nhạc kịch, bạn tốt. Tôi sẽ gửi cho ngài danh thiếp của tôi. Hôm nay tôi hết mất rồi.”
Khi đến gần xưởng rượu, tôi nhìn quanh và nói, “Tôi không thấy nhà của ngài đâu?”
“Thực ra tôi không sống ở đây. Tôi có một phòng ở trên đỉnh tháp, nhưng nhà của tôi thì ở phía nam khu này.”
“Gần bờ biển à?”
“Vâng.”
“Ngài có đi bằng thuyền không?”
“Thỉnh thoảng.”
“Thuyền chèo tay hay thuyền máy?”
“Thuyền máy.”
“Và vợ chồng Gordon là khách trong nhà ngài?”
“Có. Một vài lần.”
“Tôi đoán là họ đến bằng tàu.”
“Tôi nghĩ họ có một hai lần gì đó.”
“Và ngài đã bao giờ đến thăm họ bằng tàu chưa?”
“Chưa.”
Tôi định hỏi gã phải chăng gã có một chiếc Formula màu trắng, nhưng đôi khi tốt hơn là ta không nên hỏi một câu mà ta có thể biết được bằng cách khác. Các câu hỏi sẽ khiến người ta cảnh giác và lo lắng. Như tôi đã nói, Fredric Tobin không phải là nghi phạm, nhưng tôi có cảm giác là gã đang giấu điều gì đó.
Tobin đưa tôi qua chiếc cửa mà lúc nãy chúng tôi đi ra từ đó. Gã nói, “Nếu tôi có thể giúp thêm được anh điều gì, xin anh cứ cho biết.”
“Được rồi... à này, tôi có một cuộc hẹn tối nay, và tôi muốn có một chai vang.”
“Thử loại Merlot của chúng tôi đi. Loại chai 95 thì không gì sánh được. Nhưng giá hơi cao một chút.”
“Sao không cho tôi xem thử nhỉ? Tôi cũng còn mấy việc khác phải làm.”
Gã do dự một chút rồi đưa tôi đến chỗ cửa hàng liền kề với căn phòng rộng lớn để nếm rượu. Đó là một căn phòng đẹp với một quầy bar bằng gỗ sồi dài chín mét, một bên đặt dăm sáu chiếc bàn, chỗ nào cũng thấy đặt thùng và giá đựng rượu, cửa sổ bằng kính màu, sàn nhà lát gạch thô. Khoảng một chục tín đồ rượu vang đang quanh quẩn xung quanh căn phòng. Họ bình luận về các thứ rượu hoặc xì xụp ly rượu miễn phí ở quầy bar, nói những câu chuyện ngớ ngẩn với các nhân viên phục vụ đang rót rượu và cố mỉm cười.
Tobin chào một trong số những người rót rượu, một cô gái trẻ đẹp khoảng hai bốn hai lăm tuổi tên là Sara. Tôi đoán là Fredric tự tay lựa chọn đồ trang trí trong phòng và có con mắt sành sỏi về thẩm mỹ. Ông chủ nói, “Sara, rót cho ông...”
“John.”
“Rót cho ông John loại Merlot 95.”
Cô gái làm theo và rót rượu thành thạo vào một chiếc ly nhỏ.”
Tôi lắc lắc chiếc ly để thể hiện là tôi cũng có quan tâm thật. Tôi ngửi ngửi và nói, “Mùi được đấy.” Tôi đưa chiếc ly lên trước ánh đèn và nói, “Màu rất tốt. Tím.”
“Và những ngón tay tốt.”
“Ở đâu?”
“Nhìn nó bám vào thành ly ấy.”
“Đúng rồi.” Tôi nhấp một chút. Quả thật rất được. Đúng là có dùng mới biết ngon. Thứ này quả không tồi với một miếng thịt nướng. Tôi nói, “Đậm mùi nho và êm.”
Tobin gật đầu hào hứng. “Vâng. Và bốc nữa.”
“Rất bốc.” Bốc? Tôi nói, “Thứ này hơi nặng và mạnh hơn Napa Merlot.”
“Thật ra là nhẹ hơn một chút.”
“Ý tôi là thế.” Tôi nên thôi ngay khi đang bốc lên. “Tốt.” Tôi đặt chiếc ly xuống.
Tobin nói với Sara, “Rót loại Cabernet 95.”
“Được ngay ạ.”
“Tôi muốn anh xem có gì khác.”
Cô gái rót rượu. Tôi nhấp và nói, “Tốt. Ít bốc hơn.”
Chúng tôi chuyện phiếm một chút và Tobin nài tôi thử chút vang trắng. Gã nói, “Đây là thứ tôi pha giữa Chardonnay và các loại vang trắng khác mà tôi chưa cho xuất kho. Màu rất đẹp, chúng tôi gọi đó là Autumm Gold - Thu Vàng.”
Tôi nhấp thử và nói, “Êm, không quá bốc.”
Gã không đáp.
Tôi nói, “Đã bao giờ ngài nghĩ tới chuyện đặt tên cho một trong các loại rượu vang của ngài là những trái nho phẫn nộ chưa?”
“Tôi sẽ bàn chuyện này với các nhân viên bán hàng của tôi.”
Tôi bình luận, “Những cái tên rất hay.”
Tobin cho tôi biết, “Tất cả các loại vang đỏ của tôi đều có mác với một tác phẩm của Pollock, còn vang trắng là Kooning.”
“Phải vậy không?”
“Anh biết chứ - Jackson Pollock và William de Kooning. Cả hai người đều sống ở Long Island và cho ra đời những tác phẩm đỉnh cao ở đây.”
“Ồ, hai họa sỹ. Đúng rồi. Pollock là cái ông nói lắp ba lắp bắp.”
Tobin không đáp, nhưng liếc nhìn đồng hồ, rõ ràng đã mệt mỏi với tôi. Tôi nhìn quanh và thấy có một chiếc bàn trống, cách xa chỗ các nhân viên rót rượu và khách khứa. Tôi nói, “Qua bên kia ngồi một chút đi.”
Tobin miễn cưỡng làm theo và ngồi đối diện với tôi. Tôi nhấp một chút thứ Cabernet và nói với gã, “Chỉ thêm mấy câu hỏi thông thường nữa thôi. Ngài quen biết vợ chồng Gordon được bao lâu rồi?”
“Ồ... khoảng năm rưỡi.”
“Đã bao giờ họ nói chuyện với ngài về công việc của họ chưa.”
“Chưa.”
“Ngài có nói là họ thích kể chuyện về Đảo Plum.”
“Ồ, vâng. Họ nói chung chung thôi, không bao giờ nói ra những điều bí mật của chính phủ.” Gã mỉm cười.
“Tốt. Ngài có biết họ là các nhà khảo cổ nghiệp dư không?”
“Tôi... có, tôi có biết.”
“Ngài có biết họ là thành viên của hội Lịch sử Peconic không?”
“Có. Thực ra đó là nơi chúng tôi gặp nhau.”
“Dường như ai cũng tham gia hội Lịch sử Peconic.”
“Hội có khoảng năm trăm thành viên. Không phải tất cả mọi người.”
“Nhưng hình như tất cả mọi người tôi gặp đều là thành viên của hội. Cái này giống như là vỏ bề ngoài của một thứ gì khác phải không? Giống như hiệp hội của các phù thủy hay thứ gì đó?”
“Như tôi biết thì không phải. Nhưng như thế lại hay đấy.”
Cả hai chúng tôi cùng cười. Gã dường như đang suy tính chuyện gì đó. Tôi có thể biết khi nào một người đang suy tính, và không bao giờ cắt ngang luồng suy nghĩ của họ. Cuối cùng, gã nói, “Thực tế là hội Lịch sử Peconic sắp có một bữa tiệc tối thứ bảy. Tôi sẽ tổ chức trong vườn cỏ phía sau. Bữa tiệc ngoài trời cuối cùng trong mùa, khi thời tiết còn cho phép. Tại sao anh và một vị khách nữa không tới dự nhỉ?”
Tôi đoán là gã còn chỗ cho thêm hai người vì giờ vợ chồng Gordon đã không thể tham gia được nữa. Tôi đáp, “Cám ơn. Tôi sẽ cố gắng tới dự.” Tôi sẽ không để lỡ đâu.
Gã nói, “Cảnh sát trưởng Maxwell có thể tới. Anh ấy biết hết mọi chi tiết rồi.”
“Tuyệt. Tôi có thể mang thứ gì tới được không? Rượu vang chẳng hạn?”
Gã cười xã giao. “Chỉ cần anh tới là được.”
“Và một khách mời,” tôi nhắc gã.
“Vâng, một khách mời.”
Tôi hỏi Tobin, “Ngài đã bao giờ nghe thấy chuyện gì đó... chuyện bàn luận về vợ chồng Gordon chưa?”
“Ví dụ?”
“Ồ, chẳng hạn như chuyện tình dục.”
“Không một lời.”
“Về tài chính có vấn đề?”
“Cũng không.”
Chúng tôi tiếp tục thêm khoảng mười phút. Đôi khi ta phát hiện được ai đó trong một lời nói dối, nhưng cũng có khi không. Bất kì lời nói dối nào, dù là nhỏ đến mấy cũng đều có ý nghĩa nhất định. Tôi không phát hiện được chính xác Tobin nói dối điều gì, nhưng tôi khá chắc chắn rằng quan hệ của gã với vợ chồng Gordon thân mật hơn những gì gã nói ra. Bản thân điều này không quan trọng. Tôi hỏi Tobin, “Ngài có thể kể tên ai trong số bạn bè của vợ chồng Gordon không?”
Gã thoáng suy nghĩ rồi nói, “Như tôi nói rồi, đồng nghiệp của anh, cảnh sát trưởng Maxwell là một.” Gã kể thêm một vài người khác nữa mà tôi không biết. Gã nói, “Tôi thực sự không biết nhiều về bạn bè và đồng nghiệp của họ. Như tôi nói lúc trước... xin cho tôi nói thẳng - họ thuộc loại thấy kẻ sang bắt quàng làm họ. Nhưng họ hấp dẫn, khéo miệng và có nghề nghiệp khá thú vị. Cả hai đều là tiến sỹ. Anh có thể nói rằng chứng tôi mỗi người đều có được thứ gì đó trong quan hệ... Tôi thích có quanh mình những con người thú vị và duyên dáng. Vâng, điều này phần nào hơi nông cạn, nhưng anh sẽ ngạc nhiên khi thấy những con người thú vị và duyên dáng lại nông cạn chừng nào.” Gã nói thêm, “Tôi rất tiếc vì điều xảy ra với họ, nhưng tôi không thể giúp thêm gì cho anh.”
“Ngài đã giúp tôi được rất nhiều, ngài Tobin. Tôi thực sự cảm kích vì ngài đã dành thời gian, và vì ngài đã không mời luật sư vào việc này.”
Gã không đáp.
Tôi đi ra khỏi bàn và gã cũng đi theo. Tôi nói, “Ngài đi cùng tôi ra xe chứ?”
“Nếu anh muốn.”
Tôi dừng lại trước một chiếc kệ đầy sách báo về rượu vang, trong đó có mấy tờ quảng cáo về những vườn nho của Tobin. Tôi kiếm một tập và cho vào chiếc túi xách nhỏ. Tôi nói, “Tôi mê mấy thứ này lắm. Tôi còn có một xấp lấy từ Đảo Plum - bệnh rinderpest, bệnh viêm da nổi cục truyền nhiễm - dù sao, tôi cũng đang học được rất nhiều trong vụ này.”
Một lần nữa, gã không nói gì.
Tôi bảo gã kiếm cho tôi một chai Merlot 95. Tôi nói, về cái mác, “Jackson Pollock. Tôi làm sao mà đoán được. Giờ tôi có chuyện để nói trong cuộc gặp tối nay rồi.” Tôi mang chai rượu ra quầy tính tiền, và nếu tôi nghĩ là Tobin không lấy tiền để thể hiện thiện chí thì tôi đã nhầm. Tôi phải trả đúng giá, cộng cả thuế.
Chúng tôi bước ra ngoài nơi có ánh nắng. Tôi nói, “Tiện đây xin nói thêm, cũng như ngài, tôi là người quen của vợ chồng Gordon.”
Gã dừng bước và cả tôi cũng đứng lại. Gã nhìn tôi.
Tôi nói, “John Corey.”
“Ồ... vâng. Tôi không nghe rõ tên...”
“Corey. John.”
“Vâng... Tôi nhớ rồi. Anh là người cảnh sát bị thương.”
“Đúng rồi. Giờ tôi đã khá lên nhiều.”
“Chẳng phải anh là điều tra viên của thành phố New York sao?”
“Vâng, thưa ngài. Cảnh sát trưởng Maxwell thuê tôi vào vụ này.”
“Tôi hiểu.”
“Thế vợ chồng Gordon có nhắc đến tôi không?”
“Có.”
“Họ nói tốt về tôi chứ?”
“Tôi chắc chắn là họ nói tốt, nhưng tôi không nhớ chính xác lắm.”
“Thực ra chúng ta đã gặp nhau một lần. Hồi tháng Bảy. Hôm đó ngài có một bữa tiệc nếm rượu vang lớn ở căn phòng lớn đàng kia.”
“Ồ, đúng rồi.”
“Ngài mặc bộ đồ màu tím và chiếc cà vạt màu nho và rượu vang.”
Gã nhìn tôi. “Đúng, tôi nghĩ là chúng ta đã gặp nhau.”
“Chắc chắn rồi.” Tôi nhìn quanh bãi đỗ xe và nhận xét, “Thời này ai cũng có một chiếc bốn bánh. Xe của tôi ở đằng kia. Nó nói tiếng Pháp đấy.” Tôi giải thích khi khởi động xe bằng điều khiển từ xa. Tôi hỏi Tobin, “Có phải chiếc Porsche đằng kia là của ngài không?”
“Đúng rồi. Sao anh biết?”
“Tôi chỉ đoán thôi. Người như ngài phải đi xe Porsche mới phải.” Tôi chìa tay ra và chúng tôi bắt tay. Tôi nói, “Có thể tôi sẽ gặp lại ngài trong bữa tiệc của ngài.”
“Tôi hy vọng anh sẽ tìm ra thủ phạm.”
“Ồ, chắc chắn là tôi sẽ tìm ra. Tôi luôn tìm ra tội phạm trong mọi vụ án. Chào. Bonjour.”
“Bonjour nghĩa là chào đấy.”
“Đúng rồi. Tạm biệt.”
Chúng tôi chia tay, bước chân lạo xạo lên nền sỏi và mỗi người đi một hướng. Lũ ong theo tôi ra đến xe nhưng tôi đã nhanh tay đóng cửa và vù mất.
Tôi nghĩ về Fredric Tobin, ông chủ, người lịch lãm. Tay sành sỏi về tất cả những gì xinh đẹp. những vị tai to mặt lớn, và là bạn của hai người đã chết.
Những gì tôi được học cho tôi biết gã hoàn toàn vô tội, và tôi không nên mất thêm một phút nào để nghĩ về gã. Trong tất cả các giả thuyết mà tôi đưa ra về lí do vợ chồng Gordon bị giết và về thủ phạm, Tobin không phù hợp với một giả thuyết nào. Thế nhưng bản năng vẫn mách bảo tôi tiếp tục để tâm đến con người này.
❀ ❀ ❀
[1] Jay Leno: Nhân vật hài nổi tiếng của Mỹ dẫn chương trình The Tonight Show trên kênh truyền hình NBC.
[2] Xin chào (tiếng Pháp).
[3] Vùng đất có hình cánh tay vươn ra biển ở bang Massachusetts, Mỹ - ND.
[4] Thuộc bang California, nổi tiếng về rượu vang - ND.