Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Bữa ăn trưa thật dễ chịu. Phòng ăn gần như trống không và mới được sửa sang. Nếu tưởng tượng, đó là năm 1784 và Anthony Wayne khùng đang chạy khắp nơi gọi rượu grốc hay thứ gì đó.

Đồ ăn là những món thường thấy của Mỹ, không cầu kì, hấp dẫn đối với sở thích ăn thịt của tôi. Còn Emma Whitestone hóa ra lại là một cô gái Mỹ bình thường, không cầu kì, và cũng giống thế, điều này lại hấp dẫn với sở thích ăn thịt của tôi.

Chúng tôi không nói chuyện về vụ án mạng, về Tobin hay bất cứ chuyện gì không mấy dễ chịu. Nàng thực sự yêu thích lịch sử, còn tôi bị cuốn hút vào những điều nàng nói. Thực ra thì không hẳn, nhưng lịch sử được nói ra từ Emma Whitestone với giọng nói mang tiếng thở của nàng thì không đến nỗi quá khó hiểu.

Nàng nói về Reverend Youngs, người đã đưa đàn con chiên của mình đến đây từ Connecticut năm 1640. Tôi thốt lên không biết họ có đi bằng phà New London hay không, và tôi nhận được cái nhìn lạnh lùng. Nàng nói đến thuyền trưởng Kidd và những tên cướp biển ít nổi danh hơn đã vượt qua những vùng biển này cách đây ba trăm năm. Rồi nàng nói về những người Horton nổi tiếng với ngọn hải đăng, và một trong số họ đã xây lên khách sạn này. Nàng nói về vị tướng trong chiến tranh cách mạng, Francis Marion, biệt danh là Cáo đầm lầy. Nàng nói đây chính là người được lấy tên để đặt cho địa danh Đông Marion, cho dù tôi bác lại rằng có lẽ có một thị trấn tên gọi là Marion ở Anh. Nhưng nàng biết chuyên môn của nàng. Nàng nói với tôi về Underhills, về Tuthills, đôi chút về dòng họ Whitestone,, thực chất là những người hành hương trên tàu Mayflower, về những người mang họ Abijah, Chauney, Ichabod và Bamanas, đó là chưa kể Joshua, Samuel và Isaac, những người thậm chí không phải là dân Do Thái vv...

Ping! Trong khi Paul Stevens làm tôi chán ngấy đến vô cảm với cái giọng như máy tính của hắn, Emma Whitestone lại mê hoặc tôi với giọng nói qua hơi thở và đôi mắt xanh nâu của nàng. Nhưng kết quả cuối cùng thì lại như nhau - tôi nghe thấy điều gì đó làm ngưng lại phản xạ trong bộ óc thường tỉnh táo của mình. Ping! Tôi nghe thấy nàng nói lại lần nữa, dù điều đó không quan trọng gì. Nhưng vẫn không tác dụng. Tuy nhiên, lần này tôi biết nó đã ở trên đỉnh não của tôi, và tôi biết tôi sẽ sớm tìm ra nó. Ping!

Tôi nói với nàng, “Anh cảm thấy sự hiện diện của Anthony Wayne ở đây.”

“Thật không? Anh nói cụ thể đi.”

“Ông ấy đang ngồi bên chiếc bàn cạnh cửa sổ kia và liếc trộm em. Ông ấy nhìn anh khiêu khích và lẩm bẩm một mình ‘Gã kia qướ cái gì mà ta không qướ chứ?’ ”

Nàng mỉm cười, “Anh hâm rồi.”

“Không qướ? Hay là không qớ?”

“Em sẽ dạy anh tiếng Anh thế kỷ mười tám nếu anh thôi làm trò ngớ ngẩn đi.”

“Ta cám ơn nèng.”

Khi chúng tôi nhìn đồng hồ thì đã là ba giờ chiều và người phục vụ đang tỏ ra sốt ruột. Tôi không thích phải gián đoạn trong một vụ án để theo đuổi những bóng hồng. Thực tế là bảy mươi hai giờ đầu tiên trong một vụ án là hết sức quan trọng. Nhưng một thằng đàn ông thì phải nghe những tiếng gọi của phần con trong mình, và tiếng chuông trong tôi đang đổ liên hồi.

Tôi nói, “Nếu em có thời gian, chúng ta có thể đi một vòng bằng tàu của anh.”

“Anh có tàu à?”

Thật ra tôi làm gì có, vì thế cách này có vẻ không ổn. Nhưng tôi có một ngôi nhà bên bờ biển và một chiếc cầu tàu, thế nên tôi có thể nói là tàu chìm mất rồi. Tôi nói, “Anh đang ở nhà của ông cậu. Một khu đất cạnh vịnh làm trang trại.”

“Đất trang trại bên bờ vịnh.”

“Đúng rồi. Chúng ta đi thôi.”

Chúng tôi rời khách sạn General Wayne và lái xe về nơi ở của tôi, cách Hog Neck hai mươi lăm phút về phía tây.

Khi chúng tôi đi dọc theo đường Main Road về hướng tây, nàng cho tôi biết, “Con đường này trước đây có tên là King’s Highway. Nó được đổi tên sau Cách mạng.”

“Hay đấy.”

“Điều buồn cười là nơi em học, đại học Columbia, trước đây có tên là Kings College. Người ta cũng đổi tên nó sau Cách mạng.”

“Nếu có một cuộc cách mạng khác thì có nhiều cái tên mà anh muốn đổi.”

“Ví dụ?”

“Đầu tiên là phố Bảy mươi hai Đông nơi anh bị bắn. Anh muốn đặt tên nó là Cherry Lane. Nghe hay hơn.” Tôi tiếp tục, “Rồi đến con mèo của cô vợ cũ của anh là Snowball, anh muốn đổi tên nó thành Mèo chết.” Tôi kể thêm một vài cái tên nữa cần đổi, nếu có cuộc cách mạng.

Nàng hỏi như thể cắt lời tôi, “Anh có thích ở ngoài này không?”

“Anh nghĩ là có. Nơi đây đẹp và dễ chịu, nhưng anh không biết là có hợp với anh không?”

Nàng cho tôi biết, “Ở đây có nhiều người lập dị lắm.”

“Anh không phải người lập dị. Anh khùng.”

“Người khùng cũng có nhiều mà.” Nàng nói thêm, “Đây không phải là nơi quê mùa tù túng. Em biết có những người nông dân có bằng tốt nghiệp các trường danh tiếng của miền Đông, có những nhà thiên văn học ở viện Custer, những người làm rượu vang tu nghiệp ở Pháp, rồi các nhà khoa học ở Đảo Plum và phòng thí nghiệm Brookhaven, còn cả các học giả ở đại học Stony Brook, các họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, và-"

“Chuyên viên lưu trữ.”

“Vâng. Em thấy khó chịu khi những người ở thành phố nghĩ người ở đây là nhà quê.”

“Anh hoàn toàn không nghĩ thế.”

“Em đã sống chín năm ở Manhattan. Em mệt mỏi với thành phố. Em nhớ nhà.”

“Anh cảm nhận sự tinh tế của thành phố trong em cùng với nét duyên dáng thôn quê. Em đang ở đúng nơi của mình.”

“Cám ơn anh.”

Tôi nghĩ mình đã qua được một trong những rào cản lớn trên đường đưa nàng lên giường.

Lúc này chúng tôi đang lái xe qua vùng đồng quê của những trang trại và rượu vang. Nàng nói, “Mùa thu ở đây dài và lười biếng. Những vườn cây vẫn nặng quả và nhiều loại hoa màu vẫn chưa được thu hoạch. Đến lễ Tạ ơn có thể tuyết đã rơi ở New England, nhưng ở đây thì vẫn đang thu hoạch.” Nàng hỏi tôi, “Em đang nói huyên thuyên phải không?”

“Không, không hề. Em đang vẽ một bức tranh đẹp bằng lời.”

“Cám ơn anh.”

Giờ tôi đang đi lên bậc đầu tiên của chiếc cầu thang dẫn lên phòng ngủ.

Về cơ bản, chúng tôi vẫn giữ cho không khí tự nhiên và thoải mái, cách mà người ta vẫn làm khi cảm thấy bồn chồn vì biết ràng mình có thể sắp lên giường.

Chúng tôi đi vào con đường dài trong khuôn viên tới ngôi nhà lớn kiểu Victoria. Emma nói, “Một người đàn bà tô vẽ to lớn.”

“Đâu?”

“Ngôi nhà. Đó là cách chúng em gọi những ngôi nhà cũ kiểu Victoria.”

“Ồ, đúng. À này, mợ anh trước đây cũng là thành viên của hội Lịch sử Peconic đấy. June Bonner.”

“Nghe quen lắm.”

“Mợ ấy quen với Margaret Wiley.” Tôi nói thêm, “Thực ra mợ anh sinh ra ở đây. Đó là lí do tại sao bà thuyết phục cậu Harry mua nơi này làm chỗ nghỉ hè.”

“Tên thời con gái của bà ấy là gì?”

“Anh không rõ - có thể là Witherspoonhamptonshire.”

“Anh lấy tên em làm trò cười đấy à?”

“Không, thưa quý cô.”

“Nhớ ra tên thời con gái của bà ấy đi.”

“Được.” Tôi dừng xe ở trước người đàn bà tô vẽ.

Nàng nói, “Nếu là thuộc một dòng họ cũ thì em có thể tra ra được. Chỗ em có nhiều thông tin về các dòng họ cũ.”

“Thật không? Nhiều đầu lâu để trong tủ à?”

“Thỉnh thoảng.”

“Có thể dòng họ của mợ June là những tên trộm ngựa và gái điếm.”

“Cũng có thể. Trong dòng họ nhà em cũng có nhiều người như thế.” Tôi cười thầm.

Nàng nói, “Biết đâu nhà bà ấy với nhà em có quan hệ với nhau. Anh và em biết đâu có quan hệ thân tộc.”

“Có thể.” Tôi đã lên đến đỉnh cầu thang rồi, cửa phòng ngủ chỉ còn cách mấy mét thôi. Thực ra, tôi vẫn đang ngồi trong xe. Tôi nói, “Đến rồi” và xuống xe.

Nàng cũng xuống xe và ngắm nhìn ngôi nhà. Nàng nói, “Đây là nhà của mợ anh à?”

“Trước đây. Bà ấy mất rồi. Cậu Harry muốn anh mua nó.”

“Nó quá lớn cho một người.”

“Anh có thể chia ra làm đôi.”

Chúng tôi vào nhà và đi một vòng quanh tầng trệt. Tôi kiểm tra máy trả lời tự động trong phòng khách - không có tin nhắn nào - vào trong bếp lấy hai lon bia và ra phía hiên sau nhà rồi ngồi xuống ghế bằng liễu gai.

Nàng nói, “Em thích ngắm nhìn mặt nước.”

“Đây là chỗ hợp với việc ấy. Anh đã ngồi đây mấy tháng rồi.”

“Bao giờ thì anh phải đi làm trở lại?”

“Anh không rõ. Thứ năm tới anh có lịch gặp bác sĩ.”

“Làm sao mà anh lại tham gia vào vụ này?”

“Cảnh sát trưởng Maxwell?”

Nàng nói, “Em không thấy thuyền của anh.”

Tôi nhìn ra ngoài phía chiếc cầu tàu ọp ẹp. “Ồ, chắc nó đắm mất rồi.”

“Đắm?”

“À, anh nhớ rồi. Nó đang ở chỗ xưởng sửa chữa.”

“Nó là loại gì?”

“Dài bảy mét... Boston Whaler...?”

“Anh đi bằng buồm à?”

“Ý em là thuyền buồm?”

“Vâng. Một chiếc thuyền buồm.”

“Không. Anh thích thuyền máy. Em đi bằng thuyền buồm à?”

“Thỉnh thoảng.”

Và câu chuyện cứ như vậy.

Tôi đã cởi bỏ áo khoác ngoài và giày, tay áo xắn lên cao. Nàng cũng bỏ vớ chân và cả hai chúng tôi gác chân trần lên lan can. Chiếc váy nhỏ màu be của nàng co lên quá đầu gối.

Tôi lấy ống nhòm và hai người thay phiên nhau nhìn ra ngoài vịnh, những con tàu, những khu đất ngập nước trước đây gọi là đầm lầy khi tôi còn nhỏ, bầu trời và tất cả mọi thứ.

Tôi đã uống đến lon bia thứ năm, còn nàng cũng uống một lon bia với tôi. Tôi thích phụ nữ biết uống bia. Mặt nàng hơi ửng hồng, nhưng đầu óc và giọng nói nàng vẫn rất tỉnh táo.

Nàng một tay cầm ống nhòm, tay kia cầm lon bia. Nàng nói, “Đây là một điểm hội tụ lớn trên đường bay bờ Đại Tây Dương, kiểu như một nơi nghỉ dừng chân của chim di cư.” Nàng nhìn qua ống nhòm lên khoảng trời phía xa và nói tiếp, “Em thấy những con ngỗng Canada, những đàn chim lặn gavia bay thành hàng dài, một đàn vịt đuôi dài bay thành vòng tròn. Chúng sẽ sống quanh quẩn ở đây cho tới tháng Mười một rồi tiếp tục bay về phương Nam. Loài chim ưng còn đến tận Nam Mỹ.”

“Hay thật.”

Nàng đặt chiếc ống nhòm vào trong lòng và nhìn chăm chú ra phía biển. Nàng nói, “Trong những ngày có bão, khi gió thổi mạnh từ phía đông bắc, bầu trời biến thành màu xám bạc và loài chim có những biểu hiện rất lạ. Một cảm giác về sự cô lập huyễn hoặc, một vẻ đẹp báo hiệu điềm xấu phải được cảm nhận và được nghe thấy rõ ràng như được nhìn thấy.”

Chúng tôi im lặng một lát, rồi tôi nói, “Em có muốn xem phần còn lại của ngôi nhà không?”

“Có chứ.”

Nơi đầu tiên trong vòng dạo trên tầng hai là phòng ngủ của tôi, và chúng tôi không đi đâu thêm.

Thật sự chỉ mất ba giây để nàng trút khỏi những thứ mặc trên người. Cơ thể nàng căng chắc toàn thân màu da nâu, tất cả đều vừa vặn, chính xác như trong trí tưởng tượng của tôi.

Tôi vẫn còn đang cởi khuy áo sơ mi khi nàng đã trần truồng. Nàng ngắm tôi cởi đồ và nhìn chằm chằm vào chiếc bao súng và khẩu súng tôi để nơi cổ chân.

Tôi biết rất nhiều phụ nữ không thích đàn ông mang vũ khí, thế nên tôi nói, “Anh phải mang thứ này cho đúng luật.” Chuyện này ở thành phố New York thì đúng, nhưng ở ngoài này thì không nhất thiết.

Nàng đáp, “Fredric cũng mang một khẩu súng.”

Hay đấy.

Lúc này tôi đã không còn gì trên người. Nàng đến sát bên tôi và sờ lên ngực tôi. “Đây là vết bỏng à?”

“Không, lỗ đạn đấy.” Tôi quay lưng lại. “Thấy không? Đấy là lỗ đạn ra.”

“Chúa ơi.”

“Chỉ là vết thương ở phần cơ. Đây, em nhìn cái này đi.” Tôi cho nàng xem vết thương ở phần bụng dưới, rồi quay lưng lại để nàng thấy lỗ đạn ra ở phần hông, vết thương rộng ở bắp chân trái không quan trọng bằng.

Nàng nói, “Anh có thể đã chết rồi.”

Tôi nhún vai. Ôi, tiếc quá, em nhỉ.

Dù sao, tôi thấy mừng vì người dọn nhà đã thay ga trải giường, mừng vì tôi có bao cao su để trên chiếc bàn bên cạnh, mừng vì chú nhỏ Willie Peter đã đứng lên đáp lại Emma Whitestone. Tôi tắt chuông điện thoại.

Tôi quỳ xuống bên cạnh giường và cầu nguyện. Emma leo lên giường và gác đôi chân dài của nàng quanh cổ tôi.

Không cần chi tiết rườm rà, chúng tôi làm tình rồi ôm nhau ngủ thiếp đi. Nàng cảm thấy dễ chịu và không ngáy.

Khi tôi tỉnh dậy, ánh nắng mặt trời đang yếu dần ngoài cửa sổ. Emma vẫn đang ngủ, nàng cuộn tròn như đang nằm trong trái bóng. Tôi có cảm giác rằng lúc này mình phải làm điều gì đó có ích hơn là làm tình ban ngày. Nhưng làm gì đây?- Tôi đang bị ngăn cản, và trừ khi Max hoặc Beth chia sẻ với tôi những điều như kết quả khám nghiệm, giám định pháp y hay những thứ như thế, tôi phải tiếp tục mà không có sự hỗ trợ của phương tiện hiện đại trong ngành kỹ thuật hình sự. Tôi cần các bản theo dõi cuộc gọi, tôi cần báo cáo giám định vân tay, tôi cần thêm thông tin về Đảo Plum và quyền tiếp cận hiện trường vụ án. Nhưng tôi không nghĩ tôi sẽ có được bất cứ thứ gì như thế.

Vì vậy tôi phải dùng kiểu điều tra thám tử, các cuộc điện thoại, nói chuyện với những người có thể biết điều gì đó. Tôi đã quyết định phải làm cho ra vụ này cho dù có ai không thích ý nghĩ đó.

Tôi nhìn Emma trong ánh sáng đang mờ dần. Một phụ nữ đẹp tự nhiên. Và thông minh.

Nàng mở mắt và nhìn tôi. Nàng nói, “Em thấy anh đang nhìn em.”

“Nhìn em đẹp lắm.”

“Anh có bạn gái ở ngoài này không?”

“Không. Nhưng ở Manhattan thì có.”

“Em không cần biết đến Manhattan.”

Tôi hỏi nàng, “Còn em?”

“Em ở giữa hai lần đính hôn.”

“Tốt.” Tôi hỏi, “Bữa tối nhé?”

“Có lẽ để sau. Em có thể nấu nướng được mấy thứ.”

“Anh có rau diếp, mù tạp, bơ, bia và bánh quy.”

Nàng ngồi dậy, vuơn vai và ngáp. “Em phải bơi một chút.” Nàng lăn khỏi giường và mặc váy. “Ta đi bơi đi anh.”

“Được.” Tôi dậy và mặc áo sơ mi.

Chúng tôi xuống tầng dưới, đi qua phòng khách ra phía hiên sau nhà, đi qua bãi cỏ xuống bờ vịnh.

Nàng nhìn quanh. “Không có ai quanh đây chứ?”

“Rất vắng.”

Nàng tụt bỏ váy và quẳng trên cầu tàu. Tôi cũng làm theo với chiếc áo sơ mi. Nàng đi xuống bãi biển đầy đá rồi hụp xuống nước. Tôi cũng làm giống nàng.

Lúc đầu nước hơi lạnh làm tôi thấy khó thở. Chúng tôi bơi qua cầu tàu ra phía vịnh tối. Nàng bơi giỏi và khỏe. Tôi cảm thấy bên vai phải như đang cứng lại, phổi bắt đầu khò khè. Tôi đã tưởng là mình đang khỏe ra, nhưng sự cố gắng đã ngoài sức chịu đựng của tôi. Tôi bơi trở lại cầu tàu và bám vào chiếc thang cũ bằng gỗ.

Emma bơi đến bên cạnh tôi và hỏi, “Anh không sao chứ?”

“Anh ổn mà.”

Chúng tôi bơi đứng gần cầu tàu. Nàng nói, “Em thích tắm truồng.”

“Em không phải lo có còn gì nó cắn mồi của em đâu.”

“Anh có hay câu cá không?”

“Thỉnh thoảng.”

“Anh có thể câu được cá bơn ở ngay cầu tàu này.”

“Anh kiếm cá bơn ở siêu thị.”

“Nếu anh đi thuyền ra vài trăm mét là có thể kiếm được cá hồi nâu, cá mùi và cá hồi xám.”

“Thế sườn bò thì anh phải kiếm ở đâu?”

“Thịt bò không tốt cho anh đâu.”

“Em ăn một cái hăm bơ gơ bữa trưa nay rồi.”

“Em biết. Nhưng nó không tốt cho mọi người.” Nàng nói thêm, “Làm tình với người lạ cũng không tốt.”

“Anh là loại đàn ông có khả năng gặp rủi ro cao đấy, Emma.”

Nàng nói, “Em đoán là em cũng thế. Em thậm chí còn không biết anh.

“Đó là vì sao em thích anh.”

Nàng khúc khích cười.

Thực ra, hầu hết mọi phụ nữ đều coi cảnh sát là an toàn. Ý tôi là, nếu một người phụ nữ gặp một cảnh sát trong một quán bar, đoán rằng anh chàng không phải người tâm thần vì các vụ án mạng, anh chàng có sức khỏe tốt và có vài đô la trong ví. Phụ nữ thời này không đòi hỏi nhiều.

Chúng tôi trêu đùa nhau mấy câu rồi ôm hôn nhau. Cảm giác thật dễ chịu. Trần truồng, nửa người ở dưới nước và bơi đứng. Tôi thích nước biển mặn. Nó làm tôi cảm thấy sạch sẽ và bồng bềnh.

Tôi đặt một bàn tay lên cặp mông không thể tin nổi của nàng, bàn tay kia đặt lên ngực nàng trong lúc chúng tôi hôn nhau. Giây phút đó bằng tất cả mọi sung sướng mà tôi có được trong một thời gian dài. Nàng đặt một tay lên mông tôi, tay kia chạm vào chiếc kính thiên văn ở đằng trước và ngay lập tức nó dựng lên.

Tôi nói, “Chúng ta làm dưới nước được không?”

“Có thể. Anh phải hoàn toàn khỏe mạnh. Anh phải bơi đứng liên tục và giữ không khí trong phổi để nổi trên mặt nước, và đồng thời phải... anh biết mà... phải làm.”

“Không sao. Chiếc máy nổi của anh đủ to để cho cả hai ta không chìm.”

Nàng bật cười. Chúng tôi quả thực đã hoàn tất bữa tiệc dưới nước, có lẽ đã làm kinh sợ vô khối loài cá. Phổi của tôi giờ cảm thấy thật sự khá hơn.

Xong xuôi, cả hai chúng tôi đều ngửa người để trôi bồng bềnh. Tôi nhận xét, “Nhìn này, chiếc bánh lái của anh nhô khỏi mặt nước đấy.”

Nàng liếc nhìn sang tôi và nói, “Em tưởng nó là cột buồm chính.”

Thôi thì đủ những lời nghịch ngợm bằng ngôn từ của hàng hải. Tôi hơi nhỏm đầu dậy và nhìn nàng đang trôi ra xa bờ cùng thủy triều đang xuống. Quả thật, cặp vú của nàng như hai hòn đảo núi lửa dưới ánh trăng.

Nàng nói, “Nhìn lên trời kìa, John. Sao băng đấy.”

Tôi ngước lên bầu trời phía nam và nhìn thấy những ngôi sao băng.

“Anh ước điều gì đi.” Nàng nói.

“Được. Anh ước-"

“Đừng nói ra, nếu không nó sẽ không thành hiện thực đâu.”

“Nó đã thành hiện thực rồi, Emma. Anh và em.” Ý tôi là, chuyện này lãng mạn đến nhường nào? Tôi đã làm tình - hai lần. Khi sự ham muốn qua đi, điều còn lại là sự kinh tởm hoặc tình yêu. Tôi nghĩ là tôi đã yêu.

Nàng im lặng một lát rồi nói, “Rất tuyệt.”

“Anh nói thật đấy.”

Chúng tôi tiếp tục thả người trôi bồng bềnh. Sau một, hai phút nàng nói, “Nhìn kìa, bầu trời phía đông ấy. Anh có thấy chòm sao Tiên nữ không?”

“Không vì anh không mang kính.”

“Ngay đằng kia kìa. Anh nhìn đi.” Nàng cố vẽ hình một chòm sao cho tôi, nhưng nếu có ai đó ở trên trời có tên là Tiên nữ thì tôi không nhìn thấy cô ấy. Để cho lịch sự, tôi nói, “Ồ, thấy rồi. Cô ấy đi giầy cao gót.”

Emma chỉ cho tôi xa thêm về hướng đông và nói, “Kia là chòm sao Thi Mã. Anh biết không, đó là chú ngựa có cánh của thần Thi Nữ.”

“Anh biết rồi. Anh dùng con ngựa này chiến thắng vòng năm ở trường đua Belmont thứ bảy tuần trước. Về thứ tư.”

Emma đã biết cách không để ý đến lời nói của tôi và tiếp tục, “Thi mã sinh ra từ bọt biển và máu của con sứa bị sát hại.”

“Nó có nói thế trong bản đăng kí thi đấu đâu nhỉ.”

“Anh có muốn làm một lần nữa không?”

“Có.”

“Sau đó anh phải thôi làm gã ngốc như thế.”

“Cứ xem như là xong rồi đi.” Và tôi nói thật.

Ôi một đêm tuyệt vời - ánh trăng tròn sáng trên đầu, làn gió biển mát dịu, mùi của biển và muối, những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời tím biếc và sâu thẳm, một người phụ nữ đẹp, thân thể chúng tôi bồng bềnh, trồi lên hụp xuống theo nhịp sóng chậm chạp. Không gì hơn thế này. Với tất cả những gì của đêm nay, nó tuyệt vời hơn rất nhiều so với những nếm trải gần kề cái chết không mấy dễ chịu của tôi.

Điều này lại làm tôi nhớ đến Tom và Judy. Tôi nhìn lên bầu trời và gửi đi một ý nghĩ tốt đẹp về họ, giống như một lời chào và một lời tạm biệt, một lời hứa rằng tôi sẽ làm bất cứ điều gì có thể để tìm ra kẻ đã giết họ. Và tôi cầu xin họ hãy cho tôi một manh mối.

Tôi đoán đó là cảm giác của trạng thái thả lỏng hoàn toàn, sự giải tỏa dục tình, hay có thể là cảm giác khi ngắm nhìn những chòm sao, nối những chấm sáng trên bầu trời với nhau - là cái gì đi nữa, tôi cũng đang có nó lúc này. Toàn bộ bức tranh, những âm thanh sắc nhọn, những điểm, những đường kẻ, tất cả đang ùa tới vội vã, và bộ óc tôi đang chạy đua nhanh tới mức tôi không còn theo kịp được với ý nghĩ của mình. Tôi la lên, “Là nó!” và thở ra một hơi mạnh đến nỗi phải chìm nghỉm.

Tôi trồi lên mặt nước và thổi phì phì. Emma đã đến cạnh tôi, gương mặt nàng lo lắng. “Anh có sao không?”

“Anh thấy tuyệt vời.”

“Anh -?”

“Những cái cây của thuyền trưởng Kidd.”

“Là thế nào?”

Tôi nắm lấy cánh tay nàng và chúng tôi bơi đứng. Tôi nói, “Em đã nói gì với anh về những cái cây của thuyền trưởng Kidd nhỉ?”

“Em nói có một truyền thuyết rằng thuyền trưởng Kidd chôn giấu một phần kho báu của ông ấy dưới một trong những gốc cây ở gần lạch Mattituck. Chúng được gọi là cây của Thuyền trưởng Kidd.”

“Chúng ta đang nói về thuyền trưởng Kidd là cướp biển, đúng không?”

“Đúng. William Kidd.”

“Những cái cây ấy ở đâu?” Tôi hỏi.

“Ngay phía bắc nơi này. Nơi lạch nước đổ ra biển Sound. Sao anh lại-"

“Thuyền trưởng Kidd thì sao? Ông ấy phải làm gì với nơi này?”

“Anh không biết sao?”

“Không. Nên anh mới hỏi em.”

“Em tưởng mọi người đều biết.”

“Anh không biết. Em nói đi.”

“Ồ, người ta cho rằng kho báu của ông ấy được chôn ở nơi nào đó quanh đây.”

“Ở đâu?”

đâu? Em biết thì đã giàu rồi.” Nàng mỉm cười. “Và em cũng không nói với anh đâu.”

Điều này thật kì lạ. Nó hoàn toàn phù hợp... nhưng cũng có thể hoàn toàn sai... Không, chết tiệt, nó hoàn toàn phù hợp. Phù hợp với tất cả mọi thứ. Tất cả những mảnh rời rạc kia, lúc trước có vẻ như hợp với thuyết Hỗn loạn, giờ lại trở nên rõ ràng và hợp với thuyết Thống nhất giải thích tất cả mọi thứ. “Đúng...”

“Anh có sao không? Trông anh xanh lắm.”

“Anh không sao. Anh phải uống một chút.”

“Em cũng thế. Gió bắt đầu lạnh dần rồi.”

Chúng tôi bơi vào bờ, vơ quần áo và trần truồng chạy qua bãi cỏ lên nhà. Tôi lấy hai chiếc áo choàng tắm dày và lôi bình rượu mạnh của cậu Harry ra cùng hai chiếc ly. Chúng tôi ngồi trên hiên nhà, uống rượu và ngắm nhìn những ánh đèn bên kia vịnh. Một chiếc thuyền buồm lướt nhẹ trên mặt nước, cánh buồm trắng trông ma quái dưới ánh trăng, những đám mây mỏng mảnh đang trôi trên bầu trời trăng sao vằng vặc. Một đêm kì diệu. Kì diệu. Tôi nói với Tom và Judy, “Tôi sắp tìm ra rồi, sắp ra rồi.”

Emma liếc nhìn tôi và chìa chiếc ly của nàng ra. Tôi rót thêm rượu cho nàng và nói, “Em kể về thuyền trưởng Kidd đi.”

“Anh muốn biết điều gì?” Nàng hỏi.

“Tất cả mọi thứ.”

“Tại sao?”

“Tại sao...? Anh cảm thấy lôi cuốn với những tên cướp biển.”

Nàng nhìn tôi một lát rồi hỏi, “Từ bao giờ?”

“Từ lúc anh còn trẻ con.”

“Chuyện này có gì liên quan đến vụ án mạng không?”

Tôi nhìn Emma. Cho dù đã thân mật với nhau, nhưng tôi biết rất ít về nàng, và tôi không biết có thể tin nàng sẽ giữ kín chuyện này không. Tôi cũng nhận ra là mình đã quá hào hứng về chuyện thuyền trưởng Kidd. Phải cố giữ bình tĩnh, tôi hỏi, “Thuyền trưởng Kidd có thể liên quan gì đến vụ giết vợ chồng Gordon?”

Nàng nhún vai, “Em không biết. Em đang hỏi anh cơ mà.”

Tôi nói, “Anh đang giờ nghỉ, không làm việc. Anh chỉ tò mò về những tên cướp biển và chuyện kho báu.”

“Em cũng đang giờ nghỉ. Không nói gì nữa về lịch sử cho tới mai.”

“Được.” Tôi hỏi, “Em sẽ ở đây tối nay chứ?”

“Có thể. Để em nghĩ đã.”

“Được thôi.”

Tôi bật đài cát xét mở băng nhạc khiêu vũ của nhóm Big Band. Chúng tôi nhảy trên hiên sau nhà với đôi chân trần cùng áo choàng tắm, uống rượu, ngắm nhìn vịnh và những ngôi sao trên trời.

Đó là một trong những đêm đam mê, như người ta thường nói, một trong những đêm thần tiên và là khúc dạo đầu cho một câu chuyện không hay.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.