Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

Chúng tôi đứng trên con đường nhỏ gần chiếc xe cảnh sát màu đen của Beth Penrose. Đã gần sáu giờ chiều. Tôi nói, “Một chút cốc tai nhé?”

Nàng đáp, “Anh có tìm được nhà bà Margaret Wiley không?”

“Có thể. Bà ấy có phục vụ cốc tai sao?”

“Chúng ta sẽ hỏi. Lên xe đi.” Tôi lên xe. Nàng khởi động chiếc xe động cơ lớn và chúng tôi hướng về phía bắc qua Nassau Point, vượt qua con đường cao và tới vùng đất liền của North Folk.

“Đường nào đây?” Nàng hỏi.

“Rẽ phải, tôi nghĩ thế.”

Nàng rẽ đột ngột gây nên tiếng rít lớn ở lốp. Tôi nói, “Chậm lại đi.”

Nàng cho xe chạy chậm lại.

Thật dễ chịu khi hạ cửa kính xuống, ánh mặt trời đang thấp dần, làn không khí trong lành, tất cả mọi thứ. Giờ chúng tôi đã ở cách xa khu vực vịnh và đang ở vùng đồng quê với những trang trại và vườn nho. Tôi nói, “Khi tôi còn nhỏ, có hai loại trang trại - những trang trại khoai tây chủ yếu của các gia đình người Ba Lan hoặc Đức đến đây từ hồi đầu thế kỉ hai mươi, và những trang trại trồng hoa quả và rau chủ yếu của những người định cư lâu đời. Ở đây có những trang trại do các gia đình sở hữu đã tới ba trăm năm mươi năm. Thật khó mà hiểu được.”

Nàng im lặng một lúc rồi nói, “Gia đình tôi cũng sở hữu một trang trại trong một trăm năm đấy.”

“Thật à? Và bố cô đã bán đi.”

“Phải bán thôi. Khi tôi sinh ra, trang trại nằm ở khu vục giữa ngoại ô.” Nàng nói thêm, “Người ta cho là nhà tôi kì quặc. Tôi còn bị bạn bè ở trường chê cười. Vì là con nhà nông dân.” Nàng mỉm cười và nói, “Nhưng bố tôi là người được cười sau cùng. Một triệu đô la cho khu đất. Khoản tiền lớn hồi đó đấy.”

“Bây giờ cũng là lớn.” Tôi hỏi, “Cô đã thừa kế chưa?”

“Chưa. Nhưng tôi đang tiêu phung phí cho một quỹ tín thác.”

Tôi hỏi, “Cô có lấy tôi không?”

“Không. Nhưng tôi sẽ để anh lái chiếc BMW của tôi.”

“Đi chậm lại và rẽ trái ở đằng kia.”

Nàng rẽ trái và chúng tôi lại hướng về phía bắc. Nàng liếc nhìn tôi và nói, “Tôi biết là anh đã lấy vợ.”

“Ly hôn rồi.”

“Đã kí, đóng dấu và gửi đi?”

“Tôi nghĩ thế.” Thực ra, tôi cũng chẳng nhớ là đã nhận được các giấy tờ cuối cùng chưa.

“Tôi nhớ một bản tin trên ti vi... khi anh bị thương... một cô vợ hấp dẫn đến thăm ở bệnh viện cùng với ông thị trưởng và vị cao ủy của cảnh sát... anh có nhớ không?”

“Không nhớ lắm. Có nghe chuyện đó.” Tôi nói, “Rẽ phải rồi rẽ trái luôn.”

Chúng tôi đến đường Hải đăng, tôi nói, “Chạy chậm thôi để tôi nhìn số nhà.”

Hai bên con đường nhỏ dẫn tới ngọn hải đăng Horton Point cách đó một dặm lác đác những ngôi nhà nhỏ, xung quanh là những vườn nho.

Chúng tôi tới một căn nhà nhỏ xây gạch trông dễ chịu có chiếc hòm thư đề chữ “Wiley”. Beth dừng xe trên mép cỏ. “Tôi đoán là đây rồi.”

“Có lẽ thế. Cuốn danh bạ điện thoại đầy người có tên Wiley. Có thể là những người già lập dị.”

Chúng tôi xuống xe và đi theo con đường trải đá tới cửa trước ngôi nhà. Nhà không có chuông nên chúng tôi gõ cửa và chờ đợi. Một chiếc xe đỗ dưới gốc cây sồi to bên sườn nhà. Chúng tôi đi quanh tới sườn nhà rồi ra phía sau.

Một người phụ nữ gầy gò chừng bảy mươi tuổi mặc váy hoa kiểu mùa hè đang thơ thẩn trong vườn rau. Tôi gọi, “Bà Wiley?”

Bà ngẩng lên nhìn và đi về phía chúng tôi. Chỗ gặp nhau là một bãi cỏ nằm giữa ngôi nhà và khu vườn. Tôi nói, “Tôi là điều tra viên John Corey. Tôi đã gọi cho bà tối qua. Đây là đồng sự của tôi, điều tra viên Beth Penrose.”

Bà già nhìn chằm chằm vào chiếc quần soóc của tôi, và tôi nghĩ có thể có chiếc khuy quần để mở hay thứ gì đó.

Beth đưa cho bà Wiley xem thẻ của nàng. Bà già có vẻ hài lòng với Beth. Nhưng vẫn không chắc chắn lắm về tôi.

Tôi mỉm cười với Margaret Wiley. Bà có đôi mắt màu xám, tóc xám, khuôn mặt trông hay hay với nước da mờ, khuôn mặt làm tôi nhớ đến một bức tranh cũ - không nhớ cụ thể là tranh gì, ai vẽ và phong cách ra sao, chỉ là một bức tranh cũ.

Bà nhìn tôi và nói, “Anh gọi vào lúc rất khuya.”

“Tôi không thể ngủ được. Vụ án mạng làm tôi thức cả đêm, thưa bà Wiley. Tôi xin lỗi.”

“Tôi không nghĩ là tôi cần lời xin lỗi. Tôi có thể giúp gì anh chị?”

Tôi nói, “Chúng tôi quan tâm đến mảnh đất mà bà đã bán cho vợ chồng Gordon.”

“Có lễ tôi đã nói hết cho anh những điều tôi biết rồi.”

“Vâng, thưa bà. Có thể như vậy. Chúng tôi chỉ muốn hỏi thêm một vài câu thôi.”

“Qua bên này ngồi đi.” Bà dẫn chúng tôi tới chỗ mấy chiếc ghế gỗ sơn xanh bên dưới tán liễu rủ và chúng tôi ngồi xuống.

Những chiếc ghế kiểu này khá phổ biến khi tôi còn nhỏ, giờ chúng lại thịnh hành trở lại và có ở khắp nơi. Còn những chiếc ghế trong sân nhà bà Wiley này thì tôi nghi là chưa bao giờ chuyển đi đâu nên việc thịnh hành trở lại cũng không cần thiết. Ngôi nhà, cái sân, bà chủ nhà trong bộ váy dài, cây liễu, chiếc xích đu hoen gỉ, chiếc lốp xe cũ trên sợi dây thừng buộc vào cây sồi - tất cả giống như cảnh vật của những năm 1940, 1950, giống như một bức ảnh cũ được tô màu. Thời gian thực trôi đi chậm chạp hơn ở nơi này. Có câu rằng ở Manhattan hiện tại sôi động đến mức nó làm lu mờ quá khứ. Nhưng ở đây, quá khứ làm lu mờ hiện tại.

Tôi ngửi thấy mùi của biển, biển Long Island Sound, cách đó khoảng một phần tư dặm. Tôi nghĩ luồng gió đã lùa qua những vườn nho gần đây và mang theo hương vị của nó. Một thứ môi trường đặc biệt với biển, nông trại và những vườn nho, một sự kết hợp kì lạ chỉ có thể thấy ở một vài nơi trên suốt cả Bờ Đông.

Tôi nói với bà Wiley, “Bà có một chỗ ở thật đẹp.”

“Cám ơn anh.”

Margaret Wiley là người già thứ ba tôi gặp trong ngày hôm nay và tôi quyết lần này phải làm tốt hơn so với lần gặp Edgar và Agnes. Thực ra, Margaret Wiley sẽ không làm tôi tức điên, tôi cảm thấy thế. Bà thuộc tuýp người đàng hoàng, theo lối gia đình cũ, thẳng thắn và biết tôn trọng người khác. Tôi là một điều tra viên tốt vì tôi có thể nhận đoán tính cách và kiểu người để có cách tiếp cận thích hợp. Điều này không có nghĩa là tôi có hiểu biết, nhạy cảm và biết đồng cảm. Tôi là một con lợn đực độc đoán, vị kỷ và cứng đầu. Đó là tính cách của tôi. Nhưng tôi lắng nghe và tôi nói điều tôi phải nói. Đó là một phần của nghề nghiệp.

Tôi nói với bà Wiley, “Tự bà quản lý nơi này à?”

“Tôi làm là chính. Tôi có một con trai và hai con gái, tất cả đều đã có gia đình và sống trong vùng này. Bốn đứa cháu. Chồng tôi, Thad, đã mất cách đây sáu năm.”

Beth nói nàng rất tiếc khi nghe điều đó.

Chuyện đi chệch hướng, Beth hỏi, “Bà là chủ các vườn nho này à?”

“Tôi là chủ một phần của mảnh đất. Tôi cho những người làm rượu vang thuê. Nông dân thời vụ chỉ thuê theo mùa. Những người làm rượu vang cần đến hai mươi năm, họ bảo thế. Tôi không biết tí gì về nho.” Bà nhìn Beth. “Tôi trả lời thế được chưa?”

“Vâng, thưa bà.” Beth hỏi, “Tại sao bà bán một mẫu cho vợ chồng Gordon?”

“Điều đó thì có liên quan gì đến vụ giết người?”

Beth đáp, “Chúng tôi không biết cho đến khi tìm hiểu thêm về việc mua bán này.”

“Đó chỉ là việc mua bán đất bình thường thôi mà.”

Tôi nói với bà Wiley, “Xin nói thật là tôi cảm thấy kì quặc với việc vợ chồng Gordon bỏ ra nhiều tiền như vậy để mua mảnh đất mà họ không thể xây dựng.”

“Hình như tôi đã nói với anh rồi, họ muốn có chỗ để ngắm biển Sound.”

“Vâng, thưa bà. Họ có nói gì đến mục đích sử dụng nào khác từ mảnh đất không? Chẳng hạn như để câu cá, đỗ tàu, cắm trại?”

“Cắm trại. Họ có nhắc tới chuyện dựng lều. Và câu cá. Họ muốn đi thả câu đêm từ bãi biển chỗ nhà riêng. Họ cũng nói gì đó về chuyện muốn mua một chiếc kính viễn vọng. Họ muốn nghiên cứu thiên văn. Họ đã đến thăm Viện Custer. Anh chị đã đến đó bao giờ chưa?”

“Dạ chưa.”

“Đó là một trạm quan sát nhỏ ở Southold. Vợ chồng Gordon quan tâm đến thiên văn học.”

Điều này mới đối với tôi. Các bạn sẽ nghĩ là những người suốt ngày nhìn lũ vi trùng và virut qua kính hiển vi sẽ không muốn nhìn thêm ống kính nào nữa vào ban đêm. Nhưng bạn làm sao biết được. Tôi hỏi, “Còn chuyện đi tàu thì sao?”

“Anh không thể đi tàu từ đó được, trừ khi đó là ca nô. Mảnh đất ở trên cao và anh không thể đưa bất kì cái gì lên xuống trừ ca nô.”

“Nhưng ta có thể đỗ tàu trên bãi biển?”

“Có thể khi thủy triều lên cao, nhưng ở đó có nhiều đá nguy hiểm dọc theo bờ. Anh có thể thả neo và bơi vào hoặc lội lên bãi biển lúc triều thấp.”

Tôi gật đầu rồi hỏi, “Họ có nhắc tới việc trồng trọt thứ gì đó trên mảnh đất không?”

“Không. Chỗ đó trồng trọt không tốt. Chẳng phải tôi đã nói rồi sao?”

“Tôi không nhớ ra.”

“Tôi thì nhớ.” Bà giải thích, “Bất kể thứ gì trồng trên đó đều phải mất thời gian rất lâu để quen với gió và không khí mang hơi muối.” Bà nói thêm, “Anh có thể thử trông rau ở sườn giáp với đất liền.”

“Đúng.” Tôi thay đổi chiến thuật và hỏi, “Bà có ấn tượng gì với vợ chồng Gordon?”

Bà nhìn tôi, suy nghĩ một lát rồi trả lời, “Một cặp vợ chồng đẹp. Rất dễ chịu.”

“Hạnh phúc?”

“Họ có vẻ hạnh phúc.”

“Họ có hào hứng về chuyện mua đất không?”

“Có thể nói là như vậy.”

“Họ đến hỏi mua trước à?”

“Vâng. Đầu tiên họ hỏi mua - tôi có nghe điều đó khá lâu trước khi họ đến gặp tôi. Khi họ hỏi thì tôi nói là tôi không muốn bán.”

“Tại sao?”

“Vì tôi không muốn bán đất.”

“Tại sao lại không?”

“Đất đai phải giữ lại để cho người đời sau trong gia đình.” Bà nói thêm, “Tôi đã thừa kế mấy mảnh đất của bên gia đình nhà mẹ tôi. Mảnh đất mà vợ chồng Gordon hỏi mua là bên họ nội để lại.” Bà dường như thoáng suy nghĩ rồi nói tiếp, “ông Thad nhà tôi bắt tôi hứa không bán một chút đất nào. ông ấy muốn tôi để lại cho các con. Nhưng chỗ này chỉ có một mẫu. Tôi không cần tiền lắm, tất nhiên rồi, nhưng vợ chồng Gordon cứ như phải lòng với chỗ đất ấy...” bà liếc nhìn tôi và Beth và nói, “Tôi hỏi các con tôi, chúng nghĩ là cha chúng cũng sẽ đồng ý.”

Một điều luôn làm tôi thấy kỳ lạ là các bà góa và con cái họ dù hoàn toàn không biết phải làm gì cho chồng, cha trong ngày Giáng sinh hoặc ngày của các ông bố nhưng lại biết đích xác người quá cố muốn gì sau khi họ đã chết.

Bà Wiley tiếp tục, “Vợ chồng Gordon đều biết mảnh đất này không được thay đổi hiện trạng.”

“Bà đã nói rồi.” Tôi hỏi có ý đồ, “Và vì lí do đó, bà không đồng ý rằng hai mươi lăm nghìn đô la là cao quá mức so với giá thị trường hay sao?”

Bà nhoài về phía trước trên chiếc ghế gỗ kiểu Adirondack và nói với tôi, “Tôi cũng cho họ quyền sử dụng đất của tôi.” Bà nói thêm, “Để rồi xem miếng đất dùng vào việc gì và khi nào thì sở nhà đất bán nó đi.”

“Bà Wiley, tôi không đổ lỗi cho bà về việc kiếm được một món hời. Tôi chỉ muốn biết tại sao vợ chồng Gordon muốn hoặc cần mảnh đất đó đến thế.”

“Tôi đã nói với anh điều họ nói với tôi. Đó là tất cả những gì tôi biết.”

“Cảnh ở đó chắc phải đẹp lắm mới đáng giá hai mươi lăm nghìn đô la nhỉ.”

“Đúng thế.”

Tôi nói, “Bà có nói là bà cho thuê đất trồng trọt.”

“Đúng. Các con trai tôi không thích làm trang trại hay trồng nho cho các xưởng rượu.”

“Vợ chồng Gordon có bao giờ nghĩ đến điều đó không? Ý tôi là, về chuyện thuê đất trồng trọt của bà?”

“Tôi đoán là họ có nghĩ đến.”

“Và họ chưa bao giờ hỏi bà xem họ có thể thuê một phần đất hay không?”

Bà thoáng suy nghĩ rồi nói, “Không, giờ anh mới nhắc đến.”

Tôi liếc nhìn Beth. Rõ ràng chuyện này không hợp lý. Hai nhân viên nhà nước lúc nào cũng có thể bị chuyển nơi làm việc thuê một căn nhà ở vịnh phía nam, sau đó mua một mảnh đất ở bờ bắc với giá hai mươi lăm nghìn đô la để thêm một chỗ ngắm cảnh biển. Tôi hỏi bà Wiley, “Nếu họ đề nghị được thuê một mẫu đất của khu đó thì bà có đồng ý không?”

Bà gật đầu. “Có lẽ tôi thích như vậy hơn.”

“Bà sẽ đòi giá bao nhiêu một năm?”

“Ồ... tôi không biết... chỗ đất đó không sử dụng được... Tôi nghĩ một nghìn là hợp lí.” Bà nói thêm, “Chỗ đó cảnh đẹp lắm mà.”

Tôi nói, “Bà có thể vui lòng chỉ cho chúng tôi chỗ đất đó được không?”

“Tôi có thể chỉ đường cho anh chị. Hoặc anh chị có thể tìm trên sổ địa chính của phòng hành chính quận.”

Beth nói, “Chúng tôi thực sự hoan nghênh nếu bà đi cùng chúng tôi.”

Bà Wiley nhìn đồng hồ, rồi quay sang Beth. “Được.” Bà đứng dậy. “Tôi sẽ quay lại ngay.”

Bà đi vào trong nhà qua chiếc cửa rèm.

Tôi nói với Beth, “Con vịt già ương bướng.”

“Anh toàn nghĩ xấu về người khác.”

“Lần này tôi rất tử tế đấy chứ.”

“Đấy là cái anh gọi là tử tế à?”

“Đúng, tôi đang tử tế đấy.”

“Sợ thật.”

Tôi chuyển chủ đề và nói, “Vợ chồng Gordon buộc phải có được chỗ đất đó.”

Nàng gật đầu.

“Tại sao?”

“Tôi không biết... Anh nói đi.”

“Nghĩ đi.”

“Được...”

Bà Wiley đi ra từ cửa sau và không đóng cửa. Bà mang theo túi xách tay nhỏ và chìa khóa xe ô tô. Bà đi về phía xe của mình, một chiếc Dodge màu xám đã dùng khoảng năm năm. Nếu Thad mà còn sống, chắc ông ấy cũng đồng ý.

Beth và tôi lên xe của nàng và theo sau bà Wiley. Chúng tôi rẽ phải lên đường Middle Road. Con đường có bốn làn xe chạy theo hướng đông-tây, song song với đường con đường Main Road cũ từ thời thuộc địa. Đường Middle Road chạy xuyên qua những trang trại, những vườn nho, với những khung cảnh đẹp tràn ngập ở mọi hướng. Ánh mặt trời chiếu lên cửa kính chắn gió tạo cảm giác dễ chịu, không khí mang hương vị của nho, một cô gái xinh xắn tóc nâu đồng đang lái xe, và nếu không phải đang đi điều tra vụ án mạng giết hai người bạn thì chắc tôi đã huýt sáo rồi.

Ở bên trái, cách khoảng một dặm về phía bắc, tôi có thể nhìn thấy nơi đất trồng trọt đang bằng phẳng đột ngột dựng đứng lên như một bức tường, dốc đến mức không thể trồng gì được ở đó. Mặt dốc phủ toàn những cây lớn và những bụi cây lúp xúp. Thực ra nơi đó, mặt dốc phía bắc thấp dần xuống mặt nước, nhưng từ đây thì không thể nhìn thấy biển. Bức tường dựng đứng kia dường như là một dãy đồi thấp.

Bà Wiley lái xe rất hăng, chúng tôi lao vù qua những chiếc máy kéo và xe bán tải.

Một tấm biển chỉ đường cho biết chúng tôi đang ở thôn Peconic. Hai bên đường là những vườn nho với những tấm biển gỗ sơn hình các biểu trưng, rất thượng lưu, hứa hẹn các loại rượi vang đắt tiền. Tôi nói với Beth, “Vốt ca khoai tây. Là nó đấy. Tôi chỉ cần hai mươi mẫu và một chiếc máy chưng cất. Corey và Krumpinski, một loại vốt ca khoai tây hảo hạng, tự nhiên và có thêm hương vị. Tôi sẽ nhờ Martha Stewart[1] viết sách dạy nấu ăn và nghĩ ra các món ăn cùng với vốt ca - trai, sò, hàu. Rất thượng lưu. Cô nghĩ thế nào.”

“Krumpinski là ai?”

“Tôi không biết. Là đàn ông. Vốt ca Ba Lan. Stanley Krumpinski. Ông này rao bán sự sáng tạo. Ông ta ngồi ở nhà và phán những lời bí ẩn về rượu vốt ca. Ông ta chín mươi lăm tuổi. Người anh em sinh đôi Stephen của ông là người uống rượu vang và chết năm ba mươi lăm tuổi. Sao?”

“Để tôi nghĩ chuyện này. Trong khi đó, một mẫu đất mua với giá quá cao có lẽ không hợp lí nếu anh cho ràng vợ chồng Gordon có thể thuê cùng diện tích đó với giá chỉ một nghìn đô la. Điều này có liên quan đến vụ giết người hay không?”

“Có thể. Mặt khác, nó có thể chỉ là do vợ chồng Gordon không biết định giá, hoặc thậm chí là một vụ lừa lọc đất cát.” Tôi nói, “Vợ chồng Gordon có thể đã tìm được cách để lấy lại quyền xây dựng. Do đó, họ mua một miếng đất giáp mặt nước với giá hai mươi lăm nghìn trở thành đất xây dựng với giá cả trăm nghìn. Lãi to.”

Nàng gật đầu. “Tôi sẽ nói gặp phòng hành chính quận để tìm hiểu giá mua bán so sánh.” Nàng liếc nhìn tôi khi đang lái xe và nói, “Anh chắc đã có một giả thuyết khác.”

“Có thể thôi. Không hẳn.”

Nàng im lặng một lát rồi nói, “Họ cần phải có mảnh đất. Đúng không? Tại sao? Xây dựng? Làm đường? Một dự án công viên lớn của bang? Dầu lửa, khí đốt, than đá, kim cương, đá quí...? Là cái gì đây?”

“Không có thứ khoáng sản nào ở Long Island, không kim loại quí, không đá quí. Chỉ có cát, đất và đá. Đến tôi mà còn biết như vậy.”

“Đúng... nhưng anh đã có gì đó trong đầu.”

“Không có gì cụ thể. Chỉ là... cảm giác... chẳng hạn như tôi biết cái gì có liên quan và cái gì không, giống như các bài kiếm tra liên hệ hình ảnh. Cô biết chứ? Cô có bốn bức tranh - một con chim, một con ong, một con gấu và một chiếc bồn vệ sinh. Cái nào không cùng loại với những cái còn lại?”

“Con gấu.”

“Con gấu? Tại sao?”

“Vì nó không biết bay.”

“Nhưng cái bồn vệ sinh cũng đâu có biết bay.”

“Vậy con gấu và cái bồn vệ sinh không cùng loại với hai thứ kia.”

“Cô không... Dù sao, tôi có thể cảm giác được cái gì nằm trong nhóm và cái gì không.”

“Giống như tiếng ping trong đầu.”

“Đại loại thế.”

Đèn phanh trên xe của Wiley bật sáng. Bà rẽ từ đường cao tốc vào một con đường đồng đầy bụi bẩn. Beth không chú ý suýt chạy vượt qua lối rẽ và tạt gấp nghiêng cả xe.

Chúng tôi đi theo phía bắc, hướng về phía những dốc đứng ra biển bên con đường đất đầy bụi, bên trái là cánh đồng khoai tây, bên phải là một vườn nho. Xe chạy với tốc độ ba mươi dặm một giờ, bụi bay khắp nơi, thậm chí tôi còn thấy vị của bụi nơi đầu lưỡi. Tôi kéo cửa kính lên và bảo Beth làm như tôi.

Nàng làm theo, rồi nói một câu chẳng liên quan gì, “Chúng ta sắp đến đại lộ ba mươi ba và ba[2].”

“Tôi đâu có nói giọng kiểu đấy. Tôi không thấy có gì đáng buồn cười.”

“Tôi nghe anh.”

Bà Wiley rẽ vào một con đường mòn đầy vết xe lún chạy song song với bờ biển khi đó chỉ còn cách khoảng bốn năm chục mét. Đi được vài trăm mét, bà dừng xe lại ở giữa đường và Beth đỗ ngay phía sau.

Bà Wiley xuống xe, chúng tôi cũng xuống, người đầy bụi, cả trong xe lẫn ngoài xe cũng toàn bụi.

Chúng tôi đến cạnh bà Wiley khi đó đang đứng dưới chân dốc. Bà nói. “Hai tuần rồi chưa có mưa. Những người trồng nho thích thời tiết như thế vào thời gian này. Họ bảo như vậy nho ngọt hơn, không bị nhạt vì nhiều nước. Sẵn sàng để thu hoạch.”

Tôi đang phủi bụi trên áo và lông mày, không văng ra câu nào.

Bà Wiley tiếp tục, “Khoai tây cũng không cần mưa vào thời gian này. Nhưng rau và cây ăn quả lại cần nhiều nước.”

Tôi thật sự, thật sự là không quan tâm, nhưng không biết làm cách nào để thể hiện ra mà không bất lịch sự. Tôi nói, “Tôi đoán là có người thì đang cầu mưa, có người lại đang cầu nắng. Cuộc sống là vậy.”

Bà nhìn tôi và nói, “Anh không phải người ở quanh đây, đúng không?”

“Đúng, thưa bà. Nhưng ông cậu tôi có một chỗ ở đây. Tên ông ấy là Harry Bonner, em trai của mẹ tôi. Ông có một trang trại sát vịnh ở Mattituck.”

“Ồ, đúng rồi. Vợ ông ấy là June mất cùng dạo với ông Thad nhà tôi.”

“Có lẽ đúng đấy ạ.” Tôi không hoàn toàn ngạc nhiên trước việc Margaret Wiley biết cậu Harry. Dân định cư ở đây chỉ khoảng hai mươi nghìn người, ít hơn năm nghìn so với số người làm việc trong tòa nhà Empire State Building ở thành phố New York. Tôi không có ý nói là hai mươi lăm nghìn người làm việc trong tòa nhà đó đều biết nhau. Nhưng tôi đoán là Margaret và ông chồng Thad Wiley quá cố có biết cậu Harry và mợ June Bonner đã mất. Tôi chợt có ý nghĩ kì cục là tôi sẽ gán bà Margaret và cậu Harry khùng với nhau, họ sẽ lấy nhau, bà ấy sẽ chết, cậu Harry cũng sẽ chết và để lại cho tôi hàng nghìn mẫu đất ở North Fork. Tôi sẽ phải giết cả mấy người em họ đi, tất nhiên rồi. Nghe hơi Shakespeare quá. Tôi có cảm giác là mình đã ở ngoài này quá lâu trong thế kỷ hai mươi.

“John? Bà Wiley đang nói kìa.”

“Ồ, xin lỗi. Tôi bị thương hơi nặng, thỉnh thoảng vẫn hơi lẩn thẩn như vậy.”

“Trông anh yếu lắm.” Bà Wiley cho tôi biết.

“Cám ơn bà.”

“Tôi đang nói, cậu anh thế nào rồi?”

“Rất khỏe mạnh. Ông ấy đã trở lại thành phố. Kiếm được rất nhiều tiền ở phố Wall. Nhưng rất cô đơn từ khi mợ June mất.”

“Cho tôi gửi lời hỏi thăm ông ấy.”

“Vâng, tôi sẽ nói lại với ông.”

“Mợ anh là một người phụ nữ tốt.” Bà nói với giọng như ý rằng, “Sao bà ấy lại có thằng cháu họ mạt hạng thế này chứ.”

Margaret nói tiếp, “June là một nhà khảo cổ và sử gia không chuyên giỏi.”

“Đúng. Hội Lịch sử Peconic. Bà cũng là thành viên của hội à?”

“Vâng. Tôi quen bà June ở đó. Ông cậu anh không quan tâm, nhưng ông ấy có tài trợ cho một vài cuộc khai quật. Chúng tôi đào phần móng của một ngôi nhà xây trong trang trại từ năm 1681. Anh nên đến xem bảo tàng của chúng tôi nếu chưa đến lần nào.”

“Thực ra tôi định đến đó vào hôm nay nhưng lại có việc đột xuất khác.”

“Chúng tôi chỉ mở cửa vào các ngày cuối tuần sau ngày lễ Lao động. Nhưng tôi có chìa khóa.”

“Tôi sẽ gọi cho bà. Tôi nhìn ra ngọn dốc trồi lên khỏi mặt đất bằng phẳng. Tôi hỏi bà Wiley, “Đây là mảnh đất của vợ chồng Gordon à?”

“Đúng đấy. Anh có nhìn thấy chiếc cọc ở đằng kia không? Đó là góc phía tây nam của mảnh đất. Xuôi con đường này xuống khoảng gần một trăm mét là góc đông nam. Mảnh đất tính từ đây cho tới đỉnh dốc rồi qua bên kia và kết thúc ở mép nước lúc thủy triều lên cao.”

“Thật hả? Không được chính xác lắm nhỉ.”

“Đủ chính xác đấy. Đó là tục lệ và pháp luật. Mép nước lúc thủy triều lên cao. Bờ biển là của tất cả mọi người mà.”

“Đó là lí do tôi yêu đất nước này.”

“Anh ấy hả.”

“Đúng thế.”

Bà nhìn tôi và nói, “Tôi là thành viên của tổ chức Những người con gái của cách mạng Mỹ.”

“Tôi nghĩ thế.”

“Dòng họ Willise nhà tôi đã sống ở đây từ năm 1653.”

“Chúa ơi.”

“Họ tới Massachusetts trên con tàu Fortune sau tàu Mayflower[3]. Sau đó họ tới đảo Long Island này.”

“Thật khó tin. Suýt nữa thì bà đã trở thành hậu duệ của những người trên tàu Mayflower-"

Bà đáp, “Tôi là hậu duệ của tàu Fortune.” Bà nhìn quanh, tôi cũng nhìn theo hướng mắt bà. Phía nam, ở bên phải là ruộng khoai tây và bên trái là vườn nho. Bà nói, “Thật khó mà hình dung ra cuộc sống ra sao vào thế kỷ mười sáu. Hàng nghìn dặm từ nước Anh, những cánh đồng bây giờ hồi ấy đều là rừng, người ta phát quang bằng rìu và bò kéo, lạ đất lạ nước, vật nuôi thì ít, không có đủ quần áo, dụng cụ, giống cây trồng, thuốc súng, đạn, rồi người da đỏ thù địch lúc nào cũng rình rập xung quanh.”

“Nghe cứ như công viên Central Park sau nửa đêm vào tháng Tám nhỉ.”

Margaret Wiley không để ý đến tôi và nói tiếp, “Thật khó cho những người như chúng tôi - ý tôi là những người cùng thời với tôi - khi phải rời bỏ dù chỉ một mẫu đất.”

“Đúng.” Nhưng với hai mươi lăm nghìn đô la thì có thể nói chuyện được đấy. Tôi nói, “Tôi đã có lần tìm thấy một viên đạn súng hỏa mai.”

Bà nhìn tôi như thể tôi là thằng dở hơi. Bà quay sang nói mấy câu tầm phào với Beth rồi bảo, “Anh chị không cần tôi phải dẫn lên đỉnh dốc đâu. Có đường lên ngay kia, không khó đi lắm, nhưng phải cẩn thận khi ở bên kia, dốc đứng lắm đấy, lại không có nhiều chỗ để bám chân.” Bà nói thêm. “Chỗ này là dấu tích kết thúc của thời kì băng hà cuối. Sông băng kết thúc ở chính chỗ này.”

Thì tảng băng lớn đang đứng trước mặt tôi chứ đâu. Tôi nói, “Cám ơn bà đã dành thời gian và sự kiên nhẫn cho chúng tôi.”

Bà già định đi thì quay sang Beth hỏi, “Cô có biết ai đã làm chuyện đó không?”

“Không, thưa bà.”

“Nó có liên quan gì tới công việc của họ không?”

“Có chút ít. Nhưng không phải là chiến tranh vi trùng hay bất cứ thứ gì nguy hiểm.”

Margaret có vẻ không tin lắm. Bà quay ra xe, nổ máy và chạy đi, để lại đám bụi mù mịt phía sau. Tôi gọi với theo, “Ăn bụi tôi đây này, Margaret. Đồ già- ”

“John!”

Tôi phủi bụi lần nữa trên quần áo và nói với Beth, “Cô có biết tại sao những người trong tổ chức Những người con gái của cách mạng Mỹ không làm tình tập thể không?”

“Không, nhưng chắc tôi sắp biết.”

“Đúng đấy. Họ không làm tình tập thể vì họ không muốn phải viết tất cả các thư cảm ơn.”

“Những trò đùa này không bao giờ hết đúng không?”

“Cô biết mà.”

Hai chúng tôi nhìn lên phía sườn dốc. Tôi nói, “Ta lên xem phong cảnh hai mươi lăm nghìn đô la ra sao?”

Chúng tôi thấy một con đường nhỏ và tôi đi trước. Con đường đi qua những bụi cây rậm rạp, những cây sồi còi cọc, mấy cái cây to hơn trông như cây thích, nhưng có thể là cây chuối, tôi chỉ biết có vậy.

Beth mặc chiếc váy kaki pôpơlin, đi giày vải nên cũng không được thoải mái lắm. Tôi kéo nàng qua mấy chỗ cao. Nàng kéo váy lên, hay tự nó xô lên, còn tôi thì được ngắm đôi chân hoàn mỹ.

Chúng tôi chỉ còn cách đỉnh chừng mười lăm mét, tương đương với leo cầu thang bộ lên nhà năm tầng mà trước đây tôi đủ năng lượng để sau khi trèo lên còn đạp cửa xông vào, quật ngã một thủ phạm xuống sàn, tra còng vào tay rồi lôi xuống đường tống vào xe cảnh sát. Nhưng đó là hồi trước. Bây giờ khác, tôi đã cảm thấy run chân, mắt đã thấy hoa cà hoa cải, tôi phải đứng lại và quỳ xuống.

Beth hỏi, “Anh không sao chứ.”

“Không sao... chỉ một phút thôi...” Tôi ngồi thở một chập rồi tiếp tục đi.

Chúng tôi lên đến đỉnh. Cây cối ở đây còi cọc hơn nhiều bởi gió và hơi nước mặn. Chúng tôi nhìn ra biển Long Island Sound, quả thật đó là cảnh tượng không thể tin được. Mặc dù ở sườn phía nam từ chân đến đỉnh chỉ khoảng mười lăm mét, nhưng ở sườn bắc dốc xuống bờ biển là ba chục mét. Nó dốc thật, như bà Wiley đã cảnh báo, và khi nhìn xuống từ trên đỉnh, chúng tôi có thể thấy những đám cỏ biển, những đường rãnh xói và bùn lở, những tảng đá rơi khắp trên bãi biển xinh đẹp chạy dài hàng dặm theo hướng đông - tây.

Biển Sound tĩnh lặng, vài chiếc thuyền buồm và tàu máy trên biển. Một chiếc tàu chở hàng khổng lồ đang chạy về phía tây tới New York hoặc một chiếc cảng nào đó ở Connecticut. Xa xa chừng mươi dặm, chúng tôi có thể nhận ra đường bờ biển phía Connecticut.

Vách đứng chạy về phía tây chừng một dặm và mất hút nơi đất liền nhô ra biển Sound. Ở phía đông, nó kéo dài cùng bờ biển nhiều dặm và kết thúc ở mũi Horton Point, nơi có thể nhận ra được vì có ngọn hải đăng.

Phía sau chúng tôi nơi con đường vừa đi lên là những vùng đất trồng trọt bằng phẳng. Từ trên cao, chúng tôi có thể nhìn thấy những cánh đồng khoai tây, nho, cây ăn quả và ngô. Những ngôi nhà bằng ván gỗ trông lạ mắt cùng những nhà kho màu trắng chứ không phải đỏ nằm giữa những cánh đồng xanh mướt. Tôi nói, “Cảnh tuyệt thật.”

“Tuyệt đẹp,” Beth đồng ý. Nàng hỏi, “Có đáng giá hai mươi lăm nghìn không?”

“Đó là vấn đề.” Tôi nhìn nàng. “Cô nghĩ sao?”

“Về lý thuyết thì không. Nhưng đến đây rồi thì có.”

“Nói hay lắm.” Tôi nhìn thấy một phiến đá nằm trên đám cỏ cao liền ngồi lên đó và nhìn chăm chú ra biển.

Beth đứng cạnh tôi, cũng nhìn ra biển. Cả hai người đầy mồ hôi, dơ dáy, mệt thở không ra hơi. “Đến lúc phải có cốc tai rồi,” tôi nói, “Quay lại thôi.”

“Một chút đã. Hãy là Tom và Judy. Hãy nói với tôi họ muốn gì ở đây, họ đang tìm kiếm thứ gì.”

“Được...” Tôi đứng lên trên tảng đá và nhìn quanh. Mặt trời đang xuống dần. Bầu trời phía đông đang chuyển sang màu tía, phía tây màu hồng, còn trên đỉnh đầu màu xanh. Những con mòng biển chao lượn, những con sóng bạc đầu nối đuôi nhau trên biển. Tiếng chim hót trên những ngọn cây. Một làn gió mát thổi về từ phía đông bắc mang theo mùi của mùa thu và của muối. Tôi nói với Beth, “Ta đã làm việc cả ngày trên Đảo Plum, trong khu kiểm soát sinh học, mặc quần áo phòng thí nghiệm, xung quanh là virut. Ta tắm để ra ngoài, đi vội tới chỗ chiếc Spirochete hoặc tới bến phà, vượt qua eo biển, lên xe ô tô và tới đây. Nơi đây thoáng đãng, sạch sẽ và làm con người thêm sinh khí. Đây là cuộc sống... Ta mang theo một chai vang và một tấm chăn. Ta uống rượu và làm tình, ta nằm trên tấm chăn và nhìn những vì sao trên trời xuất hiện. Có thể ta xuống biển và bơi hoặc lướt sóng dưới bầu trời trăng sao. Ta như cách xa phòng thí nghiệm hàng triệu dặm. Ta về nhà và chuẩn bị cho một ngày mới trong khu kiểm soát sinh học.”

Beth im lặng một lúc rồi không đáp lời, nàng đi ra mép gò rồi quay sang chỗ cái cây lớn duy nhất trên đỉnh, một cây sồi xương xẩu cao chừng ba mét. Nàng cúi xuống rồi đứng thẳng lên, tay cầm một cuộn dây. “Nhìn này.”

Tôi tới chỗ nàng và quan sát thứ nàng tìm được. Sợi dây làm bằng nilon màu xanh có đường kính gần phân ruỡi với những nút thắt cách nhau khoảng một mét một. Một đầu dây buộc chặt vào gốc cây. Beth nói, “Có lẽ đủ dây để tụt xuống bờ biển đấy.”

Tôi gật đầu. “Có cái này trèo lên trèo xuống sẽ dễ dàng hơn.”

“Đúng vậy.” Nàng quỳ chân và nhìn xuống dưới chân dốc. Tôi cũng làm giống nàng. Chúng tôi thấy vết cỏ vạt đi vì chân người giẫm lên để trèo. Như tôi đã nói, dốc rất đứng, nhưng không phải là quá khó đối với người bình thường, kể cả khi không có dây thừng.

Tôi cúi thêm về phía mép và nhận ra nơi cỏ bị nước xói có những lớp đất sét và sắt màu đo đỏ. Tôi nhận ra một thứ khác: cách khoảng ba mét phía dưới có một chỗ trông như cái hốc. Beth cũng nhận ra và nói, “Để tôi xuống xem sao.”

Nàng kéo sợi dây và hài lòng thấy nó buộc đủ chắc vào gốc cây, còn gốc cây bám chắc vào đất. Nàng dùng cả hai tay bám dây đi lùi xuống chỗ cái hốc. Tới nơi nàng giật giật sợi dây. Nàng gọi lên, “Xuống đây đi. Hay lắm.”

“Được.” Tôi cầm dây bằng một tay và bước xuống dốc rồi đứng cạnh Beth.

Nàng nói, “Anh nhìn này.”

Cái hốc dài khoảng ba mét và sâu chừng chín mươi phân ở chỗ rộng nhất. Ở giữa hốc là một cái hang, nhưng không phải tự nhiên vì tôi vẫn còn thấy vết xẻng đào. Beth và tôi cúi thấp xuống nhìn vào của hang. Cửa hang nhỏ, đường kính chưa đầy một mét và chỉ sâu độ mét hai, không có thứ gì bên trong. Tôi không thể hình dung được nó dùng để làm gì, nhưng tôi đoán, “Có thể cất đồ ăn trưa picnic và một thùng ướp lạnh rượu vang trong đó.”

Beth thêm vào, “Anh có thể cho hai chân vào còn người thì ở ngoài mà nằm ngủ.”

“Hoặc làm tình.”

“Sao tôi biết được anh sắp nói câu đó nhỉ?”

“Ồ, thật đấy.” Tôi đứng lên. “Họ có thể dự định đào thêm cho rộng ra.”

“Để làm gì?”

“Tôi không biết.” Tôi quay ra phía biển và ngồi xuống, hai chân thả đung đua qua mép đá. “Thế này tốt đấy. Mời ngồi.”

“Tôi đang lạnh.”

“Đây, cô có thể dùng áo phông của tôi.”

“Không, nó bốc mùi.”

“Cô thì cũng thơm tho gì đâu.”

“Tôi mệt, tôi bẩn, vớ của tôi bị cào xước cả, và tôi muốn vào phòng tắm.”

“Ở đây lãng mạn cơ mà.”

“Có thể. Nhưng không phải lúc này.” Nàng đứng lên, cầm lấy sợi dây và leo lên đỉnh. Tôi chờ cho đến khi nàng lên tới nơi rồi cũng lên theo.

Beth cuộn sợi dây lại và đặt vào gốc cây như lúc ban đầu. Nàng quay lại và chúng tôi đứng mặt đối mặt, cách nhau chỉ chừng gang tấc. Đó là một trong những khoảnh khắc khó xử, và chúng tôi đứng như thế đúng ba giây. Tôi đưa tay lên vuốt tóc nàng, rồi má nàng. Tôi tiến thêm định ôm nàng, đinh ninh rằng hai người sẽ môi kề môi, nhưng nàng lùi lại và thốt ra một câu thần chú mà mọi đàn ông Mỹ hiện đại đều được tập để biết, cách phản xạ lại. “Không.”

Tôi ngay lập tức nhảy lùi lại hai mét, nắm chặt hai tay vào nhau để sau lưng. Khúc gỗ nhỏ của tôi xìu xuống như cây đổ. Tôi thốt lên, “Tôi lầm tưởng những câu đùa thân mật của cô là mời gọi. Xin tha lỗi cho tôi.”

Thực ra, nó không hẳn như vậy. Nàng quả có nói “Không”, nhưng tôi ngập ngừng, nét thất vọng khốn khổ trên khuôn mặt, và nàng nói, “Không phải bây giờ,” điều này tốt, rồi “có thể lúc khác,” câu này tốt hơn, và sau đó là “em thích anh,” câu này là tốt nhất.

Tôi nói, “Còn thời gian mà.” Điều này tôi nói thật lòng, chỉ cần nàng đừng cần nhiều hơn bảy mươi hai giờ, giới hạn của tôi. Thật ra, tôi đã phải chờ lâu hơn.

Chúng tôi không nói gì thêm về chuyện đó mà đi xuống phía bên kia và lên xe.

Nàng nổ máy, cho xe đi rồi lại dừng lại. Nàng vươn người sang và hôn lên má tôi gọi là cho có hôn rồi cho xe chạy, để lại đám bụi phía sau.

Đi được một dặm, chúng tôi ra đen đường Middle Road. Nàng định hướng tốt và nhằm trở lại hướng Nassau Point, không cần tôi chỉ đường.

Nàng nhìn thấy một nơi bán hàng ngoài trời, và cả hai chúng tôi người nào vào toa let của người nấy và xả hơi, như người ta nói thế. Tôi không nhớ lần cuối cùng tôi trông bẩn thỉu nhếch nhác là khi nào. Tôi là một gã bảnh bao đi làm việc, một anh chàng Manhattan ăn diện trong những bộ đồ may đo. Tôi thấy mình lại như đứa trẻ, là Johnny bẩn thỉu đi đào bới quanh những khu vục chôn cất của người da đỏ.

Ở chỗ bán hàng, tôi mua mấy thứ đồ ăn thật sự kinh khủng - thịt bò khô, bánh quy giòn bơ lạc, và kẹo chip hình gấu. Ra xe, tôi mời Beth nhưng nàng từ chối. Tôi nói, “Nếu em nhai tất cả những thứ này với nhau sẽ có vị giống như một món của Thái Lan gọi là Sandang Phon. Anh tình cờ phát hiện ra đấy.”

“Em hy vọng thế.”

Chúng tôi lái xe đi được vài phút. Cái món hổ lốn gồm thịt bò khô, bánh quy bơ lạc và kẹo chip quả thật kinh khủng, nhưng tôi đang đói và muốn đây cái thứ bụi kia ra khỏi cô họng. Tôi hỏi Beth, “Em nghĩ sao? Ý anh là mảnh đất ấy?”

Nàng thoáng suy nghĩ, rồi nói, “Em nghĩ nếu gặp vợ chồng Gordon trước chắc em sẽ thích họ.”

“Em sẽ thích thật đấy.”

“Anh buồn à?”

“Ừ... họ không phải là bạn thân nhất... anh mới chỉ biết họ được vài tháng, nhưng họ thực sự là những người tốt, luôn hài hước và đầy sức sống. Họ còn quá trẻ để phải chịu kết cục như vậy.”

Nàng gật đầu.

Chúng tôi qua con đường đắp cao tới Nassau Point. Trời đang tối dần.

Nàng nói, “Đầu óc em đang nói với em rằng mảnh đất này không có gì ẩn chứa đằng sau. Một nơi ẩn dật lãng mạn, một nơi để gọi là của riêng họ. Họ là người của miền Trung Tây, có lẽ họ đến từ đại lục, và ở đây họ thấy mình là những người đi thuê ở một nơi mà đất đai rất có ý nghĩa, giống như nơi quê hương của họ.”

“Đúng.”

“Và...

“Đúng. Và họ có thể đã tiết kiệm được hai mươi nghìn đô la nếu họ thuê trong năm năm.” Tôi nói thêm, “Họ phải sở hữu mảnh đất. Hãy nghĩ về điều này.”

“Em đang nghĩ đây.”

Chúng tôi đến nơi vợ chồng Gordon đã từng sống và Beth đỗ xe ngay sau chiếc Jeep của tôi. Nàng nói, “Một ngày thật dài.”

“Quay về chỗ của anh đi. Đi theo anh nhé.”

“Không, tối nay em về nhà.”

“Tại sao?”

“Không có lí do gì để ở đây thêm cả hai mươi bốn tiếng một ngày nữa, mà cảnh sát quận sẽ không trả tiền nhà nghỉ.”

“Về nhà anh trước đã. Anh phải đưa cho em tập giấy tờ lấy từ máy tính mà.”

“Để mai cũng được.” Nàng nói, “Sáng mai em cần phải đến cơ quan. Sao chúng ta không gặp nhau lúc năm giờ sáng mai?”

“Ở chỗ của anh.”

“Được. Chỗ của anh, năm giờ. Đến lúc đó em sẽ có một chút thông tin.”

“Anh cũng vậy.”

“Em không muốn anh làm thêm điều gì cho đến khi anh gặp em.” Nàng nói.

“Được.”

“Làm cho rành mạch vị trí của anh với cảnh sát trưởng Maxwell nhé.’

“Anh sẽ làm.”

“Anh nghỉ ngơi đi.” Nàng nói.

“Em cũng thế.”

“Ra khỏi xe của em đi.” Nàng mỉm cười. “Về nhà đi. Về thật đấy.”

Tôi lên chiếc xe Jeep của mình, quyết không làm gì để nó phát ra tiếng Pháp. Thắt dây an toàn, đóng cửa, nhả phanh tay. Tôi nổ máy và chiếc xe không nói tiếng nào.

Khi lái xe về nơi trang trại bên bờ vịnh, hay bờ vịnh trên trang trại, gọi thế nào cũng được, tôi nhớ ra là mình đã quên dùng phím điều khiển từ xa để nổ máy. Ồ, có gì khác nhỉ? Tất cả các vụ đánh bom xe hơi mới đây đều nổ khi xe chạy được khoảng năm phút. Mà làm gì có ai định giết tôi đâu. À, có người đã từng mưu giết tôi, nhưng đó là liên quan đến chuyện khác. Có thể chỉ là tình cờ, mà cũng có thể đã có sự sắp đặt, mấy tay súng kia đã cho rằng tôi đang không phải giờ làm việc, và bất cứ điều gì tôi làm khiến chúng khó chịu đều phải bị trả giá mà tôi không thực sự phải chết. Đó là cách làm của Mafia - nếu anh còn sống, anh thường sẽ bị bỏ lại một mình. Nhưng mấy gã bắn tôi trông đích thị là dân Latinh. Mà đám này không phải lúc nào cũng coi là xong việc cho đến khi ta được mang đi chôn.

Nhưng đó không phải là điều mà tôi quan tâm lúc này. Tôi lo hơn về những điều đang diễn ra quanh đây, dù nó là thứ gì. Tôi đang ở một nơi rất thanh bình trên trái đất, đang cố lấy lại tinh thần và hồi phục cơ thể, và ngay bên dưới lớp vỏ đủ thứ chuyện kỳ bí đang diễn ra. Tôi vẫn nghĩ tới con lợn máu rỉ ra từ tai, mũi và mồm... Tôi nhận ra rằng những người trên hòn đảo nhỏ bé đó đã phát hiện ra những thứ có thể hủy diệt mọi sinh vật sống trên hành tinh này.

Điều tiện lợi về chiến tranh vi trùng là dễ dàng phủ nhận và nguồn gốc không thế lần ra của nó. Tất cả những câu chuyện về hoạt động nghiên cứu và phát triển vũ khí sinh học đều bị ảnh hưởng từ những lời nói dối, sự gian trá và phủ nhận.

Tôi chạy xe vào con đường trong nhà cậu Harry. Lốp xe nghiến lên đám vỏ sò. Ngôi nhà tối om, và khi tôi tắt đèn pha xe, cả thế giới như chìm trong bóng tối. Người nông thôn sống thế nào trong đêm tối nhỉ?

Tôi cuộn chiếc áo phông lên để lộ báng của khẩu 38. Tôi còn không biết nó có bị “luộc” không - ai đó đã luộc chiếc quần soóc của người khác thì đương nhiên cũng sẽ luộc luôn cả súng của họ. Đáng lẽ tôi phải kiểm tra từ lúc trước.

Tay trái cầm chìa khóa, tôi mở cửa, tay phải sẵn sàng rút súng. Lẽ ra súng phải cầm trong tay rồi mới phải, nhưng đàn ông kể cả khi chỉ có một mình cũng phải thể hiện là người có gan. Ý tôi là, có ai đang nhìn? Tôi đoán là tôi đang nhìn. Mày gan lắm mà, Corey. Mày là đàn ông thực sự. Người đàn ông thực sự đột nhiên muốn đi tè, và tôi vào phòng tắm bên ngoài bếp.

Vẫn không bật đèn, tôi kiểm tra máy trả lời tự động đặt trong phòng làm việc và thấy có mười tin nhắn, khá nhiều đối với một người cả tuần trước đó không có cái nào.

Đoán rằng không có tin nhắn nào trong số này thật dễ chịu hay đáng đọc, tôi rót một ly rượu mạnh to từ chiếc bình trong suốt của ông cậu vào chiếc ly trong suốt của ông.

Tôi ngồi lên chiếc ghế ngả lưng và nhấp nháp, phân vân giữa chiếc nút bấm tin nhắn, cái giường và một ly rượu nữa. Thêm mấy lần rượu đều thắng, và tôi cứ dền dứ mãi cho tới khi hơi chếnh choáng.

Cuối cùng, tôi ấn chiếc nút tin nhắn.

“Bạn có mười tin nhắn,” giọng nói vang lên, không sai với máy đếm tin.

Tin nhắn đầu tiên là lúc bảy giờ sáng từ cậu Harry, ông đã nhìn thấy tôi trên ti vi tối qua nhưng không muốn gọi vào lúc đêm khuya, mặc dù với ông thì gọi sớm lại chẳng sao. Ơn trời, tôi đang trên đường đến Đảo Plum lúc bảy giờ sáng.

Thêm bốn tin nhắn tương tự khác: một từ bố mẹ tôi ở Florida, họ không xem nhưng nghe thấy nói lại là tôi có lên ti vi; một từ một cô tôi thỉnh thoảng có gặp tên là Cobi và có lẽ đang muốn làm bà Cobi Corey vì lí do nào đó; và sau đó là một cuộc gọi từ các em tôi, Jim và Lynne, những người rất giỏi liên lạc với nhau. Có thể đã có thêm nhiều cuộc gọi khác về sự xuất hiện ngắn ngủi của tôi trên ti vi, nhưng rất ít người có số điện thoại của tôi, và không phải ai cũng nhận ra tôi vì tôi đã sụt cân rất nhiều và trông rất tệ.

Không có cuộc gọi nào từ cô vợ cũ của tôi. Dù không còn yêu tôi, cô ấy vẫn muốn tôi biết là cô ấy thích tôi với tư cách là một con người, một điều rất vô lí vì tôi đâu có gì để thích. Yêu thì có thể, nhưng thích thì không.

Sau đó là cuộc gọi lúc chín giờ sáng của Dom Fanelli, đồng sự của tôi. Anh nói, “Này, tôi thấy mặt cậu trên bản tin buổi sáng đấy. Cậu đang làm cái chết tiệt gì ở đó thế hả? Hai thằng cha Latinh kia đang tìm cái mông của cậu đấy, thế mà giờ cậu thò mặt lên ti vi để ai cũng biết là cậu đang ở ngoài đó. Sao cậu không dán hình ở bưu điện Colombia luôn? Chúa ơi, John, tôi đang cố tìm hai thằng đó trước khi chúng tìm ra cậu lần nữa. Mà này, có thêm tin tốt lành đây - sếp đang hỏi không biết cậu làm cái quái gì ở hiện trường tội phạm. Có chuyện gì ở đấy không? Ai giết hai người đó? Này, cô nàng đẹp đấy. Cậu có cần giúp gì không? Cứ gọi nhé. Nhớ giữ pháo ở trong kho. Chào.”

Tôi cười. Anh bạn Dom già tốt bụng. Một người tôi có thể tin tưởng. Tôi vẫn nhớ lúc anh đứng cạnh tôi khi tôi đang nằm trên đường phố máu me bê bết. Một tay anh cầm chiếc bánh rán ăn dở, tay kia cầm súng. Anh cắn thêm một miếng bánh rồi nói với tôi, “Tôi sẽ tóm được chúng, John. Tôi thề có Chúa, tôi sẽ tóm lũ chó chết đã bắn cậu.”

Tôi còn nhớ đã nói với anh rằng tôi chưa chết, và anh nói anh cũng biết vậy, nhưng có thể tôi sẽ chết. Hai mắt anh rưng rưng làm tôi cảm thấy hoang mang. Anh cố nói chuyện với tôi trong khi vẫn nhai bánh, và tôi không thể hiểu được anh. Tôi bắt đầu nghe thấy tiếng đập thình thịch trong tai và lịm dần.

Cuộc gọi tiếp theo là lúc chín giờ ba mươi từ báo New York Times, không hiểu làm cách nào mà họ biết tôi là ai và đang ở đâu. Rồi giọng nói phát ra, “Bạn có thể đặt báo giao đến tận nhà hàng ngày và cả Chủ Nhật chỉ với 3,60 đô la mỗi tuần trong mười ba tuần. Hãy gọi cho chúng tôi theo số 1-800-631-2500, chúng tôi sẽ thực hiện dịch vụ ngay lập tức.”

“Tôi lấy báo ở văn phòng. Tiếp theo.”

Giọng của Max phát ra từ chiếc loa, “John, anh không còn được cảnh sát thị trấn Southold thuê nữa. Cám ơn về sự giúp đỡ của anh. Tôi nợ anh một đô, nhưng tôi muốn gọi cho anh một ly thay vì trả tiền. Gọi cho tôi nhé.”

“Tiên sư nhà anh, Max.”

Cuộc gọi tiếp theo là từ Ted Nash, gã CIA siêu ma quỷ. Gã nói, “Tôi chỉ muốn nhắc anh là kẻ giết người chưa bị bắt, và anh có thể trở thành mục tiêu. Tôi thật sự thấy thú vị làm việc với anh, và tôi biết chúng ta sẽ còn gặp lại. Tự lo lấy thân nhé.”

“Mẹ mày, Ted.” Nếu muốn dọa tôi thì ít nhất cũng phải cầm súng trong tay mà nói, kể cả lúc đang ghi âm vào máy.

Còn một tin nhắn nữa trong máy, nhưng tôi đã nhấn nút tắt trước khi chạy đoạn tin này. Tôi bấm nút gọi cho khách sạn Soundview và hỏi thăm Ted Nash. Người thư kí là một thanh niên trẻ nói không có ai tên như vậy. Tôi nói, “Thế còn George Foster?”

“Không, thưa ông.”

“Beth Penrose?”

“Chị ấy vừa mới trả phòng.”

Tôi tả hình dáng của Nash và Foster cho người thư kí, anh nói, “Có, có hai người ở đây giống thế.”

“Họ còn ở đấy không?”

“Dạ, còn.”

“Nói với cái thằng cha to hơn, cái thằng tóc xoăn đen ấy, là ông Corey đã nhận được tin nhắn của hắn và hắn nên để tâm đến chính lời cảnh báo của mình. Anh nghe rõ chứ?”

“Vâng, thưa ông.”

“Này nữa, bảo hắn tự cúi xuống mà liếm mông.”

“Vâng, thưa ông.”

Tôi gác máy và ngáp dài. Tôi cảm thấy mệt rũ. Có lẽ tôi đã ngủ ba tiếng trong bốn mươi tám giờ qua. Tôi lại ngáp lần nữa.

Tôi bấm nút mở tin nhắn cuối cùng. Giọng của Beth nói, “Chào, em gọi cho anh từ trên xe... Em chỉ muốn nói cám ơn vì sự giúp đỡ của anh hôm nay. Em không biết là em có nói... Mà thôi, em vui vì gặp anh, và nếu ngày mai không gặp nhau - Em có thể không đến được - nhiều công việc ở văn phòng và báo cáo phải làm quá - em sẽ gọi cho anh. Cám ơn anh lần nữa.”

Chiếc máy nói, “Hết tin nhắn.”

Tôi nghe lại tin nhắn cuối thêm lần nữa. Nàng gọi cho tôi chưa đầy mười phút sau khi tôi ra về. Giọng nàng nghe rất xã giao. Thật ra, đó là một cái phủi tay, một lời từ chối. Tôi có ý nghĩ hoang đường là Beth và Nash đã trở thành tình nhân của nhau và lúc này cả hai đang làm tình hùng hục ở trong phòng của gã. Tỉnh táo đi, Corey. Chúa muốn hủy diệt ai, người phải làm cho kẻ đó hứng tình trước.

Ý tôi là còn điều gì khác có thể hỏng được chứ? Tôi mất cả ngày trong khu kiểm soát sinh học, tôi có thể bị nhiễm bệnh dịch hạch, tôi có thể gặp rắc rối khi quay trở lại với công việc, Pedro và Juan biết tôi đang ở đâu, anh bạn Max thì sa thải tôi, rồi một gã CIA dọa tôi chẳng vì lí do gì cả... à, có thể hắn có lí do mà hắn tưởng tượng ra - rồi tình yêu đích thực của tôi vuột mất, và tôi tưởng tượng ra cảnh nàng đang quặp chặt chân quanh người thằng cha kia. Còn nữa, Tom và Judy, những người yêu mến tôi, giờ đã chết. Mà bây giờ mới chỉ là chín giờ tối.

Ý nghĩ về một nơi tu hành thoáng vụt qua đầu tôi. Hay tốt hơn là một tháng ở Caribbean, theo chân người bạn lớn Peter Johnson của tôi đi hết hòn đảo này đến hòn đảo khác.

Hoặc tôi cũng có thể ở đây và đối mặt với nó. Trả thù, minh chứng, chiến thắng và vinh quang. Đó là điều John Corey sinh ra để làm. Ngoài ra, tôi còn có điều mà không ai khác có được - tôi biết phần nào chuyện này liên quan đến cái gì.

Tôi ngồi trong căn phòng tối và yên tĩnh. Lần đầu tiên trong ngày tôi có thời giờ để suy nghĩ mà không bị gián đoạn. Trong đầu tôi có tất cả những thứ hiện có, và tôi bắt đầu sắp xếp chúng lại với nhau.

Khi tôi nhìn ra chiếc cửa sổ tối om, những tiếng ping ping nhỏ trong đầu đang tạo nên những điểm trắng trên nền đen của bóng đêm, bức tranh bắt đầu thành hình. Còn lâu tôi mới có được bức vẽ hoàn chỉnh, nói gì đến chi tiết, nhưng tôi đã đoán ra được kích cỡ, hình thù và phương hướng của nó. Tôi cần một vài điểm sáng nữa, một vài tiếng ping ping nữa để trả lời câu hỏi tại sao Tom và Judy bị giết.

❀ ❀ ❀

[1] Martha Stewart: Doanh nhân, nhà văn, biên tập viên có vị trí hàng đầu ttong ngành xuất bản ở Mỹ, đã từng được bầu chọn là người phụ nữ quyền lực thứ ba nước Mỹ năm 2001 - ND.

[2] Ba mươi ba và ba: tên một con đường ở thành phố New York, thường được dùng để nhại giọng người New York - ND.

[3] Tên con tàu nổi tiếng đưa những người truyền giáo Anh tới Plymouth, Massachusetts năm 1620.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.