Sáng thứ hai, khi tôi thức dậy trời đang mưa, cơn mưa đầu tiên trong nhiều tuần nay. Những người nông dân sẽ vui mừng, còn những người trồng nho thì không. Tôi biết có ít nhất một người trồng nho đang gặp những rắc rối lớn hơn là chuyện có mưa lớn.
Khi mặc quần áo, tôi nghe đài và biết một cơn bão có tên là Jasper đang ở ngoài khơi Virginia, gây ra tình hình thời tiết bất ổn ở xa mãi phía bắc tới Long Island của bang New York. Tôi mừng vì mình sắp trở lại Manhattan ngày hôm nay.
Hơn một tháng nay tôi không có mặt ở khu nhà trên phố Bảy mươi hai. Tôi cũng chưa động đến những tin nhắn trong chiếc máy trả lời tự động, một phần vì tôi không muốn, nhưng cái chính là tôi đã quên mất mã nhập, hình như thế.
Khoảng chín giờ sáng, tôi xuống tầng dưới, mặc quần bò và áo phông polo hàng hiệu. Tôi pha cà phê và chờ Beth gọi hoặc ghé qua.
Tờ tuần báo địa phương đặt trên bệ bếp từ hôm thứ sáu vẫn chưa đọc. Tôi không quá ngạc nhiên khi thấy vụ án mạng thứ hai tuần trước đăng trên trang nhất. Tôi mang tờ báo ra ngoài hiên phía sau cùng một tách cà phê và đọc bài của phóng viên địa phương viết về vụ án mạng đôi. Tay phóng viên viết thiếu chính xác, giọng đủ cứng, phong cách viết đủ tồi để làm việc cho tờ Newsday hoặc tờ Times.
Tôi thấy một bài viết về vườn nho Tobin, trong đó trích lời Fredric Tobin nói, “Chúng tôi sẽ bắt đầu thu hoạch bất kể ngày nào từ bây giờ, và năm nay hứa hẹn sẽ là năm bội thu, năng suất có lẽ cao nhất trong mười năm lại đây, trừ trường hợp có mưa lớn.”
Ồ, Freddie, trời đang mưa đấy. Tôi không biết người bị buộc tội có được phép yêu cầu rượu vang trong bữa ăn cuối cùng hay không.
Tôi quẳng tờ báo sang bên cạnh và cầm món quà của Emma lên, Câu chuyện về kho báu cướp biển. Tôi lật qua cuốn sách, xem những bức vẽ và thấy một tấm bản đồ Long Island, xem kĩ chừng một phút rồi tìm những chương nói về thuyền trưởng Kidd. Tôi lật hú họa một trang đến đoạn nói về việc phế truất Robert Livington, một trong những người đầu tư tiền cho Kidd. Đoạn này viết:
Nghe nói thuyền trưởng Kidd đã tới những nơi này để phụng sự sứ mệnh của đức ngài, Bá tước Bellornont, người kể chuyện nói trên đã đến thẳng từ Albany theo đường gần nhất xuyên qua rừng để gặp thuyền trưởng Kidd ở đây và phục vụ cho ông chủ của mình. Khi tới Boston, thuyền trưởng Kidd thông báo cho ông này biết rằng trên chiếc tàu nhỏ một buồm của ông ở trong cảng có bốn mươi kiện hàng, một ít đường, và nói rằng ông có khoảng ba mươi sáu cân đóng thành đĩa. Và Kidd cũng nói thêm rằng ông có mười tám cân vàng mà ông đã giấu an toàn ở một nơi nào đó trên biển Sound nằm giữa nơi này và New York, không nói cụ thể là nơi nào, và không có ai ngoài ông có thể tìm được.
Tôi nhẩm tính sơ qua trong đầu và biết mười tám cân vàng có trị giá khoảng ba trăm nghìn đô la, tiền tươi, chưa kể giá trị về lịch sử hay giá trị bằng tiền đúc, nếu theo Emma nói thì dễ tăng lên bằng bốn lần.
Tôi đọc liền cả một giờ sau đó. Càng đọc, tôi càng tin rằng tất cả những người kể chuyện, từ ngài Bellornont đến viên thủy thủ cấp thấp nhất, đều là những người nói dối. Không có chuyện nào giống chuyện nào, giá trị và số lượng vàng, bạc và đồ trang sức thì mỗi người một ý. Điều duy nhất mà tất cả mọi người đều kể giống nhau là việc kho báu đã được đưa vào bờ ở nhiều điểm khác nhau xung quanh biển Sound. Không có chỗ nào nhắc đến Đảo Plum, nhưng còn nơi nào tốt hơn để giấu của? Như tôi đã biết từ chuyến đi tới Đảo Plum, hòn đảo này thời đó không có bến cảng, vì thế chắc sẽ không có tàu thuyền tình cờ cập vào để lấy lương thực hay nước ngọt. Hòn đảo do những người định cư da trắng sở hữu, vì thế người da đỏ không được lui tới, nhưng có vẻ như không có ai sống trên đảo. Và nếu Kidd đã để một lượng của cải có giá trị ở chỗ John Gardiner, một người mà ông không quen biết, thì tại sao ông lại không đi thêm năm, sáu dặm nữa qua vịnh tới Đảo Plum và chôn một phần kho báu ở đó? Điều này là hợp lý. Nhưng tôi vẫn băn khoăn không hiểu làm sao mà Fredric Tobin lại biết được chuyện này. Hắn sẽ vui mừng nói cho chúng ta biết trong cuộc họp báo công bố thứ hắn phát hiện được. Có lẽ hắn sẽ nói, “Tốn rất nhiều công sức, có hiểu biết về nghề trồng nho, về bảo quản, và một sản phẩm thượng hạng. Và cả sự may mắn.”
Tôi mất một khoảng thời gian rất lâu ngồi dưới hiên sau nhà, đọc sách, theo dõi thời tiết, suy nghĩ về vụ án và chờ Beth. Lẽ ra giờ này nàng phải đến rồi.
Cuối cùng, tôi vào nhà qua chiếc cửa kiểu Pháp dẫn đến phòng khách và bật bảy tin nhắn trên chiếc máy trả lời tự động.
Tin nhắn thứ nhất là của cậu Harry nói rằng ông có một người bạn muốn thuê căn nhà này, vì thế hỏi tôi có muốn mua hay không, nếu không thì đi chỗ khác. Lời nhắn thứ hai là của trung úy điều tra viên Wolfe nói gọn lỏn, “Anh đang làm tôi cáu đấy.” Thứ ba là tin nhắn vẫn chưa xem của Emma vào lúc gần nửa đêm hôm thứ sáu chỉ để nói lời chào tôi. Tin thứ tư là của Max vào sáng thứ bảy với những thông tin cụ thể về bữa tiệc của Tobin và nói rằng anh đã có một cuộc nói chuyện vui vẻ với Beth, rồi bảo tôi gọi lại. Thứ năm là của Dom Fanelli, nói, “Này, anh bạn, lỡ một dịp vui đấy. Một đêm hết ý nhé. Rượu như nước, bọn này kiếm được bốn em Thụy Sĩ đi du lịch ở nhà hàng Taormina, hai em là tiếp viên hàng không, một em người mẫu, một em là diễn viên. Mà này, tôi đã gọi cho anh bạn Jack Rosen của tụi mình làm cho tờ Daily News, cu cậu sẽ viết một bài về chuyện cậu trở lại New York sau đợt nghỉ dưỡng thương ở vùng nông thôn. Người hùng bị thương đã trở về. Hay đấy. Gọi cho cu cậu vào sáng thứ hai và bài sẽ được đăng vào thứ ba, để cho mấy cha ở sở Cảnh sát đọc trước khi đá đít cậu. Tôi tốt bụng đấy chứ, chẳng phải sao? Thứ hai gọi cho tôi nhé, tụi mình sẽ đi uống buổi tối. Tôi sẽ kể cho cậu nghe về mấy em Thụy Sĩ.”
Tôi mỉm cười. Bốn em Thụy Sĩ, mẹ kiếp. Tin nhắn thứ sáu là của Beth vào sáng chủ nhật hỏi rằng tôi biến đi đâu tối thứ bảy, và hỏi khi nào có thể gặp tôi. Còn tin thứ bảy là của Beth vào chiều chủ nhật, bảo rằng đã nhận được lời nhắn của tôi ở văn phòng của nàng và rằng sáng thứ hai nàng sẽ đến nhà tôi.
Vì thế, khi nghe tiếng chuông cửa lúc gần trưa, tôi không quá ngạc nhiên thấy Beth đến. Tôi nói, “Vào đi.”
Nàng để chiếc ô ngoài hiên và vào nhà. Hôm nay nàng mặc một bộ đồ may riêng khác màu nâu vàng.
Tôi nghĩ mình nên nói là đang ở nhà một mình, thế nên tôi bảo nàng, “Anh ở một mình.”
Nàng nói, “Em biết rồi.”
Chúng tôi nhìn nhau mấy giây đồng hồ thật dài. Tôi biết nàng sắp nói điều gì. Tôi không muốn nghe, nhưng nàng vẫn nói. “Một nhân viên của Emma Whitestone phát hiện ra chị ấy chết trong nhà, có lẽ là bị giết.”
Tôi không nói gì. Tôi có thể nói gì đây? Tôi đứng đó chết lặng.
Beth nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi vào phòng khách tới chỗ chiếc đi văng và bảo “Anh ngồi đi.” Tôi ngồi.
Nàng ngồi bên cạnh tôi, tay vẫn nắm cánh tay tôi. Nàng nói, “Em không biết anh cảm thấy thế nào. Ý em là, em biết anh chắc hẳn rất yêu mến chị ấy...”
Tôi gật đầu. Lần thứ hai trong đời, tôi không phải là người thông báo tin xấu. Tôi là người được báo tin về việc sát hại một người mà tôi quan tâm. Nó làm tôi lặng người đi. Tôi không thể nắm lấy nó vì dường như nó không phải là sự thật. Tôi nói với Beth, “Anh vẫn ở bên cô ấy đến khoảng mười giờ tối qua.”
Beth nói, “Chúng em chưa xác định được thời gian chết. Chị ấy được tìm thấy trên giường... có lẽ bị chết do nhũng cú đánh vào đầu bằng thanh cời lò sưởi tìm thấy trên sàn nhà... không có dấu hiệu của việc phá cửa... cửa sau không khóa.”
Tôi gật đầu. Hắn đã có một chiếc chìa khỏa mà hắn không bao giờ trả lại cho nàng, còn nàng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện thay khóa. Hắn còn biết có một thanh cời lò.
Beth nói tiếp, “Hiện trường giống như một vụ trộm... ví tiền bị khoắng sạch, tiền mặt mất hết, hộp nữ trang cũng bị lấy sạch. Đại loại là như thế.”
Tôi hít một hơi thở sâu và không nói gì.
Beth lại nói, “Còn nữa, hai vợ chồng ông bà Murphy đều đã chết. Cũng có vẻ là bị giết.”
“Chúa ơi.”
Beth nói, “Một cảnh sát của thị trấn Southold đi tuần trên phố khoảng một giờ một lần và để mắt tới căn nhà của ông bà Murphy, nhưng... anh ta không thấy gì cả.” Nàng nói thêm, “Khi đổi ca vào lúc tám giờ sáng, người cảnh sát thấy tờ báo để trên bãi cỏ và đến lúc chín giờ vẫn thấy ở đó. Anh này biết ông bà Murphy thường dậy sớm và mang báo vào nhà, thế nên nàng hỏi tôi, “Anh có muốn nghe chuyện này không?”
“Em nói tiếp đi.”
“Vâng... nên anh này gọi điện vào nhà họ, rồi đến gõ cửa trước, sau đó đi vòng ra phía sau và thấy cửa sau của phòng xem ti vi không đóng. Anh ta vào nhà và thấy họ nằm trên giường. Cả hai đều đã chết, có lẽ từ những vết thương trên đầu do bị đánh bằng chiếc xà beng mà anh ta tìm thấy còn dính máu vứt trên sàn nhà”. Nàng nói thêm, “Căn nhà đã bị lục lọi. Ngoài ra, với sự có mặt của cảnh sát trên đường phố, có thể đoán rằng hung thủ đã vào nhà từ phía dưới vịnh đi lên.”
Tôi gật đầu.
Beth nói, “Anh có thể tưởng tượng là cảnh sát thị trấn Southold đang náo loạn cả lên, và chả mấy chốc cả North Fork cũng thế. Ở đây một năm mà có một vụ giết người đã là nhiều.”
Tôi nghĩ đến Max, người luôn thích những gì tĩnh lặng và yên bình.
Beth nói tiếp, “Cảnh sát quận đang cử một đội công tác đặc biệt tới vì mọi người cho rằng đây là một kẻ tâm thần đột nhập vào nhà và giết chết mọi người trong nhà.” Nàng nói thêm, “Em nghĩ kẻ giết vợ chồng Gordon có thể đã lấy chiếc chìa khóa của nhà ông bà Murphy từ nhà Gordon, và đó là lí do tại sao không có dấu hiệu phá cửa vào nhà và tại sao cửa sau lại không khóa. Điều này cho thấy việc làm đã có chủ tâm từ trước.”
Tôi gật đầu. Tobin biết một lúc nào đó hắn có thể sẽ phải loại bỏ ông bà Murphy và đã tính trước lấy đi chiếc chìa khóa. Khi Beth nói rằng không tìm thấy chiếc chìa khóa của nhà Murphy trong nhà Gordon, đáng lẽ chúng tôi phải cảnh giác. Lại thêm một thí dụ về việc đánh giá thấp kẻ giết người. Tôi nói, “Chúng ta đáng lẽ phải đoán trước...”
Nàng gật đầu. “Em biết.” Nàng nói tiếp, “Với Emma Whitestone... hoặc chị ấy đã không khóa cửa, hoặc là kẻ giết người đã có chìa khóa... một người quen của chị ấy.”
Tôi nhìn Beth và hiểu rằng cả hai chúng tôi đều biết nàng đang nói điều gì. Nàng nói, “Em đã đề nghị cho theo dõi Fredric Tobin từ sáng chủ nhật, như gợi ý của anh, và họ đã theo dõi cả ngày, nhưng một quan chức lại ra lệnh thôi theo dõi từ nửa đêm đến tám giờ sáng hôm sau... vì lí do ngân sách... thế nên nói chung là không ai để mắt đến Tobin từ sau lúc nửa đêm.”
Tôi không đáp.
Nàng nói, “Em rất khó thuyết phục họ chấp nhận theo dõi Tobin. Gã không phải là kẻ bị tình nghi. Em không có lí do nào để họ cho theo dõi gã hai mươi bốn giờ trong ngày.”
Tôi vẫn chú ý lắng nghe, nhưng đầu óc tôi đang trở lại với những hình ảnh về Emma, trong căn nhà của tôi, khi bơi trên vịnh, trong bữa tiệc của hội Lịch sử, trong phòng ngủ của nàng nơi người ta phát hiện ra nàng đã chết... Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi ở lại với nàng qua đêm? Làm sao lại có người biết nàng ở một mình...? Tôi chợt nghĩ Tobin sẽ giết cả tôi, nếu hắn thấy tôi ở đó đang ngủ bên cạnh nàng.
Beth nói, “À này, em gặp Fredric Tobin trong bữa tiệc, hắn rất có duyên. Nhưng em thấy hắn hơi khéo quá... Ý em là, còn một nửa khác trong con người đó... Có thứ gì đó không tốt đẹp đằng sau nụ cười của hắn.”
Tôi nghĩ đến Fredric và cảnh hắn nói chuyện với Emma trên bãi cỏ trong bữa tiệc. Khi nói chuyện với nàng, hẳn hắn đã biết là sẽ giết nàng. Nhưng tôi tự hỏi không biết hắn quyết định giết nàng vì không muốn để nàng nói thêm điều gì về hắn với tôi, hay chỉ vì hắn muốn nói, “Mẹ mày, thằng Corey. Mẹ mày thằng hợm đời. Mẹ mày vì biết tao giết vợ chồng Gordon, mày ngủ với bạn gái cũ của tao, và tao chửi mẹ mày.”
Beth nói, “Em cảm thấy có phần trách nhiệm với ông bà Murphy.”
Tôi buộc mình nghĩ tới nhà Murphy. Họ là những người tử tế, những công dân sẵn sàng giúp đỡ, và không may cho họ, họ đã chứng kiến quá nhiều những điều xảy ra ở nhà bên cạnh trong hai năm qua. Tôi nói, “Anh mang một tấm hình Fredric Tobin về cho ông bà Murphy xem hôm thứ tư, họ bảo đó chính là người đàn ông trong chiếc xe 'thể thao trắng... Tobin có một chiếc Porsche trắng...” Tôi kể cho nàng chuyện tôi ghé qua nhà Edgar và Agnes Murphy.
Beth nói, “Em hiểu.”
Tôi nói, “Kẻ giết người là Fredric Tobin.”
Nàng không đáp.
Tôi nói, “Hắn giết Tom và Judy Gordon, Edgar và Agnes Murphy, có thể cả người bác sĩ thú y của Đảo Plum, và Emma Whitestone. Và có thể thêm những người khác.” Tôi nói thêm, “Anh cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm.”
Tôi đứng dậy và nói, “Anh cần hít thở một chút.” Tôi ra ngoài và đứng dưới hiên nhà. Trời mưa nặng hạt hơn. Cơn mưa xám từ trên bầu trời xám đổ xuống biển màu xám. Gió thổi mạnh qua vịnh từ hướng nam.
Emma. Emma.
Tôi vẫn trong trạng thái sốc và đang ở giai đoạn vô cảm với tất cả, chuẩn bị tới giai đoạn nổi giận. Càng nghĩ tới cảnh Tobin cầm thanh sắt cời lò phang vào đầu nàng, tôi càng muốn phang vào đầu hắn cũng bằng một thanh sắt cời lò.
Giống như nhiều người cảnh sát đã va chạm trực tiếp nhiều với tội phạm, tôi muốn dùng sức mạnh và sự hiểu biết của mình để tự tôi giải quyết lấy. Nhưng một cảnh sát không thể là một đội viên dân phòng, và một anh dân phòng thì không thể là cảnh sát. Mặt khác, có những lúc ta phải bỏ tấm thẻ cảnh sát đi và giữ lại khẩu súng...