Chúng tôi quay lên tầng trệt và thấy Eva không còn ở trong bếp. Beth nói, “Em có đủ lí do để xin lệnh khám chỗ này.”
“Không đâu. Những thứ chúng ta thấy ở đây không liên quan gì đến bất cứ vụ giết người nào ngoại trừ qua bằng chứng gián tiếp. Và đây chỉ là nếu em tin vào lập luận của anh.” Tôi nhắc nàng, “Ba người có thể làm chứng đã chết.”
Beth nói, “Vâng... nhưng có hài cốt người chết ở đây. Đó là điểm khởi đầu.”
“Đúng thế. Nó đáng giá một cuộc điện thoại.” Tôi nói thêm, “Đừng nhắc chuyện bộ hài cốt có thể đã ba trăm năm tuổi.”
Beth nhấc máy điện thoại trên tường. “Tịt rồi.” Nàng nói.
Tôi đưa cho nàng chìa khóa xe ô tô của tôi, “Thử gọi bằng máy di động của anh xem sao.”
Nàng ra ngoài cửa sau và lên chiếc xe Jeep. Tôi thấy nàng bấm máy và nói chuyện với ai đó.
Tôi đi quanh tầng trệt ngôi nhà. Nó được trang trí bằng những đồ trông có vẻ là đồ cổ thứ thiệt, nhưng cũng có thể là đồ sao chép. Phong cách và niên đại dường như hầu hết thuộc về nông thôn nước Anh giữa thế kỷ mười tám. Vấn đề là Fredric Tobin biết cách sử dụng. Hắn đã xây dựng nên cả một thế giới của sự nhàn hạ, sành sỏi và tinh tế, phù hợp với Hamptons hơn là vùng North Fork, nơi tự hào với hương vị và đặc tính đơn giản của nước Mỹ. Rõ ràng Tobin nên sống ở Bordeaux, hay ít nhất là ở Hamptons bên cạnh nhà của Martha Stewart, trao đổi những công thức nấu ăn với bà ta để có được món lưỡi chim ruồi nhồi. Nhưng hiện tại, giống như hầu hết mọi người, hắn phải sống gần nơi làm việc, nơi rượu vang đem về tiền bạc cho hắn. Trong phòng khách có một chiếc tủ cổ bằng gỗ chạm khắc rất đẹp với lớp kính cong cắt xiên trang trí với những đồ vật trông cục kỳ đắt tiền. Tôi đẩy chiếc tủ lật nhào tạo ra tiếng va chạm lớn, tiếp theo là những tiếng loảng xoảng nhỏ hơn. Tôi thích thứ âm thanh đó. Tổ tiên tôi chắc hẳn phải là người Vandal hoặc Visigoth.
Trong phòng khách còn có một góc nhỏ để làm việc. Tôi đi xung quanh chiếc bàn của Tobin, nhưng hắn hầu như không để gì trên đó. Chỉ có vài tấm hình để trong khung, một của Sondra Wells, một của hắn đang đứng trên đài quan sát của chiếc tàu tuần dương.
Tôi tìm thấy cuốn sổ ghi địa chỉ của hắn và giở ra tìm tên Gordon. Tom và Judy có trong sổ, nhưng tên của họ đã bị gạch chéo. Tôi tìm đến Whitestone và thấy Emma cũng có một đường gạch tên nàng. Vì hắn mới giết nàng sáng nay và tin tức về vụ giết người này còn chưa được loan ra, nên việc nàỵ cho thấy đầu óc hắn cục kỳ bệnh hoạn nhưng lại có tổ chức. Đó là thứ đầu óc đôi khi phản lại chính thân chủ của nó.
Trong phòng có một chiếc lò sưởi, bên trên là hai chiếc móc treo súng, nhưng cả hai khẩu súng không còn ở đó. Eva chứng tỏ là một nhân chứng có thể tin tưởng.
Tôi quay trở lại phòng bếp và nhìn ra cửa sổ phía sau. Biển đang nổi cơn thịnh nộ, như cách nói của các thủy thủ lão luyện, nhưng chưa hẳn đã thành cuồng nộ. Tôi vẫn chưa thể hiểu được điều gì đã khiến Fredric Tobin ra khơi trong một ngày như thế này. Thật ra thì tôi đã biết đó là cái gì. Tôi phải đùa một chút với nó trong đầu.
Beth trở vào nhà. Chiếc áo choàng của nàng đã ướt khi chạy từ xe vào. Nàng đưa cho tôi chùm chìa khóa và bảo, “Có một tổ kỹ thuật hình sự đang ở nhà của ông bà Murphy, một tổ khác đang ở... hiện trường vụ kia.” Nàng nói thêm, “Em không còn chỉ đạo điều tra vụ Gordon nữa.”
“Đen rồi.” Tôi nói thêm, “Nhưng đừng lo, em đã khám phá ra vụ này rồi.”
“Anh mới là người khám phá.”
“Em phải làm cho thật thuyết phục. Anh không ghen tỵ với em về công việc đó. Tobin có thể làm cho em mất việc đấy, Beth, nếu em không cẩn thận với những việc phải làm tiếp theo.”
“Em biết rồi...” Nàng liếc nhìn đồng hồ và nói, “Bây giờ là 6 giờ 40. Các nhân viên kỹ thuật hình sự và điều tra án mạng đang trên đường tới đây, nhưng đang có bão thế này chắc họ phải mất một lúc lâu. Họ sẽ có lệnh khám trước khi vào nhà. Chúng ta nên ở ngoài khi họ đến đây.”
“Em giải thích thế nào về việc em đã ở trong nhà này?”
“Eva dẫn chúng ta vào. Chị ấy hoảng sợ - cảm thấy mình đang gặp nguy hiểm. Em sẽ làm cách đó.” Nàng nói thêm, “Anh không cần phải lo lắng về điều đó. Em sẽ nói là em xuống tầng hầm để kiểm tra đường điện.”
Tôi cười. “Em đang khá lên về khoản lấp liếm đấy. Chắc hẳn em chơi thân với cánh cảnh sát đường phố.”
“Anh nợ em lần này nhé, John. Anh đã phá bỏ tất cả các quy tắc trong sách vở.”
“Anh mới chỉ bỏ qua trang một thôi.”
“Và đó là giới hạn của anh.”
“Beth, tên này đã giết ba người mà anh quý mến và một cặp vợ chồng già vô tội. Ba người sau đã không chết nếu anh hành động nhanh hơn và suy nghĩ sâu xa hơn.”
Nàng đặt tay lên vai tôi. “Anh đừng tự trách mình. Cảnh sát có trách nhiệm về vụ giết ông bà Murphy... Còn với Emma... em biết anh đã không nghĩ là chị ấy gặp nguy hiểm
“Anh không muốn nhắc đến nữa.”
“Em hiểu. Này, anh không cần phải nói chuyện với cảnh sát quận khi họ tới đây. Chuồn đi, để em giải quyết.”
“Ý hay đấy.” Tôi tung chùm chìa khóa của tôi cho nàng. “Gặp em sau.”
“Anh đi đâu mà không cần chìa khóa xe?”
“Lấy tàu đi một vòng.” Tôi lấy chìa khóa của chiếc Formula trên bảng treo chìa khóa.”
“Anh điên à?”
“Người phán xử đang ở ngoài đó. Hẹn gặp em sau.” Tôi đi ra cửa sau.
Beth túm tay tôi. “Không, John. Ra đó anh sẽ bị giết. Chúng ta sẽ tóm Fredric Tobin sau mà.”
“Anh muốn gặp hắn, ngay bây giờ, với vết máu còn tươi trên tay hắn.”
“Không.” Nàng xiết chặt cánh tay tôi. “John, anh còn không biết hắn đi đâu mà.”
“Chỉ có một nơi duy nhất mà hắn sẽ tới trong một đêm như thế này trên một con tàu.”
“Đó là đâu?”
“Em biết rồi mà - Đảo Plum.”
“Nhưng tại sao?”
“Anh nghĩ kho báu vẫn còn trên đó.”
“Làm sao anh biết?”
“Đoán thôi. Chào.” Tôi bước ra trước khi nàng cản tôi lần nữa.
Tôi đi qua bãi cỏ về phía con tàu. Gió gào rú. Một cành cây lớn rơi cách tôi không xa. Ánh sáng ban ngày gần như đã tắt hẳn. Thế cũng tốt. Tôi không muốn nhìn thấy mặt nước lúc này trông ra sao.
Tôi đi dọc theo cầu tàu, tay bám vào cọc và chạy thật nhanh tới chiếc tiếp theo để khỏi bị thổi bay xuống nước. Cuối cùng, tôi ra được tới căn nhà để tàu đang oằn mình vì gió. Dưới ánh sáng lờ mờ, tôi nhận ra chiếc Formula vẫn còn ở đó, nhưng chiếc Whaler đã biến mất, không biết có phải đã bị tuột ra và bị cuốn đi mất hay không. Hay Tobin đã kéo nó đằng sau chiếc Christ-Craft, vừa làm thuyền cứu sinh, vừa làm phương tiện để vào bờ ở Đảo Plum.
Tôi nhìn chiếc Formula đang trồi lên dập xuống theo những đợt sóng và va mạnh vào những chiếc giảm chấn bằng cao su trên cầu tàu. Tôi thoáng do dự, cố làm cho đầu óc tỉnh táo và tự bảo mình rằng không cần thiết phải ra biển trong lúc có bão như thế này. Tobin coi như đã hết, bằng cách này hay cách khác. Ồ... mà có thể không. Có thể tôi phải đặt dấu chấm hết cho hắn trước khi hắn tìm được sự biện hộ trước pháp luật với bằng chứng ngoại phạm và trút sự giận dữ vào việc tôi xâm phạm quyền dân sự của hắn. Người chết thì làm sao kiện được.
Tôi vẫn nhìn chăm chăm vào con tàu. Dưới ánh sáng mờ, dường như tôi nhìn thấy Tom và Judy trên boong tàu, mỉm cười và vẫy gọi tôi đến cùng họ. Rồi hình ảnh Emma chợt lóe lên trong đầu, tôi lại nhìn thấy nàng đang bơi trên vịnh và mỉm cười với tôi. Rồi tôi nhìn thấy khuôn mặt của Tobin trong bữa tiệc khi hắn nói chuyện với nàng, trong đầu đã sẵn có ý định sẽ giết nàng...
Ngoài những điều cần thiết về luật pháp, tôi hiểu rằng cách duy nhất để tôi kết thúc vụ này với cá nhân tôi là phải tự mình bắt Fredric Tobin, và sau khi đã tóm được hắn, sẽ... mà thôi, tôi sẽ nghĩ sau.
Điều tiếp theo tôi biết mình phải làm là nhảy từ cầu xuống con tàu cao tốc.
Tôi cố lấy thăng bằng trên boong tàu đang dập dềnh và tới được vị trí ghế bên phải, ghế của thuyền trưởng.
Khó khăn đầu tiên với tôi là tìm ra ổ khóa điện. Mãi tôi cũng tìm được nó gần van tiết lưu. Tôi cố nghĩ lại xem vợ chồng Gordon đã làm thế nào và nhớ ra có lần họ đã đưa cho tôi một tấm thẻ nhựa có in chữ, đầu đề là “Thuyền trưởng bất đắc dĩ” và bảo tôi đọc. Tôi đã đọc và bụng bảo dạ rằng tôi không muốn làm thuyền trưởng bất đắc dĩ một chút nào. Nhưng giờ tôi đang ở hoàn cảnh ấy. Giá như tôi vẫn còn tấm thẻ.
Dù sao, tôi vẫn nhớ phải để cả hai cần số về số không, tra chìa khóa vào ổ, vặn tới... cái gì nhỉ...? Không thấy động tĩnh gì. Tôi nhìn thấy hai chiếc nút ghi “khởi động” và nhấn chiếc bên phải. Chiếc động cơ bên phải bắt đầu chạy. Tôi nhấn chiếc nút thứ hai và động cơ bên trái khởi động nốt. Cảm thấy hai động cơ chạy hơi bập bùng, tôi nhấn ga nhẹ để cho thêm xăng. Tôi nhớ phải để cho động cơ nóng lên khoảng vài phút. Tôi không muốn bị chết máy ở ngoài biển trong lúc nàỵ. Trong lúc động cơ nóng dần, tôi tìm được một con dao găm trong hộp để đồ phía trước và cắt sợi dây buộc tàu cùng hai sợi dây neo. Ngay lập tức, chiếc Formula trồi lên cùng một đợt sóng và va vào sườn nhà để tàu cách cầu tàu mét rưỡi.
Tôi chuyển sang số tiến và nhấn cả hai van tiết lưu. Mũi tàu hướng ra vịnh, vì thế tất cả những gì tôi phải làm là nhấn thêm ga, và tôi sẽ lao ra biển giữa cơn cuồng phong.
Ngay lúc đó, tôi nghe thấy tiếng người phía sau và ngoái lại nhìn. Đó là Beth đang gọi tôi, tiếng nàng lẫn trong tiếng gió, tiếng sóng và tiếng động cơ.
“John!”
“Gì thế?”
“Chờ đã! Em cũng đi!”
“Thế thì nhanh lên!” Tôi cài số lùi, vặn cần lái cho đuôi tàu lại gần cầu. “Nhảy đi.”
Nàng nhảy xuống và ngã trên sàn tàu đang dập dềnh đằng sau tôi.
“Không sao chứ?”
Nàng đứng dậy. Một cơn sóng lớn xô đến làm chiếc tàu chao đảo. Nàng lại ngã, rồi lại đứng dậy. “Em không sao!” Nàng lần đi đến chỗ ghế bên trái và bảo, “Đi thôi.”
“Nghĩ kỹ chưa?”
“Đi!”
Tôi nhấn ga, chúng tôi ra khỏi nhà để tàu và lao đi dưới màn mưa. Một giây sau, tôi nhìn thấy một con sóng khổng lồ đang ào tới từ bên phải và sắp sửa ập lên thành tàu. Tôi bẻ lái sang phải hướng mũi tàu về phía con sóng. Con tàu bật tung lên như thể đang lơ lửng trong không trung. Con sóng vỡ òa phía sau khiến con tàu lơ lửng trên không theo đúng nghĩa. Khi rơi, mũi tàu chạm mặt nước trước và chúi sâu xuống. Sau đó mũi tàu bật lên và đuôi tàu chạm mặt nước. Chân vịt đẩy mạnh và con tàu lao lên, nhưng bị chệch hướng. Trong khoảng giữa hai đợt sóng, tôi cho tàu quay 180 độ và hướng về phía đông. Khi ngang qua nhà để tàu, tôi nghe một tiếng động chói tai và cả căn nhà nghiêng hẳn sang bên phải rồi đổ sụp xuống mặt biển đang sôi lên. “Hú hồn.”
Beth nói to trong tiếng gầm rú của cơn bão, “Anh có biết anh đang làm gì không?”
“Có chứ. Anh đã tham gia một lớp học có tên là Thuyền trưởng bất đắc dĩ.”
“Học lái tàu ấy à?”
“Anh nghĩ thế.” Tôi nhìn nàng, và nàng cũng nhìn lại tôi. Tôi nói, “Cám ơn vì đã đi cùng.”
Nàng nói, “Chạy thôi.”
Chiếc Formula chạy ở mức ga trung bình, đó là điều phải làm để kiểm soát con tàu trong lúc có bão như thế này. Đến một nửa thời gian của chúng tôi là ở trên cao hơn mặt nước, rồi quặt sang phải hướng thẳng vào những cơn sóng đang lao đên. Chân vịt hú lên trên không rồi phụp xuống nước và đẩy con tàu lao đi như một tấm ván lướt sóng. Một điều tôi biết là phải hướng mũi tàu vàọ những đợt sóng đang xô tới và không để bị sóng lớn ập vào sườn tàu. Con tàu có lẽ không đắm, nhưng sẽ bị lật. Tôi đã nhìn thấy những con tàu bị lật trên vịnh sau những cơn bão yếu hơn thế này.
Beth hỏi to, “Anh có biết định hướng không?”
“Có chứ. Màu đỏ bên phải quay lại.”
“Thế nghĩa là thế nào?”
“Là giữ cho dấu đỏ ở bên phải khi quay vào bờ.”
“Nhưng chúng ta không quay vào bờ. Chúng ta đang rời bờ.”
“Ồ... thế thì nhìn xem dấu màu xanh ở đâu.”
“Em không thấy có dấu nào cả.” Nàng thông báo.
“Anh cũng không thấy.” Tôi nói thêm, “Anh sẽ luôn ở bên phải của đường vạch đôi màu trắng. Sẽ không thể nhầm được.”
Nàng không đáp.
Tôi cố để đầu óc tập trung vào chuyện lái tàu. Đó không phải là sở thích số một của tôi, nhưng tôi đã làm khách đi trên nhiều con tàu bao nhiêu năm qua, và tôi nghĩ đã học hỏi được một số thứ từ khi còn nhỏ đến giờ. Rồi còn hồi tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám, tôi đã ra biển cùng vợ chồng Gordon hàng chục lần. Tom là người nói luôn mồm, anh muốn chia sẻ sự hào hứng cùng những hiểu biết về hàng hải với tôi. Tôi thì không chú tâm lắm (vì để ý nhiều hơn tới Judy trong bộ bikini của cô), nhưng tôi chắc vẫn có một xó xỉnh nào đó trong lớp vỏ não của tôi đề là “Những con tàu.” Tôi chỉ phải tìm xem nó ở đâu. Quả thật, tôi biết nhiều về tàu thuyền hơn tôi tưởng. Hy vọng là thế.
Giờ chúng tôi đã ở ngoài khơi vịnh Peconic. Con tàu nhảy chồm chồm qua những đợt sóng ầm ầm liên tiếp nhau giống như chạy xe trên những thanh tà vẹt của đường sắt. Tôi cảm thấy bụng dạ như nhộn nhạo bởi sự tung lên dập xuống của con tàu. Khi tàu xuống thì dạ dày tôi vẫn ở trên, còn khi tàu hất lên cao thì dạ dày dồn xuống thấp. Chắc là thế. Tôi không nhìn được gì qua kính chắn gió nên phải đứng dậy để quan sát. Mông tôi ghì chặt vào chiếc ghế phía sau, tay phải giữ bánh lái, tay trái bám chặt vào tay nắm trên bảng điều khiển phía trước. Tôi đã nuốt đủ nước mặn để làm tăng huyết áp lên thêm năm mươi. Nước mặn cũng bắt đầu làm cho hai mắt tôi bị xót. Tôi liếc sang Beth và thấy nàng cũng đang dụi mắt.
Nhìn sang phải, tôi thấy một chiếc thuyền buồm khổng lồ lật nghiêng trên mặt nước, nhìn thấy cả sống đáy thuyền. Cột buồm và buồm chúi ngập xuống nước. “Chúa ơi...”
Beth hỏi, “Họ có cần giúp không?”
“Anh chẳng nhìn thấy ai cả.”
Tôi tiến gần đến chiếc thuyền buồm nhưng không hề thấy người nào bám trên cột buồm hay dây néo. Tôi tìm chiếc nút còi trên bảng điều khiển và bấm liền mấy lần nhưng vẫn không thấy dấu hiệu nào của sự sống. Tôi bảo Beth, “Có thể họ đã dùng xuồng cứu sinh để vào bờ.”
Beth không đáp.
Chúng tôi tiếp tục đi. Tôi nhớ ra mình thuộc loại người không thích dù chỉ là một cái lắc nhẹ của chiếc phà lớn, thế mà giờ tôi đang ở trên một con tàu cao tốc dài chưa đầy chục mét và đi trong mưa bão.
Tôi đã cảm thấy tác động trên đôi chân mình, như thể có ai đó dùng gậy đập vào đế giầy, sự chấn động lan lên đầu gối và hông, những chỗ đã bắt đầu ê ẩm. Nói cách khác, quá tệ.
Tôi cảm thấy buồn nôn vì nước mặn, vì những chuyển động lên xuống và va chạm liên hồi với sóng biển, và cả vì không thể phân biệt được đường chân trời với mặt nước. Thêm vào đó là tình trạng sức khỏe sau lần bị thương chưa ổn định hẳn... Tôi nhớ Max đã cam đoan là vụ này sẽ không vất vả gì. Nếu anh ta mà ở đây tôi sẽ cột vào mũi thuyền cho mà biết.
Qua màn mưa, tôi vẫn thấy đường bờ biển ở phía bên trái cách chừng hai trăm thước. Phía trước bên phải là vệt mờ của đảo Trú ẩn. Tôi biết chúng tôi sẽ an toàn hơn một chút khi đi được vào phía chắn gió của đảo, và tôi đoán có lẽ vì thế mà nó có tên là đảo Trú ẩn. Tôi nói với Beth, “Anh có thể để em lên bờ trên đảo Trú ẩn.”
“Anh có thể lái con tàu chết tiệt này đi và không phải lo đến Beth nhỏ bé yếu đuối này.”
“Vâng, thưa quý cô.”
Nàng nói thêm với giọng nhẹ nhàng hơn, “Em đã có lần trên biển trong lúc sóng lớn, John. Em biết khi nào thì hoảng loạn.”
“Tốt. Khi nào?”
“Close.” Nàng nói. “Em xuống bên dưới lấy áo phao và xem có thể tìm được gì để mặc cho thoải mái hơn không.”
“Hay đấy.” Tôi nói thêm, “Rửa mắt cho sạch muối và tìm lấy một tấm hải đồ nhé.”
Nàng đi xuống cầu thang giữa hai ghế ngồi. Chiếc Formula 303 có cabin khá rộng đối với một chiếc tàu cao tốc và còn có cả chỗ đi vệ sinh, thứ có thể sẽ sớm có tác dụng, về cơ bản, đó là con tàu chắc chắn, chịu được sóng gió trên biển, và tôi luôn cảm thấy an tâm khi Tom hoặc Judy cầm lái. Cũng giống như John Corey, Tom và Judy không thích thời tiết xấu, và khi nhìn thấy cơn sóng lớn đầu tiên, chúng tôi sẽ quay vào bờ ngay. Nhưng giờ này tôi vẫn ở đây, đối mặt với một trong những nỗi sợ hãi thuộc bảng A của tôi, nhìn thẳng vào nó, và nó như đang khạc nhổ vào tôi. Nghe quả điên rồ, tôi lại thích thú với việc lái tàu - cái cảm giác của cần ga khi điều chỉnh nhiên liệu, những rung chuyển của động cơ, bánh lái trong tay. Thuyền trưởng bất đắc dĩ. Tôi đã ngồi dưới hiên sau nhà quá lâu rồi.
Tôi đứng lên, một tay giữ bánh lái, một tay bám mép trên của kính chắn gió để giữ thăng bằng. Tôi nhìn qua làn mưa dày đặc để tìm kiếm một con tàu trên mặt biển đang cuộn sóng, chính xác hơn là tìm một chiếc Christ-Craft, nhưng tôi cùng lắm cũng chỉ thấy được đường chân trời hoặc bờ biển, nói gì đến một chiếc tàu khác.
Beth leo lên cầu thang và đưa cho tôi một chiếc áo phao. “Mặc cái này vào đi.” Nàng nói to, “Em giữ bánh lái cho”, vẫn ở tư thế đứng, nàng giữ bánh lái trong lúc tôi mặc chiếc áo phao. Tôi nhìn thấy nàng đeo một chiếc ống nhòm trên cổ. Nàng mặc quần jeans dưới chiếc áo mưa choàng màu vàng, chân đi giầy thủy thủ và mặc áo phao màu cam. Tôi hỏi, “Em mặc quần áo của Fredric đấy à?”
“Hy vọng là không phải. Em nghĩ là đồ của Sondra Wells. Hơi chật một chút.” Nàng nói thêm, “Em để một tấm hải đồ trên bàn nếu anh muốn xem qua.”
Tôi hỏi nàng, “Em có biết xem hải đồ không?”
“Biết một chút. Còn anh?”
“Không vấn đề gì. Màu xanh là nước, nâu là đất liền. Anh sẽ xem sau.” Beth nói, “Em đã tìm đài ở dưới đó nhưng không thấy cái nào.”
“Anh cũng biết hát. Em thích bài ‘Oklahoma’ không?”
“John... đừng có làm trò ngớ ngẩn. Ý em là điện đài liên lạc giữa tàu và bờ. Để gửi tín hiệu xin trợ giúp.”
“Ồ... ra là thế. Ở đây cũng không thấy có điện đài.”
Nàng bảo, “Dưới kia có một chiếc sạc pin điện thoại di động, nhưng không thấy chiếc điện thoại nào.”
“Đúng. Người ta thường sử dụng điện thoại di động trên tàu nhỏ. Còn anh, anh thích điện đài liên lạc hai chiều hơn. Dù là thế nào, điều em nói cũng có nghĩa là chúng ta mất liên lạc.”
“Đúng vậy. Thậm chí còn không thể gửi tín hiệu cấp cứu.”
“Những người trên tàu Mayflower ngày trước cũng thế. Không phải lo.”
Nàng không để ý đến câu nói của tôi và bảo, “Em tìm được một khẩu súng hiệu.” Nàng vỗ vỗ vào cái túi to trên áo mưa choàng.
Tôi không nghĩ lại có người nhìn thấy pháo sáng trong đêm nay, nhưng vẫn phải bảo, “Tốt. Có thể ta sẽ cần đến nó.”
Tôi lại cầm lái, còn Beth ngồi trên đầu cầu thang bên cạnh. Chúng tôi nghỉ một lúc không nói to trong tiếng bão và ngồi im lặng. Cả hai đều ướt sũng, bụng dạ đã nhộn nhạo. Chúng tôi sợ. Nhưng nỗi sợ hãi phải đi trong mưa bão đã phần nào vơi đi khi chúng tôi biết rằng những cơn sóng kia sẽ không đánh chìm được con tàu.
Sau khoảng mươi phút, Beth đứng dậy và lại gần tôi để nói cho rõ. Nàng hỏi, “Anh có thật sự nghĩ là hắn đang đến Đảo Plum không?”
“Có.”
“Tại sao?”
“Để lấy lại kho báu.”
Nàng nói, “Sẽ không có chiếc tàu tuần tra nào của Stevens hay trực thăng của lực lượng bảo vệ bờ biển quanh quẩn trong thời tiết như thế này.”
“Không có. Còn đường xá thì không thể đi lại được, vì thế cũng không có cả xe tuần tra.”
“Đúng rồi...” Nàng hỏi, “Tại sao Tobin không chờ đến khi có tất cả kho báu rồi mới giết vợ chồng Gordon?”
“Anh không chắc. Có thể vợ chồng Gordon về bất ngờ trong lúc Tobin đang lục soát nhà của họ. Anh chắc chắn rằng đáng lẽ tất cả kho báu đã được tìm thấy, nhưng có sai sót gì đó.”
“Thế nên hắn phải tự tay tìm ra kho báu. Hắn có biết nó ở đâu không?”
Tôi đáp, “Chắc chắn hắn biết, nếu không thì đã không tới đó. Emma cho anh biết rằng Tobin đã có lần đến Đảo Plum với một nhóm khảo sát của hội Lịch sử Peconic. Lúc đó, hắn đã muốn chắc rằng Tom hoặc Judy chỉ cho hắn vị trí thật sự của kho báu, đương nhiên đó là một trong những hố đào khảo cổ của Tom.” Tôi nói thêm, “Tobin không phải là người đáng tin, và anh chắc chắn rằng vợ chồng Gordon không thích hắn, cũng không tin hắn. Họ chỉ lợi dụng nhau.”
Nàng bảo, “Giữa những tên trộm bao giờ cũng có lúc phản nhau.”
Tôi muốn nói rằng Tom và Judy không phải là những tên trộm, dù họ là trộm thật. Và khi họ đã vượt qua giới hạn từ những công dân tốt trở thành những kẻ mưu mô, số phận của họ cơ bản đã chấm hết. Tôi không phải là nhà đạo đức, nhưng trong nghề, tôi thấy chuyện đó hàng ngày.
Cổ họng chúng tôi đã rát vì phải nói to và vì nước mặn. Chúng tôi lại phải ngừng nói và im lặng hồi lâu.
Tôi đang đi gần đến quãng giữa của bờ biển phía nam của North Fork và đảo Trú ẩn, nhưng sóng biển dường như dữ dội hơn ở cửa eo biển. Một con sóng khổng lồ không biết từ đâu bất ngờ ập đến và dựng lên khoảng một giây bên sườn phải con tàu. Beth nhìn thấy và la lên. Con sóng vỡ òa ngay phía trên tàu, như thể chúng tôi vừa đi vào một thác nước.
Tôi thấy mình ở trên sàn, một luồng nước cuốn tôi xuống cầu thang tới boong dưới và đè lên người Beth. Cả hai lồm cồm bò dậy và tôi cố bò lên cầu thang. Con tàu không được kiểm soát, bánh lái quay tứ tung. Tôi chộp lấy bánh lái, giữ chặt và ngồi vào ghế, vừa kịp quay mũi tàu hướng vào một con sóng khổng lồ khác. Lần này con tàu bị hất lên và tôi có cảm giác kỳ lạ khi ở trên cao ba mét ở trên không với hai đường bờ biển dường như thấp hơn chúng tôi.
Con sóng đẩy chúng tôi bật lên không trung chừng nửa giây trước khi rơi xuống chỗ nước thấp. Tôi vặn lái và hướng lại về phía đông để cố đi vào vùng eo biển, nơi chắc chắn không tệ như chỗ này.
Tôi nhìn sang bên trái nhưng không thấy Beth trên đầu cầu thang bên cạnh. Tôi gọi to, “Beth!”
Beth nói to từ trong cabin, “Em đây! Đang lên!”
Nàng từ dưới cầu thang đi lên bằng cả tay và đầu gối. Tôi nhìn thấy trán nàng đang chảy máu. Tôi hỏi, “Em không sao chứ?”
“Không sao... chỉ bị va một chút. Mông hơi ê ẩm.” Nàng cố gượng cười, nhưng tiếng nàng nghe như tiếng nấc. Nàng bảo, “Thật là điên khùng.”
“Em xuống dưới đi. Làm một ly mác-tin khuấy, đừng lắc.”
Nàng nói, “Cái óc hài hước ngớ ngẩn của anh có vẻ lại hợp với lúc này.” Nàng nói thêm, “Cabin đang bị nước vào, em nghe thấy tiếng máy bơm dưới đáy tàu đang chạy. Anh có nghĩ ra trò gì hay với cái đó không?”
“Ồ... để xem... cái em nghe thấy không phải là tiếng máy bơm đâu, đó là chiếc máy xoa bóp bằng điện của Sondra Wells ở dưới nước đây. Nghe thế nào?”
“Em nhảy lên mất thôi.” Nàng hỏi, “Máy bơm có chạy kịp với lượng nước đổ vào tàu không?”
“Anh đoán là kịp. Tùy vào có bao nhiêu con sóng vỡ phía trên boong tàu. Kỳ thực, tôi nhận ra phản ứng của con tàu khi vặn lái đã trở nên chậm hơn do tác động của lượng nước dưới đáy tàu và trong cabin.
Cả hai chúng tôi không nói gì trong khoảng mươi phút. Giữa những đợt mưa bị gió tạt đi, tôi có thể nhìn thấy khoảng không chừng năm chục thước ở đằng trước, nhưng vẫn không thấy bóng dáng con tàu tuần dương của Tobin hay bất kì con tàu nào khác giống thế, chỉ trừ hai chiếc tàu nhỏ đã bị lật và trôi giạt như một khúc gỗ bị bão cuốn đi.
Tôi nhận ra một hiện tượng khác, hay có lẽ nên gọi là một nỗi sợ mới - đó là thứ mà vợ chồng Gordon gọi là ‘biển đuổi’ mà tôi cùng họ đã gặp phải khi ở trên eo biển hôm đó. Nước biển ở phía sau tàu đang ào tới và ập mạnh vào đuôi chiếc Formula khiến con tàu mất kiểm soát với một cú lắc mạnh, gọi là bị chệch đường. Chỉ có hai điều không bị mất là chúng tôi vẫn hướng về phía đông và vẫn còn nổi trên mặt nước, dù tôi không biết là tại sao.
Tôi ngửa mặt lên để nước mưa rửa đi phần nào muối trên mặt và mắt. Và vì tôi đang nhìn lên trời, tôi nói với mình, Con đến nhà thờ các sáng chủ nhật, Chúa ơi. Người có nhìn thấy con đến không? Nhà thờ Giám lý ở Cutchogue. Ở bên trái, hàng ghế giữa ấy. Emma ơi. Nói với Người đi. Này, Tom, Judy, ông bà Murphy - tôi đang làm việc này cho các người đấy. Các người có thể gặp tôi để cám ơn sau ba bốn chục năm nữa.
“John?”
“Gì thế?”
“Anh đang nhìn gì ở trên ấy?”
“Có nhìn gì đâu. Đang hứng nước ngọt.”
“Để em lấy cho anh ít nước ở dưới kia.”
“Chưa cần đâu. Cứ ở đây một lát nữa.” Tôi nói thêm, “Anh sẽ để em lái sau để anh nghỉ một chút.”
“Ý hay đấy.” Nàng im lặng khoảng một phút rồi hỏi, “Anh... lo không?
“Không. Anh sợ.”
“Em cũng thế.”
“Đến lúc hoảng loạn chưa?”
“Chưa.”
Tôi nhìn một lượt trên bảng điều khiển và giờ mới để ý đến đồng hồ báo nhiên liệu. Đồng hồ chỉ một phần tám, nghĩa là còn chưa đầy bốn mươi lít xăng. Với mức độ sử dụng của hai chiếc động cơ MerCruisers khổng lồ này chạy ga trung bình trong lúc có bão thì chúng tôi không còn nhiều thời gian và cũng không đi được bao xa nữa. Tôi tự hỏi không biết có đủ để đến Đảo Plum hay không. Đi ô tô mà hết xăng thì cũng chưa phải tệ lắm. Máy bay mà hết xăng thì nghĩa là đi sang bên kia thế giới. Đi tàu mà hết xăng giữa lúc có bão thì cũng gần như xong rồi. Tôi tự nhắc mình phải để mắt tới đồng hồ báo xăng. Tôi hỏi Beth, “Giờ đã phải là bão chưa?”
“Em không biết, John, mà em cũng không quan tâm.”
“Anh hiểu.”
Nàng nói, “Em cảm thấy anh không thích biển thì phải.”
“Anh thích biển lúc đẹp trời. Anh chỉ không thích ở trên biển hoặc dưới biển.”
“Có mấy vũng đậu tàu dọc theo đường này trên đảo Trú ẩn. Anh có muốn vào không?”
“Em thì sao?”
“Có, nhưng mà không.”
“Anh hiểu.” Tôi nói.
Cuối cùng, chúng tôi vào được đoạn giữa của North Fork và đảo Trú ẩn. Cửa eo biển rộng chừng nửa dặm, và đảo Trú ẩn ở phía nam đủ cao và rộng để cản phần nào sức gió. Tiếng sóng và tiếng gió ngớt đi nhiều nên chúng tôi có thể nói chuyện dễ hơn, sóng biển cũng dịu đi một chút.
Beth đứng bám chặt vào chiếc tay nắm ở bảng điều khiển phía trên đầu cầu thang. Nàng hỏi tôi, “Anh nghĩ điều gì đã xảy ra hôm đó? Hôm có án mạng ấy?”
Tôi đáp, “Ta biết rằng vợ chồng Gordon rời bến tàu trên Đảo Plum khoảng giữa trưa. Họ đi xa khỏi bờ đủ để tàu tuần tra của Đảo Plum không nhận ra được. Vợ chồng Gordon chờ và quan sát bằng ống nhòm rồi thấy chiếc tàu tuần tra đi qua. Họ cho tàu chạy thật nhanh về phía bờ. Họ có bốn mươi đến sáu mươi phút trước khi chiếc tàu tuần tra trở lại. Ta biết điều này từ chuyến đi đến Đảo Plum. Đúng không?”
“Vâng, nhưng hôm đó em nghĩ chúng ta nói về những kẻ khủng bố hoặc những người không được phép tới. Có phải là ngay lúc đó anh đã nghĩ tới vợ chồng Gordon không?”
“Gần như thế. Khi ấy anh không biết tại sao, cũng không biết họ dính vào chuyện gì, nhưng anh muốn tìm hiểu làm thế nào họ có thể mang được thứ gì đó ra ngoài. Một vụ trộm. Hay bất cứ điều gì đó.”
Nàng gật đầu. “Anh nói tiếp đi.”
“Họ chạy với tốc độ thật cao vào bờ đảo. Nếu một chiếc xe tuần tra hay trực thăng phát hiện ra họ thì cũng không phải là rắc rối lớn vì khi đó mọi người đều biết họ là ai và nhận ra con tàu đặc biệt của họ. Nhưng theo Stevens, không ai nhìn thấy con tàu của họ ngày hôm đó. Đúng không?”
“Đến giờ là đúng.”
“Đó là một ngày đẹp trời, biển lặng. Vợ chồng Gordon dùng xuồng cao su vào bờ vào kéo xuồng giấu vào bụi cây. Trên xuồng là chiếc thùng nhôm.”
“Và cả xẻng.”
“Không, họ đã lấy kho báu lên rồi và giấu ở chỗ mà họ có thể mang đi dễ dàng. Nhưng trước tiên, họ phải làm rất nhiều thứ để chuẩn bị, như tìm kiếm tư liệu và khảo cổ, mua đất của bà Wiley, vân vân.”
Beth nghĩ một chút rồi hỏi lại, “Anh có nghĩ vợ chồng Gordon giấu nhẹm việc này với Tobin không?”
“Anh không nghĩ thế. Vợ chồng Gordon hài lòng với một nửa kho báu, trừ đi một nửa nộp cho chính quyền. Nhu cầu của họ không nhiều như Tobin. Hơn nữa, vợ chồng Gordon muốn được công khai và tuyên bố họ là những người tìm ra kho báu của thuyền trưởng Kidd.” Tôi nói thêm, “Tuy nhiên, nhu cầu của Tobin lại khác, tính toán của hắn cũng khác. Hắn không đắn đo gì chuyện giết chết hai đối tác của mình, chiếm toàn bộ kho báu và giấu kín phần lớn, sau đó khám phá ra một phần nhỏ trên đất của hắn và tổ chức đấu giá ở Sotheby, hoàn tất mọi việc với giới truyền thông và nhân viên cơ quan Thuế vụ Nội địa ở hậu trường.”
Beth thò tay vào dưới chiếc áo mưa choàng và lấy ra bốn đồng tiền vàng. Nàng chìa cho tôi và tôi cầm một đồng lên xem trong lúc vẫn lái tàu. Đồng tiền to bằng cỡ đồng hai mươi lăm xen của Mỹ, nhưng nặng hơn - trọng lượng của vàng lúc nào cũng làm tôi ngạc nhiên. Chất vàng sáng đến kì lạ và tôi có thể thấy hình mặt nghiêng của một người trên đó cùng mấy hàng chữ trông như tiếng Tây Ban Nha. “Có thể đây là cái mà người ta gọi là đồng đublun.” Tôi đưa lại cho nàng.
Nàng bảo, “Anh cầm để lấy may.”
“May ư? Anh không cần thứ may mắn mà cái này mang đến cho bất cứ ai.”
Beth gật đầu và nhìn một lúc vào ba đồng tiền trên tay nàng rồi ném xuống biển. Tôi cũng làm giống nàng.
Đó là một hành động ngớ ngẩn, tất nhiên rồi, nhưng lại làm cho chúng tôi cảm thấy đỡ lo phần nào. Tôi có thể hiểu điều mê tín của các thủy thủ trên khắp thế giới khi ném vật gì đó có giá trị hoặc một ai đó khỏi tàu để cầu xin biển cả thôi làm cái điều mà nó đang làm khiến người ta sợ đến vãi cả ra quần.
Chúng tôi cảm thấy đỡ lo một chút sau khi ném tiền vàng xuống biển và đúng là gió có giảm đi phần nào khi chúng tôi đi dọc theo bờ của đảo Trú ẩn, những con sóng cũng bớt cao và thưa hơn như thể món quà tặng biển đã có tác dụng.
Đất liền ở xung quanh tôi trông đen ngòm, hoàn toàn không màu sắc giống như những đống than, trong khi mặt biển và bầu trời lại xám xịt một màu kì quái. Bình thường giờ này đã nhìn thấy những ánh đèn dọc theo bờ biển, dấu hiệu về sự hiện diện của con người, nhưng có vẻ như chỗ nào cũng bị mất điện và bờ biển trông không khác gì ở một, hai thế kỷ trước.
Dù sao, thời tiết lúc này vẫn đáng sợ, nó sẽ trở thành hết sức nguy hiểm một khi chúng tôi ra khỏi đảo Trú ẩn và đi vào vịnh Gardiners.
Tôi biết lẽ ra nên bật đèn pha để đi, nhưng giờ chỉ còn duy nhất một chiếc tàu khác ở ngoài này, và tôi không muốn bị tàu đó phát hiện ra. Tôi chắc hắn cũng đi mà không bật đèn như tôi.
Beth nói, “Vậy là vợ chồng Gordon không có thời gian để quay lại lấy lần thứ hai trước khi tàu tuần tra của Đảo Plum vòng lại.”
“Đúng,” tôi trả lời, “một chiếc xuồng cao su chỉ mang được chừng ấy, họ không muốn để bộ xương và những thứ khác không được bảo vệ trên chiếc Formula trong khi họ trở lại vòng thứ hai.”
Beth gật đầu và nói, “Vậy nên họ quyết định bỏ lại cái mà họ đã tìm được và trở lại lấy kho báu vào một lúc khác.”
“Đúng. Có thể là ngay đêm đó, nếu việc để dây buộc tàu thắt hờ là một dấu hiệu.” Tôi nói thêm, “Họ phải đi qua nhà của Tobin ở Founders Landing trên đường về nhà. Anh tin chắc rằng họ đã vào ngôi nhà để tàu của hắn, có thể định để lại bộ xương, chiếc thùng đã mục nát, và bốn đồng tiền vàng - như một vật kỷ niệm trong số những gì tìm được - ở nhà của hắn. Khi họ nhìn thấy chiếc Whaler không còn trong nhà để tàu, họ đoán là Tobin đã đi, thế nên họ tiếp tục về nhà mình.”
“Họ làm Tobin bất ngờ phải không?”
“Đúng. Hắn đã lục soát nhà của họ để tạo hiện trường giả của một vụ trộm và để xem vợ chồng Gordon có giấu kho báu trong nhà hay không.”
“Ngoài ra, hắn muốn xem còn có bằng chứng nào trong nhà chứng tỏ họ có liên quan tới hắn hay không.”
“Chính xác. Thế nên vợ chồng Gordon cho tàu đỗ bên cầu tàu nhà họ, và có thể đó là lúc họ treo các lá cờ báo hiệu Hàng nguy hiểm, cần trợ giúp.” Tôi nói thêm, “Anh chắc rằng họ đã treo lá cờ đầu lâu xương chéo vào buổi sáng để báo cho Tobin biết rằng đó là ngày hai bên đã thỏa thuận. Biển lặng, không mưa, đầy tự tin và hào hứng, vv...”
“Và khi vợ chồng Gordon vào đến cầu tàu thì chiếc Whaler của Tobin đã ở trong khu đất ngập nước bên cạnh.”
“Đúng.” Tôi suy nghĩ khoảng một phút rồi nói, “Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết điều gì xảy ra tiếp theo - hai bên nói gì với nhau, Tobin nghĩ có gì trong chiếc thùng, vợ chồng Gordon nghĩ Tobin có mưu mô gì. Đến một lúc, cả ba người biết rằng quan hệ của họ đến đó là chấm dứt. Tobin biết hắn sẽ không bao giờ có thêm một cơ hội nữa để giết chết hai người đối tác. Thế là... hắn nâng súng lên, ấn vào tay cầm của chiếc còi hơi, và xiết cò. Viên đạn đầu tiên trúng vào trán của Tom ở cự li gần, Judy kêu lên và quay sang chồng, viên đạn thứ hai đi vào thái dương cô ấy... Tobin thôi nhấn chiếc còi hơi. Hắn mở chiếc thùng nhôm và thấy rằng không có nhiều vàng hay đồ trang sức bên trong. Hắn đoán rằng phần còn lại của kho báu đang ở trên chiếc tàu Spirochette, rồi hắn đi xuống tàu lục soát. Không có gì ở đó. Hắn nhận ra rằng đã giết mất hai con ngỗng trước khi chúng đẻ trứng vàng. Nhưng chưa phải là mất tất cả. Hắn biết hoặc tin rằng tự tay hắn có thể hoàn thành nốt mọi việc. Đúng vậy không?”
Beth gật đầu, nghĩ ngợi một lát rồi nói, “Hoặc Tobin còn có một kẻ đồng lõa khác ở trên đảo.”
Tôi nói, “Đúng thế. Cho nên việc giết vợ chồng Gordon cũng không phải là sai lầm nghiêm trọng lắm.”
Chúng tôi tiếp tục hướng về phía đông qua eo biển. Phần này dài chừng bốn dặm và rộng khoảng nửa dặm ở chỗ hẹp nhất. Xung quanh tối đen - không đèn, không trăng, không sao, chỉ có mặt biển đen như mực và bầu trời đen như khói. Tôi chỉ còn nhìn thấy được những điểm mốc của eo biển, và nếu không có chúng thì tôi đã hoàn toàn bị lạc và mất phương hướng, cuối cùng là đâm vào đá ngầm hoặc bãi cạn.
Ở bên trái, tôi nhìn thấy vài ánh đèn trên bờ và hiểu rằng chúng tôi đang đi ngang qua Greenport nơi có những chiếc máy phát điện dự phòng để thắp sáng. Tôi nói với Beth, “Greenport.”
Nàng gật đầu.
Hai chúng tôi đều có chung một ý nghĩ, đó là tới cảng nước an toàn này. Tôi mường tượng cảnh chúng tôi ở một quán bar nào đó trong một bữa tiệc truyền thống khi có bão với những ngọn nên lung linh và men bia ấm áp.
Đâu đó ở phía bên phải, dù tôi không thể nhìn thấy, là cảng Dering trên đảo Trú ẩn. Tôi biết ở đó có một câu lạc bộ du thuyền và tôi có thể vào nơi này trú ẩn. Greenport và cảng Dering là những mốc lớn dễ định hướng cuối cùng trước khi ra biển khơi. Tôi nhìn Beth và nhắc nàng, “Khi ra khỏi đảo Trú ẩn là sóng gió lại dữ dội hơn đấy.”
Nàng đáp, “Giờ đã dữ lắm rồi.” Nàng nhún vai rồi nói, “Nhìn kỹ một chút nhé. Lúc nào chúng ta cũng có thể quay lại.”
Tôi nghĩ đã đến lúc phải cho nàng biết về lượng xăng còn lại trên tàu. Tôi bảo, “Chúng ta không còn nhiều xăng và khi đến chỗ nào đó trên vịnh Gardiners, chúng ta sẽ không thể quay lại được nữa.”
Nàng liếc nhìn đồng hồ báo xăng và nói, “Đừng lo. Chúng ta sẽ bị lật tàu trước đó nhiều.”
“Nghe giống như một điều ngớ ngẩn mà anh hay nói.”
Nàng mỉm cười với tôi, một điều khá bất ngờ. Nàng đi xuống dưới và quay lên với một vật cứu mạng, tức là một chai bia. Tôi nói, “Chúa phù hộ cho em.” Con tàu lắc lư mạnh và tôi không thể nào để cổ chai vào miệng mà không bị va vào răng. Tôi há miệng, ngửa cổ và đổ bia vào miệng, một nửa phần bia đổ cả lên mặt.
Beth tìm được một tấm hải đồ ép plastic, nàng trải ra trên bảng điều khiển trước mặt và bảo, “Phía trước bên trái ở đàng kia là Cleeves Point, ở bên phải là Hays Beach Point trên đảo Trú ẩn. Khi đi qua các điểm này, chúng ta giống như ở cái phễu giữa Montauk Point và Orient Point nơi thời tiết từ Đại Tây Dương lùa thẳng vào.”
“Thế là tốt hay xấu?”
“Đây không phải thứ để đùa.”
Tôi làm thêm một hớp bia, thứ bia nhập khẩu đắt tiền, và đó là thứ mà tôi đoán Tobin phải có. Tôi nói, “Anh hình như thích ý tưởng lấy cắp tàu của hắn và uống bia của hắn.”
Beth đáp, “Thế cái nào là vui nhất - phá nhà hay đánh đắm tàu của hắn?”
“Tàu không đắm được đâu.”
“Anh nên xuống dưới mà xem.”
“Không cần phải xuống. Anh cầm lái là biết.” Tôi nói thêm, “Một thứ rất tốt để giữ cho tàu nặng thêm.”
“Anh đúng là một thủy thủ thật sự rồi.”
“Anh học nhanh lắm.”
“Đúng thế. Anh nghỉ một chút đi. Để em cầm lái.”
“Được.” Tôi cầm tấm hải đồ, để nàng giữ bánh lái rồi đi xuống bên dưới.
Chiếc cabin nhỏ đã ngập khoảng bảy, tám phân nước, có nghĩa là lượng nước vào lớn hơn công suất của máy bơm. Như tôi đã nói, tôi không ngại một chút nước nhỏ làm tăng trọng lượng tàu để bù lại phần xăng đang vơi đi trong bình chứa. Thật là quá tệ vì động cơ không thể chạy được bằng nước.
Tôi vào trong buồng vệ sinh và ói ra đến nửa lít nước mặn. Tôi rửa mặt và tay cho sạch muối rồi đi sang cabin. Tôi ngồi lên một trong những chiếc giường dài, xem hải đồ và tợp mấy ngụm bia. Cánh tay và vai tôi đã ê ẩm, chân và hông đã rã rời, ngực thở hổn hển, chỉ có dạ dày là cảm thấy khá hơn. Tôi xem hải đồ thêm một, hai phút rồi tới tủ lạnh và tìm thấy một chai bia nữa. Tôi cầm chai bia cùng tấm hải đồ lên boong.
Beth lái khá tốt trong gió bão khi nó không quá tệ ở phía khuất gió của đảo Trú ẩn. Nước biển dâng cao, nhưng điều này là có thể biết trước được. Gió ở phần sát mặt nước không quá mạnh khi nào chúng tôi còn có hòn đảo che chắn.
Tôi nhìn ra phía chân trời và có thể nhìn thấy đường đen mờ của hai điểm đánh dấu sự kết thúc của vùng eo biển an toàn. Tôi nói với Beth, “Để anh cầm lái. Em lấy tấm hải đồ đi.”
“Được.” Nàng gõ gõ lên tấm hải đồ và nói, “Phía trước khi định hướng phải có chút mẹo mực. Anh phải luôn ở bên phải ngọn hải đăng Long Beach Bar.”
“Được rồi.” Tôi đáp. Chúng tôi đổi vị trí cho nhau. Khi đi sát qua tôi, nàng liếc về phía đuôi tàu và la lên.
Tôi tưởng phải là một đợt sóng khổng lồ mới khiến nàng phản ứng như thế. Tôi ngoái đầu nhìn lại trong lúc tay giữ bánh lái.
Tôi không thể tin vào mắt mình - một chiếc tàu tuần dương khổng lồ, chính xác hơn là một chiếc Christ-Craft, cụ thể là chiếc Autumm Gold- cách đuôi tàu của chúng tôi không quá sáu mét, đang sắp đâm vào tàu tôi và tăng tốc.