Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34

❊ ❊ ❊

Beth dường như bị thôi miên bởi bóng con tàu khổng lồ đổ ập lên chúng tôi.

Tôi cũng bị bất ngờ. Tôi đã không nghe thấy tiếng của nó trong âm thanh gầm rú của gió bão và động cơ trên tàu của mình. Ngoài ra, tầm nhìn cũng bị hạn chế, còn chiếc Christ-Craft lại không bật đèn.

Dù thế nào, Fredric Tobin cũng sắp đâm vào sườn chúng tôi và tất cả những gì tôi có thể nghĩ tới là mũi tàu Autumm Gold chẻ đôi đuôi chiếc Sondra, một hình ảnh kiểu Phrớt nếu thực sự có thứ như thế.

Dù sao, có vẻ như chúng tôi sắp bị đánh đắm rồi.

Nhận ra chúng tôi đang nhìn hắn, Tobin bật chiếc loa điện báo tín hiệu lên và la lớn, “Tổ cha chúng mày.”

Hắn nói thế thật đấy.

Tôi ấn van tiết lưu và khoảng cách giữa chúng tôi với hắn rộng ra. Hắn biết là không thể nào đua tốc độ với một chiếc Formula 303, ngay cả ở trên biển đang có bão như thế này. Hắn lại chào chúng tôi bằng câu, “Tổ cha chúng mày! Chúng mày chết đi! Chúng mày chết đi!”

Giọng nói của Freddie nghe chói tai, nhưng có thể đó là do chiếc loa điện tử làm đổi giọng.

Beth đã rút khẩu Glock 9 li của nàng ra từ lúc nào và núp sau ghế, lấy điểm tựa chắc chắn vào lưng ghế. Tôi nghĩ nàng nên bắn, nhưng nàng không làm thế.

Tôi liếc nhìn chiếc Christ-Craft phía sau và thấy Tobin không còn trên đài quan sát mà đang trong cabin trên boong, nơi tôi biết là có đầy đủ các thiết bị điều khiển. Tôi cũng thấy kính chắn gió phía sườn lái của cabin đã được nâng lên. Quan trọng hơn là viên hoa tiêu, thuyền trưởng Freddie, đang thò ra ngoài cửa sổ, tay phải cầm khẩu súng trường, còn tay trái thì tôi đoán là giữ lái. Vai phải hắn tựa vào thành cửa sổ, khẩu súng chĩa thẳng về phía chúng tôi.

Chúng tôi đang ở trên hai con tàu chạy liều mạng trong đêm tối không đèn đóm, gió và sóng như thế, và tôi đoán đó là lý do vì sao Tobin vẫn chưa nhả đạn. Tôi nói to với Beth, “Bắn mấy phát đi.”

Nàng gọi sang, “Em không được bắn khi hắn chưa bắn.”

“Bắn đi!”

Nàng làm theo. Thật ra, nàng bắn cả mười lăm phát liền, và tôi nhìn thấy kính chắn gió bên cạnh Tobin vỡ tan. Tôi cũng thấy Tobin không còn thò ra cửa sổ với khẩu súng dài nữa. Tôi bảo Beth, “Tốt lắm!”

Nàng lắp tiếp một băng mười lăm viên vào khẩu súng ngắn và hướng về phía chiếc tàu lớn.

Tôi phải để mắt ra phía sau trong khi cố kiểm soát con tàu giữa những đợt sóng biển ngày càng mạnh. Bất ngờ, Tobin thò ra ngoài cửa sổ và tôi thấy khẩu súng của hắn chớp sáng. “Nằm xuống!” Tôi thét lên. Khẩu súng trường của hắn bắn thêm ba phát nữa. Tôi nghe tiếng một viên đạn cắm vào bảng điều khiển phía trước, rồi chiếc kính chắn gió vỡ tan. Beth đang bắn trả, không vội vã như lần trước.

Tôi biết chúng tôi không thể sánh được với độ chính xác của khẩu súng trường trên tay hắn nên vội cho tàu chạy hết tốc lực và chúng tôi lao về trước, lao qua ngọn một con sóng và tách hẳn khỏi chiếc Christ-Craft. Ở khoảng cách gần hai chục mét, hai bên không còn nhìn thấy nhau. Tôi nghe tiếng chiếc loa của hắn loẹt xoẹt phía sau, rồi thấy giọng nói yếu ớt của hắn vọng tới qua tiếng bão. “Tổ cha chúng mày! Chúng mày sẽ chết chìm! Chúng mày không sống được qua cơn bão này đâu! Tổ cha chúng mày!”

Mấy câu chửi nghe không giống chút nào là của quý ông lịch lãm mà tôi đã biết và không ưa. Đó là của một kẻ đã để mất bộ mặt giả tạo.

“Chúng mày chết đi! Hai đứa chết tiệt chúng mày chết đi!”

Tôi thật sự khó chịu khi bị chửi bởi chính kẻ vừa mới giết người tôi yêu quý. Tôi nói với Beth, “Thằng con hoang này chết đi.”

“Đừng để hắn làm phân tâm, John. Hắn đã kết thúc và hắn biết điều đó. Hắn đang tuyệt vọng.”

Hắn tuyệt vọng? Chúng tôi cũng đâu có hơn gì.

Beth vẫn ở tư thế bắn, mặt quay về phía sau, súng tì lên thành ghế. Nàng bảo tôi, “John, anh cua một vòng rộng, chúng ta sẽ ở phía sau hắn.”

“Beth, anh không phải là John Paul Jones[1] và đây cũng không phải là trận chiến của hải quân.”

“Em không muốn hắn ở đằng sau chúng ta.”

“Đừng lo. Cứ chú ý canh chừng hắn là được.” Tôi liếc nhìn đồng hồ báo xăng và thấy kim đồng hồ nằm giữa mức một phần tám và chữ E. Tôi nói, “Chúng ta không có đủ xăng để đánh trận đâu.”

Nàng hỏi tôi, “Anh có nghĩ hắn vẫn sẽ tới Đảo Plum chứ?”

“Đó là chỗ để vàng.”

“Nhưng hắn đã biết chúng ta đang theo hắn.”

“Đó là lí do tại sao hắn vẫn cố để giết chúng ta.” Tôi nói thêm, “Hoặc ít nhất là tận mắt thấy chúng ta bị lật tàu và chết chìm.”

Nàng không nói gì hồi lâu rồi hỏi tôi, “Làm sao chúng ta lại ở phía trước hắn được nhỉ?”

“Anh đoán là vì ta chạy nhanh hơn hắn. Định luật của vật lý.”

“Anh có kế gì không?”

“Không. Còn em?”

“Đến lúc chạy vào một cảng biển an toàn chưa?”

“Có thể. Nhưng chúng ta không thể quay lại. Anh không muốn chạy vào tầm bắn của Freddie lần nữa.”

Beth tìm thấy tấm hải đồ bọc plastic trên sàn tàu và mở ra, đặt trên bàn điều khiển phía trước. Nàng chỉ và nói, “Đó chắc chắn là ngọn hải đăng Long Beach Bar ở đằng kia.”

Tôi nhìn ra phía trước phía bên phải và thấy một ánh đèn nhấp nháy yếu ớt.

Nàng nói tiếp, “Nếu đi về bên trái của ngọn hải đăng, ta có thể thấy một số điểm mốc của eo biển dẫn tới Đông Marion hoặc Orient. Ta có thể đáp tàu vào một nơi nào đó và gọi cho lực lượng bảo vệ bờ biển hoặc nhân viên an ninh trên Đảo Plum để báo động cho họ.”

Tôi nhìn tấm hải đồ dưới ánh sáng mờ của ngọn đèn trên bảng điều khiển. Tôi nói, “Không có cách nào để anh định hướng được trong bão để đi qua những eo biển hẹp này. Nơi duy nhất có thể đến là Greenport hoặc có thể là Dering, nhưng Freddie đã chặn đường của ta tới hai nơi đó rồi.”

Nàng thoáng suy nghĩ rồi nói, “Nói cách khác, không phải là chúng ta đang đuổi hắn mà là hắn đang đuổi ta ra ngoài biển khơi.”

“Em cũng có thể nói là chúng ta đang dẫn hắn vào bẫy.”

“Bẫy nào?”

“Anh biết em sẽ hỏi anh câu đó. Tin anh đi.”

“Tại sao?”

“Tại sao lại không?” Tôi giảm ga và chiếc Formula chạy chậm lại một chút. Tôi nói với Beth, “Quả thật là anh thích nó diễn ra theo cách này. Giờ anh đã biết chắc chắn rằng hắn ở đâu và hắn sẽ đi đâu.” Tôi nói thêm, “Anh thích đối phó với hắn ở trên bộ hơn. Chúng ta sẽ gặp hắn trên Đảo Plum.”

Beth gập tấm hải đồ lại. “Đúng thế.” Nàng ngoái lại nhìn qua vai và nói, “Súng của hắn hơn chúng ta, tàu cũng hơn của ta.”

“Đúng thế.” Tôi xác định đường đi tới bên phải của ngọn hải đăng để ra vịnh Gardiners, sau đó sẽ có đường tới Đảo Plum. Tôi hỏi nàng, “Em còn bao nhiêu viên đạn?”

Nàng đáp, “Em còn chín viên trong băng này với một băng đủ mười lăm viên trong túi.”

“Tốt rồi.” Tôi liếc sang nhìn nàng và nói, “Ở chỗ ấy bắn được đấy.”

“Cũng không hẳn.”

“Em làm hắn không dám thò ra bắn. Cũng có thể hắn đã bị trúng đạn rồi.”

Nàng không trả lời.

Tôi nói, “Anh nghe thấy viên cuối cùng bay qua tai anh trước khi xuyên qua kính chắn gió. Chết tiệt! Giống hệt như những lần trước khi ở thành phố.” Tôi hỏi nàng, như một lời muộn màng, “Em không sao chứ?”

“Ờ...”

Tôi nhìn nhanh về phía nàng. “Có chuyện gì thế?”

“Không biết...”

“Beth? Làm sao thế?” Tôi thấy tay trái nàng lùa dưới chiếc áo mưa choàng và nàng nhăn mặt. Nàng rút tay ra, bàn tay đầy máu. Nàng nói, “Chết tiệt...”

Tôi thật sự không nói được lời nào.

Nàng nói, “Buồn cười thật... em không biết là bị dính đạn... rồi em thấy ấm ấm... Nhưng không sao, chỉ bị sượt qua thôi.”

“Em... em chắc không...?”

“Vâng... em cảm thấy được chỗ viên đạn đi qua”.

“Để anh xem. Em lại đây”.

Nàng đến gần chỗ tôi đứng trước bánh lái, quay mặt về phía đuôi tàu. Nàng nới lỏng chiếc áo phao rồi vén chiếc áo mưa và cả áo sơ mi lên. Mảng sườn của nàng ở khoảng giữa ngực với hông dính đầy máu. Tôi với tay qua và nói, “Cầm máu rồi.” Tôi sờ vết thương và thở phào khi biết đó chỉ là vết đạn sượt qua gần xương sườn phía dưới. Vết thương khá sâu, nhưng chưa chạm đến xương.

Beth há miệng thở ra khi những ngón tay tôi chạm vào vết thương. Tôi bỏ tay ra và bảo, “Ổn rồi.”

“Em đã nói với anh rồi mà.”

“Anh đáng ăn một cái đá vì sờ tay vào vết thương do đạn bắn. Em thấy đau không?”

“Lúc nãy thì không. Giờ mới đau.”

“Em xuống dưới tìm bộ đồ sơ cứu đi.”

Nàng đi xuống dưới.

Tôi đánh mắt quan sát quanh đường chân trời. Thậm chí trong bóng tối, tôi vẫn nhìn được hai điểm trên đất liền ở hai bên đánh dấu sự kết thúc của phần eo biển khá yên sóng.

Một phút sau, chúng tôi đã ra ngoài vịnh Gardiners. Hai phút sau, mặt biển như có ai đó nhấn nút cho nhồi lên dập xuống. Gió hú, những cơn sóng xô ầm ầm, con tàu gần như không thể điều khiển được và tôi bắt đầu cân nhắc phải lựa chọn như thế nào.

Beth bám tay vào cầu thang đi lên từ dưới cabin rồi bám chặt vào tay nắm trên bàn điều khiển.

Tôi gọi to trong tiếng gió và sóng biển, “Em không sao chứ?”

Nàng gật đầu rồi nói lớn, “John! Chúng ta phải quay lại!”

Tôi biết nàng nói đúng. Chiếc Formula không thích hợp với việc này và cả tôi cũng vậy. Rồi tôi lại nhớ lời của vợ chồng Gordon nói với tôi khi ở hiên sau nhà trong cái đêm dường như đã xa lắm rồi. Tàu ở trên cảng là tàu an toàn. Nhưng đó không phải là lí do người ta làm ra những con tàu.

Quả thật, tôi không còn cảm thấy sợ trước biển hay cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Tâm trạng tôi bị kích thích, lòng đầy căm giận. Tôi liếc nhìn Beth và ánh mắt chúng tôi gặp nhau. Nàng dường như cũng hiểu, nhưng nàng không muốn chia sẻ sự điên loạn trong tôi. Nàng nói, “John ... nếu chúng ta chết, hắn sẽ trắng tội. Chúng ta phải vào một cảng nào đó hoặc một lạch nước kín.”

“Anh không thể... ý anh là, chúng ta sẽ mắc cạn và đắm mất. Chúng ta phải đi tiếp.”

Nàng không đáp.

Tôi nói, “Chúng ta có thể vào bờ ở Đảo Plum. Anh có thể cho tàu vào vũng nước kín đó. Nơi đó dễ nhận ra và có đủ ánh sáng. Họ có máy phát điện riêng.”

Nàng mở hải đồ ra và nhìn chăm chú vào đó như thể đang cố tìm ra câu trả lời cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan lúc này. Thật ra, tôi đã biết rồi, hai chiếc cảng duy nhất có thể vào là Greenport và Dering thì ở phía sau, nhưng Tobin đã chặn mất đường quay lại.”

Nàng nói, “Giờ đã ở ngoài khơi, chúng ta có thể vòng lại để quay về Greenport.”

Tôi lắc đầu. “Beth, chúng ta phải đi trong eo biển có dấu mốc. Nếu để mất không nhìn được các dấu mốc này thì chúng ta coi như toi rồi. Chúng ta đang ở trên một con đường hẹp và có một gã cầm súng phía sau, vì thế cách duy nhất là chạy thẳng.”

Nàng nhìn tôi và tôi biết nàng không hoàn toàn tin tôi. Điều này là có thể hiểu được vì tôi không hoàn toàn nói sự thật. Sự thật là, tôi muốn giết Fredric Tobin. Khi tôi nghĩ hắn đã giết Tom và Judy, tôi sẽ hài lòng nếu được thấy chính quyền bang New York kết liễu đời hắn. Nhưng lúc này, khi hắn đã giết Emma, tôi phải tự tay mình giết hắn. Gọi cho lực lượng bảo vệ bờ biển hay an ninh của Đảo Plum sẽ không trả được món nợ này. Nói đến nợ, tôi lại tự hỏi không biết Paul Stevens ở đâu đêm nay.

Beth cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi và nói, “Năm người vô tội đã chết, John, và năm người là quá nhiều rồi. Em sẽ không để anh phí bỏ mạng sống của em và của anh. Chúng ta quay lại thôi. Đi anh.”

Tôi nhìn nàng và nói, “Em định chĩa súng vào anh sao?”

“Nếu anh buộc em phải làm thế.”

Tôi nhìn nàng trân trân và nói, “Beth, anh có thể đối phó được với thời tiết này. Anh biết anh làm được mà. Chúng ta sẽ không sao đâu. Tin anh đi.”

Nàng nhìn lại tôi hồi lâu rồi nói, “Tobin đã giết chết Emma Whitestone ngay trước mũi anh và nó làm tổn thương lòng tự trọng của người đàn ông trong anh, một sự sỉ nhục đối với hình ảnh về đấng nam nhi và cái tôi của anh. Đó là điều khiến anh hành động như thế này. Đúng không?”

Nói dối cũng chẳng ích gì, tôi bảo, “Một phần là thế.”

“Vậy còn phần kia là gì?”

“Ờ... anh đã yêu cô ấy.”

Beth gật đầu. Nàng dường như suy tư một lúc rồi nói, “Được rồi... nếu anh định để cho chúng ta bị giết thì có thể anh cũng nên biết toàn bộ sự thật.”

“Toàn bộ sự thật nào?”

Nàng đáp, “Kẻ giết Emma Whitestone... em đoán là Tobin... đã hiếp chị ấy.”

Tôi không đáp. Tôi cũng không hoàn toàn bị sốc.

Có một nửa thuộc về bản năng của tất cả mọi đàn ông, kể cả những gã công tử bột như Fredric Tobin, và cái nửa tối này, một khi lấn át nửa kia, nó sẽ thể hiện ra một cách có thể thấy trước được và rất đáng sợ. Có thể nói tôi đã thấy tất cả những chuyện ấy - hãm hiếp, tra tấn, bắt cóc, gây thương tích, giết người, và bất cứ điều gì có trong luật hình sự. Nhưng đây là lần đầu tiên một kẻ xấu gửi đến một lời thách thức cho chính tôi. Và tôi đã không xử lí nó với sự tỉnh táo thường thấy. Hắn đã hiếp nàng. Và khi làm điều đó với nàng, hắn đã làm điều đó với chính tôi - hoặc nghĩ rằng gã đang làm thế.

Hai chúng tôi không nói gì một lúc lâu. Thật ra, tiếng ồn của động cơ, của gió và sóng biển khiến nói chuyện cũng khó. Thế lại tốt cho tôi.

Beth ngồi trên ghế trái, tay nàng bám chặt mỗi khi con tàu nhồi lên dập xuống, chệch đường hay bất cứ điều gì, chỉ trừ có lộn nhào và chìm sâu xuống biển.

Tôi vẫn đứng trước bánh lái, ép chặt thân người vào ghế. Gió thổi qua chiếc kính chắn gió đã bị vỡ thốc thẳng vào người, mưa xối xả từ mọi hướng. Xăng không còn nhiều, tôi đã cảm thấy lạnh, ướt sũng, mệt mỏi và dường như không thể chịu được hình ảnh Tobin làm điều đó với Emma. Beth dường như cũng im lặng một cách kì lạ, cơ thể gần như cứng đơ, mắt nhìn thẳng về phía trước nơi những con sóng đang ầm ầm lao tới.

Cuối cùng, nàng dường như sực tỉnh và ngoái lại nhìn về phía sau. Không nói một lời, nàng rời ghế và đi về phía đuôi tàu. Tôi liếc nhìn và thấy nàng đang quỳ ở phía đuôi tàu, khẩu súng ngắn 9 li cầm trên tay. Tôi nhìn ra biển phía sau chúng tôi nhưng chỉ thấy những cột sóng cao ngất đang đuổi theo con tàu. Rồi khi chiếc Formula bị nâng lên cao bởi một con sóng lớn, tôi có thể thấy đài quan sát của chiếc Christ-Craft phía sau, cách chưa đầy hai chục mét và đang tiến gần hơn. Tôi quyết định giảm ga xuống đến mức chỉ đủ để điều khiển tàu. Nghe tiếng động cơ chậm lại, Beth liếc nhìn về phía tôi và gật đầu hiểu ý. Nàng hướng về phía chiếc Chris-Craft và lấy đường ngắm. Chúng tôi buộc phải đối mặt với tên khốn kia.

Tobin đã nhận ra sự thay đổi tốc độ đột ngột của tàu chúng tôi và trước khi hắn hiểu ra, chiếc Christ-Craft chỉ còn cách chúng tôi chưa đầy mười hai mét, mà hắn thì chưa kịp đặt súng vào vị trí để bắn. Trước khi hắn chuẩn bị xong, Beth bắt đầu bắn từng phát chắc chắn vào cái bóng đen trên cửa sổ cabin. Tôi quan sát tất cả, vừa điều khiển cho mũi tàu hướng về phía những con sóng, vừa ngoái lại nhìn để xem Beth có hề hấn gì không.

Tobin dường như mất dạng trong cabin, không biết có phải đã trúng đạn hay không. Nhưng rồi bất thình lình đèn pha đặt trên mũi tàu Christ- Craft bật sáng, ánh đèn rọi thẳng vào chiếc Formula và thấy rõ cả Beth đang quỳ ở phía đuôi tàu. “Chết tiệt.” Beth đang lắp băng đạn cuối cùng vào khẩu Glock, còn Tobin đã trở lại bên kính chắn gió, hai tay nâng súng và thả hẳn cho bánh lái quay tự do.

Tôi rút vội khẩu .38, quay người lại và tì lưng lên bánh lái để giữ chặt trong lúc ngắm bắn. Khẩu súng trường của Tobin đang chĩa thẳng vào Beth từ khoảng cách chưa đến bốn mét ruỡi.

Trong nửa giây, dường như tất cả mọi thứ đều ngừng chuyển động - cả hai con tàu, Beth, Tobin, tôi, và cả sóng biển. Khẩu súng trường của Tobin đang chĩa vào Beth đột nhiên quay ngoắt về phía tôi, ánh lửa đạn lóe lên đúng lúc con tàu Christ-Craft không người điều khiển chao mạnh sang trái khiến đường bắn của Tobin bị chệch đi. Lúc này chiếc Christ- Craft đang ở vị trí vuông góc với đuôi tàu Formula và tôi nhìn thấy Tobin ở cửa sổ bên sườn của cabin. Hắn cũng nhìn thấy tôi, ánh mắt hai bên gặp nhau. Tôi bắn thêm ba phát vào cabin và cửa sổ bên sườn vỡ tan. Khi tôi nhìn lại thì hắn đã biến mất.

Tôi nhận ra kéo phía sau tàu Christ-Craft là chiếc thuyền Whaler nhỏ mà tôi đã thấy trong nhà để tàu hôm trước. Tôi chắc chắn Tobin định dùng chiếc Whaler để lên bờ Đảo Plum.

Chiếc Christ-Craft đổi hướng tứ tung, chắc hẳn là không có ai giữ bánh lái. Chính lúc tôi tự hỏi hay là hắn đã trúng đạn, chiếc tàu của hắn hướng mũi về phía chúng tôi có chủ ý, đèn pha của tàu lại rọi thẳng về phía chúng tôi. Beth bắn luôn vào chiếc đèn, đến phát thứ ba thì chiếc đèn nổ tung thành một chùm đốm sáng và thủy tinh.

Tobin không chịu thua, hắn mở tốc lực cho động cơ tàu Christ-Craft. Mũi tàu của hắn tiến gần đến đuôi tàu Formula và đã đâm thẳng vào nếu Beth không kịp rút khẩu súng hiệu trong túi ra và bắn thẳng vào kính chắn gió trên tàu hắn. Một tiếng nổ kèm theo ánh sáng chói lòa của chất phốt pho. Chiếc Christ-Craft đột ngột đổi hướng khi Tobin, như tôi đoán, đã bỏ bánh lái rất nhanh để hụp xuống và che người. Có thể hắn bị bỏng, bị mù, hoặc đã chết.

Beth thét lên, “Chạy đi! Chạy đi!”

Tôi nhấn ga và chiếc Formula lao lên phía trước.

Tôi nhìn thấy những đốm lửa cháy trên đài quan sát của chiếc Christ- Craft. Beth và tôi nhìn nhau, cả hai tự hỏi phải chăng chúng tôi đã gặp may. Nhưng khi chúng tôi nhìn lại chiếc tàu của Tobin phía sau, những đám lửa đã yếu dần. Ở khoảng cách chừng mười hai mét, tôi lại nghe thấy tiếng loẹt xoẹt của chiếc loa và gã con hoang kia lại có cái để chửi.

“Corey! Tao sắp tóm được mày rồi! Cả mày nữa, đồ chó cái! Tao sẽ giết cả hai đứa chúng mày. Tao sẽ giết!”

Tôi nói với Beth, “Anh nghĩ hắn nói thật đấy.”

“Hắn dám gọi em là đồ chó cái.”

“Ồ... đương nhiên là muốn chọc tức em. Hắn không quen em thì làm sao hắn biết em là chó cái? Ý anh là, nếu em có là chó cái thật.”

“Em biết anh muốn nói gì.”

“Đúng đấy.”

“Cẩn thận, John. Hắn lại đến gần đấy.”

“Đúng rồi.” Tôi tăng thêm ga, nhưng tốc độ lớn khiến chiếc Formula liệng mạnh. Con tàu húc phải một con sóng lớn mạnh đến mức mũi tàu dựng hẳn lên và tôi tưởng chúng tôi ngã ngửa ra phía sau. Tôi nghe thấy tiếng Beth kêu to và nghĩ chắc nàng đã bị ngã ra sàn tàu. Nhưng khi con tàu thăng bằng trở lại, nàng lăn qua sàn và rơi xuống giữa cầu thang trước khi nàng dừng lại được. Nàng nằm trên cầu thang, tôi gọi to, “Em không sao chứ?”

Nàng gượng dậy bằng cả chân lẫn tay và lồm cồm bò lên cầu thang. “Em không sao...”

Tôi giảm bớt ga và nói, “Em xuống dưới nghỉ một lát đi.”

Nàng lắc đầu và đi tới khoảng giữa ghế ngồi với bảng điều khiển phía trước. “Anh để ý đường đi và các dấu mốc trên eo biển, còn em canh chừng Tobin.”

“Được.” Tôi có ý nghĩ rằng có lẽ Beth nói đúng, và tôi nên vòng lại đi phía sau hắn, chứ không nên để hắn đuổi phía sau lần nữa. Có thể nếu hắn đang ngồi trong chiếc cabin khô ráo của tàu Christ-Craft, hắn sẽ không nhìn thấy chúng tôi và chúng tôi có thể vòng ra sau. Nhưng nếu để hắn nhìn thấy, chúng tôi sẽ lại phải chịu trận với khẩu súng trường kia lần nữa.

Lợi thế duy nhất của chúng tôi là tốc độ, nhưng chúng tôi không thể tận dụng được lợi thế đó trong điều kiện thời tiết như thế này.

“Tôi nói với Beth, “Đi khôn khéo. Ý tưởng hay đấy.”

Nàng không đáp.

“Em còn quả pháo sáng nào nữa không?”

“Còn năm quả.”

“Tốt rồi.”

“Không hẳn đâu. Em để mất khẩu súng bắn pháo sáng rồi.”

“Em có muốn quay lại để tìm không?”

“Em chán ngấy mấy trò đùa của anh rồi?”

“Anh cũng thế. Nhưng đó là tất cả những gì chúng ta có.”

Vậy là chúng tôi tiếp tục đi trong im lặng, đi trong mưa bão ngày càng dữ dội.

Cuối cùng, nàng bảo, “Em tưởng là em toi rồi.”

Tôi đáp, “Chúng ta không được để hắn đến gần như thế lần nữa.”

Nàng nhìn tôi và nói, “Hắn bỏ em để bắn anh đấy.”

“Đó là câu chuyện của đời anh. Cứ khi nào ai đó chỉ còn một viên đạn, người ta sẽ chọn anh để bắn.”

Nàng gần như mỉm cười rồi biến mất ở phía dưới. Chưa đầy một phút sau, nàng quay lên và đưa cho tôi một chai bia nữa. Nàng bảo, “Mỗi lần làm việc gì xuất sắc, anh được một chai bia.”

“Anh không còn nhiều mánh nữa đâu? Em có bao nhiêu chai bia?”

“Hai chai.”

“Thế là tốt rồi”.

Tôi cân nhắc mọi lựa chọn và biết rằng đất liền hầu hết đã trôi qua mất rồi. Giờ chỉ còn hai nơi có thể đến - bến phà ở Orient Point và vũng nước kín trên Đảo Plum. Orient Point có lẽ đã ở gần phía trước bên trái, còn Đảo Plum thì xa hơn hai dặm. Tôi nhìn đồng hồ báo xăng. Kim đã chỉ sang vùng màu đỏ nhưng chưa chạm đến chữ E.

Biển động mạnh tới mức tôi thậm chí còn không thấy được những điểm mốc đánh dấu eo biển trong một quãng lâu. Tôi biết rằng Tobin đang ngồi ở vị trí cao trên cabin có thể quan sát các điểm mốc và cả chúng tôi dễ dàng hơn. Khi nghĩ đến đó, tôi chợt giật mình nghĩ rằng chắc chắn hắn phải có ra đa, chẳng thế mà hắn tìm được chúng tôi. Và chắc hẳn hắn cũng có thiết bị đo độ sâu, vì thế việc định hướng cũng dễ dàng hơn cho hắn nếu bị mất tầm nhìn tới các điểm mốc của eo biển. Tóm lại, chiếc Sondra không thể sánh được với chiếc Autumm Gold. “Chết tiệt.”

Mỗi lần có đợt sóng đến dồn dập hơn lại có một con sóng vỡ ngay trên mũi tàu hoặc hai bên sườn, và tôi lại cảm thấy chiếc Formula như nặng hơn. Tôi chắc hẳn đáy tàu đang ngập sâu thêm. Trọng lượng nước đổ vào tàu khiến chúng tôi bị giảm tốc độ và phải sử dụng nhiều nhiên liệu hơn. Tôi hiểu Tobin có thể bắt kịp chúng tôi với tốc độ hiện thời. Tôi cũng nhận ra rằng chúng tôi đã thua trong trận chiến với biển cả, cũng như trong trận đánh với đối phương.

Tôi liếc nhìn Beth, nàng cũng cảm thấy ánh mắt tôi đang nhìn nàng và quay sang. Nàng nói, “Nếu chúng ta có bị lật tàu hoặc đắm, em muốn anh biết một điều rằng em thật sự thích anh.”

Tôi mỉm cười đáp, “Anh biết rồi.” Tôi nhìn nàng và nói, “Anh xin lỗi. Anh không bao giờ nên-"

“Lái đi và ngậm miệng lại.”

Tôi hướng tâm trí trở lại chiếc bánh lái. Tàu Formula đang đi chậm đến mức sóng biển phía sau đang tràn lên cả đuôi tàu. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ bị nước vào đầy, hoặc buồng máy sẽ bị ngập, có thể Tobin sẽ ở ngay phía trên đầu chúng tôi và lần này thì không thể chạy nhanh hơn hắn được nữa.

Beth vẫn để tâm quan sát Tobin và tất nhiên, nàng nhìn thấy nước biển tràn qua đuôi tàu. Nàng không thể không nhận ra con tàu đang ngày càng thấp xuống so với mặt nước. Nàng nói, “John, tàu sắp bị ngập rồi.”

Tôi lại nhìn đồng hồ báo xăng. Cơ hội duy nhất của chúng tôi lúc này là mở thốc ga để xem có chuyện gì. Tôi đặt tay vào van tiết lưu và đẩy hết về phía trước.

Chiếc Formula bật lên, ban đầu còn chậm, sau đó lấy được tốc độ. Chúng tôi ít bị nước tràn vào đuôi tàu hơn, nhưng con tàu lại va mạnh vào những con sóng phía trước. Quả thật là mạnh đến mức như thể lao vào tường cứ năm giây một lần. Tôi nghĩ chắc con tàu sẽ vỡ mất, nhưng vỏ tàu bằng sợi thủy tinh vẫn tỏ ra chắc chắn.

Beth bám chặt vào ghế ngồi, người hất lên và giật xuống mỗi lần tàu gặp một con sóng.

Việc để tàu chạy hết tốc lực cũng có tác dụng, kiểm soát được tàu và giữ cho nó khỏi bị nước vào, nhưng không tiết kiệm được nhiên liệu cho lắm. Tuy nhiên, tôi không còn lựa chọn nào khác. Tôi đã đánh đổi việc chắc chắn bị chìm ngay lập tức với việc chắc chắn một lúc nữa sẽ hết xăng. Đổi thế vẫn là hời to.

Nhưng kinh nghiệm của tôi với những chiếc đồng hồ báo xăng - từ khi tôi gặp phải với chiếc ô tô đầu tiên của tôi - là kim đồng hồ thường chỉ nhiều hơn hoặc ít hơn mức thực tế còn lại trong bình. Tôi không biết chiếc đồng hồ nào sai số đến đâu, nhưng cũng sẽ sớm được biết thôi.

Beth hỏi, “Xăng thế nào rồi?”

“Còn khá.”

Nàng cố lấy giọng nhẹ nhàng và bảo, “Anh có muốn dừng lại để đổ xăng và hỏi thăm đường đi không?”

“Không. Đàn ông đích thực không bao giờ hỏi đường, và chúng ta còn đủ xăng để đến Đảo Plum.”

Nàng mỉm cười.

Tôi nói với nàng, “Em xuống dưới một chút đi.”

“Nếu tàu bị lật thì sao?”

“Giờ nó quá nặng, không thể lật được đâu. Chúng ta sẽ đắm. Nhưng em sẽ được cảnh báo sớm. Nghỉ đi.”

“Được rồi.” Nói xong, nàng đi xuống bên dưới. Tôi lấy tấm hải đồ từ ngăn để đồ ra và vừa xem, vừa lái tàu. Ở phía xa bên trái, tôi thấy loáng thoáng một ánh đèn nhấp nháy sáng, hẳn đó phải là ngọn hải đăng Orient Point. Tôi nhìn vào hải đồ. Nếu tôi rẽ sang hướng chính bắc, có lẽ tôi sẽ tìm được bến phà ở Orient Point. Nhưng có nhiều đá và bãi ngầm giữa bến phả với ngọn hải đăng đến nỗi phải có một phép màu nào đó mới giúp vượt qua được. Khả năng còn lại là đi tiếp chừng hai dặm nữa và tìm cách vào vũng nước kín của Đảo Plum. Nhưng điều đó có nghĩa là phải vào eo Ruột Plum, nơi ngay cả lúc thủy triều và gió bình thường cũng đã đầy nguy hiểm rồi. Trong một cơn bão, nó sẽ là... thách thức, ít nhất là thế.

Beth từ dưới cầu thang đi lên, người lắc lư từ bên này sang bên kia, xô về trước rồi giật về sau. Tôi cầm tay nàng kéo lên. Nàng chìa cho tôi một thanh sô-cô-la đã bóc. Tôi nói, “Cám ơn.”

Nàng nói, “Nước ở dưới đã ngập đến mắt cá chân. Máy bơm đáy tàu vẫn đang chạy.”

“Tốt. Tàu đang nhẹ hơn một chút.”

“Tốt quá. Anh nghỉ một chút đi. Để em cầm lái.”

“Anh không sao. Vết thương của em sao rồi.”

“Ổn rồi. Còn bộ óc nhỏ bé của anh thì sao?”

“Anh để trên bờ rồi.” Tôi giải thích cho nàng những lựa chọn còn lại trong lúc ăn thanh sô-cô-la.

Nàng hiểu rõ những cơ hội của chúng tôi và nói, “Vậy là chúng ta có thể đâm vào đá ngầm ở Orient Point hoặc bị đắm ở eo Ruột Plum?”

“Đúng vậy.” Tôi chỉ đồng hồ xăng và nói, “Chúng ta đã đi qua khá xa nơi có thể quay trở lại Greenport.”

“Em nghĩ chúng ta đã bỏ mất cơ hội ở đó rồi.”

“Anh đoán thế...” Tôi hỏi nàng, “Thế nào? Orient hay Đảo Plum?”

Nàng nhìn vào tấm hải đồ một lát rồi nói, “Có quá nhiều nguy hiểm từ đây đến Orient.” Nàng nhìn ra bên trái và nói thêm, “Em thậm chí còn không nhìn thấy bất cứ phao mốc nào dẫn đến Orient. Không ngạc nhiên lắm nếu một số đã bị đánh vỡ và trôi đi mất rồi.”

Tôi gật đầu. “Đúng thế...”

Beth nói, “Quên eo Ruột Plum đi. Chỉ có tàu viễn dương mới có thể qua được nơi ấy trong gió bão như thế này”. Nàng nói thêm, “Nếu chúng ta có nhiều xăng hơn thì có thể cứ đi như thế này ra ngoài cho tới khi mắt không thấy gì nữa”. Nàng ngẩng đầu lên và nói, “Chúng ta không còn lựa chọn nào cả.”

Có lẽ là đúng. Tom và Judy có lần đã nói với tôi rằng bản năng hướng về phía đất liền trong khi có bão thường là sai lầm. Bờ biển đầy những nguy hiểm, những con sóng bạc đầu có thể đập tan hoặc lật úp con tàu, hoặc xô ta vào đá ngầm. Thật ra cứ ở ngoài biển với bão lại an toàn hơn khi vẫn còn nhiên liệu và đi về phía trái. Nhưng chúng tôi thậm chí không có được lựa chọn đó vì một gã có súng trường và ra đa đang ở phía sau chúng tôi. Chúng tôi không còn cách nào khác là phải đi tiếp và xem Chúa và thiên nhiên dành cho chúng tôi điều gì. Tôi nói, “Chúng ta sẽ giữ nguyên đường đi và tốc độ.”

Nàng gật đầu. “Được rồi. Đó là tất cả những gì ta có thể làm... Cái gì”

Tôi quay sang và thấy nàng đang nhìn chăm chú về phía đuôi tàu. Tôi nhìn về phía sau nhưng không thấy gì cả.

Nàng bảo, “Em đã thấy hắn... em nghĩ là em đã nhìn thấy hắn.” Beth nhảy lên trên ghế và cố giữ thăng bằng trong một giây trước khi ngã xuống sàn tàu. Nàng bò dậy và la to, “Hắn ở ngay đằng sau ta rồi!”

“Chết tiệt!” Tôi biết tên khốn kia rõ ràng là có ra đa. May mà tôi không cố đi vòng ra phía sau hắn. Tôi nói với Beth, “Không phải là chúng ta không may mà là hắn có ra đa. Hắn đã biết ta ở đâu ngay từ ban đầu.”

Nàng gật đầu và nói, “Không có chỗ chạy, không có chỗ nấp.”

“Chắc chắn là không có chỗ nấp, nhưng cứ cố chạy xem sao.”

Tôi mở hết ga và con tàu chạy nhanh hơn.

Hai người chúng tôi không nói gì khi chiếc Formula nhọc nhằn hứng chịu những cơn sóng biển. Tôi đoán chúng tôi chạy với tốc độ khoảng hai mươi hải lý một giờ, tức là bằng một phần ba tốc độ tối đa của con tàu này trong điều kiện biển lặng và không bị nước vào đáy - một cabin nước biển. Chiếc Christ-Craft chắc cũng có thể chạy với tốc độ ít nhất hai mươi hải lý trong thời tiết như thế này, đó là tại sao hắn bắt kịp chúng tôi. Beth nói, “John, hắn đang tiến gần đến chúng ta.”

Tôi nhìn về phía sau và thấy chiếc bóng mờ của con tàu tuần dương khi một đợt sóng khổng lồ đẩy nó lên cao cách chúng tôi khoảng mười hai mét. Chỉ khoảng chưa đầy dăm phút nữa, chúng tôi sẽ lọt vào tầm bắn chính xác của khẩu súng trường trên tay hắn, trong khi khẩu .38 của tôi và khẩu 9 li của Beth quả thật là không làm được gì, chỉ trừ có ăn may mới bắn trúng. Beth hỏi tôi, “Anh còn bao nhiêu viên nữa?”

“Để xem... trong ổ có năm viên... anh đã bắn bốn... như vậy, tay cảnh sát còn bao nhiêu viên trong-”

“Đây không phải chuyện đùa ngớ ngẩn!”

“Anh chỉ muốn cho đỡ căng thẳng thôi mà.”

Tôi nghe thấy những từ bốn chữ cái văng ra từ cái miệng đoan trang của nàng Penrose, rồi nàng hỏi tôi, “Anh có thể cho cái thứ chết tiệt này chạy nhanh hơn nữa được không?”

“Có thế. Lấy vật gì đó nằng nặng ở bên dưới và đập vỡ kính chắn gió đi.”

Nàng xuống phía dưới và quay lên với một chiếc bình cứu hỏa và dùng nó đập vỡ kính chắn gió phía trước. Xong xuôi, nàng ném luôn chiếc bình xuống biển.

Tôi nói, “Với tốc độ như thế này, chúng ta sẽ không bị nước vào nhiều và các máy bơm sẽ dần làm tàu nhẹ bớt, lúc đó ta sẽ chạy nhanh hơn.” Tôi nói thêm, “Và cũng đốt hết số nhiên liệu làm nặng tàu.”

“Em không cần bài học môn vật lý.”

Nàng nổi cáu. Thế còn tốt hơn sự im lặng bao trùm lúc trước. Cũng là tốt khi bị cả người và thiên nhiên hợp lại làm ta nổi cáu.

Beth đi thêm mấy vòng xuống dưới, mỗi lần mang được vài thứ để ném xuống biển, trong đó không may lại có cả bia để trong tủ lạnh. Nàng cố mang được một chiếc ti vi xách tay lên cầu thang và ra thành tàu để ném. Nàng còn quăng cả một số quần áo và giầy dép khỏi tàu, và tôi chợt nghĩ nếu chúng tôi để xổng Freddie, hắn có thể gặp những vật dụng kia nổi lềnh phềnh trên mặt nước và yên trí rằng chúng tôi đã chìm dưới biển sâu.

Chúng tôi chạy nhanh thêm được một chút, nhưng chiếc Christ-Craft vẫn đang tiến đến gần và không thể tránh được việc hắn sắp nhả đạn đến nơi rồi. Tôi hỏi Beth, “Em còn bao nhiêu viên?”

“Chín.”

“Em chỉ có ba băng thôi ư?”

“Chỉ có? Anh thì đang chạy với một thứ đồ chơi có năm viên và không có lấy một viên dự phòng, và anh lại bị thần kinh. Nàng đột nhiên hụp xuống sau ghế và rút súng ra. “Em vừa nhìn thấy chớp đạn.”

Tôi liếc nhìn về phía sau và rõ ràng, gã Freddie chết tiệt không biết sợ đang ở tư thế ngắm bắn. Chớp đạn lại lóe lên. Bắn nhau từ trên hai con tàu đang bị bão làm cho nghiêng ngả thật là dễ, bắn trúng mới là khó, vì thế tôi vẫn chưa đến mức quá lo lắng, nhưng sẽ có lúc khi cả hai con tàu đều ở trên đỉnh sóng, và Tobin có được lợi thế ở vị trí cao hơn cùng chiếc nòng súng dài.

Beth vẫn khôn ngoan chưa bắn vội.

Tôi nhìn thấy ngọn Hải đăng Orient Point ở chính diện bên trái và gần hơn trước rất nhiều. Tôi hiểu rằng mình đã bị gió đẩy sang hướng bắc mặc dù luôn nhằm phía đông để đi. Tôi cũng nhận ra điều duy nhất còn lại để làm, và tôi làm. Tôi bẻ lái cho tàu quặt sang trái và hướng vào eo Ruột Plum.

Beth la to, “Anh làm gì thế?”

“Chạy tới eo Ruột Plum.”

“John, chúng ta sẽ chết chìm ở đấy!”

“Hoặc là thế, hoặc là bị Tobin bắn chết, hoặc là hắn xô cho vỡ tàu và đánh đắm ta rồi cười nhạo khi nhìn chúng ta chìm dần.” Tôi nói thêm, “Nếu có chết ở eo Ruột Plum, hắn có thể sẽ chết cùng ta.”

Nàng không đáp.

Cơn bão đi tới từ phía nam, và khi tôi quay mũi tàu về phía bắc, con tàu tăng tốc ngay. Một phút sau, tôi đã thấy bóng dáng của Đảo Plum ở phía trước bên phải. Bên trái là ngọn hải đăng Orient. Tôi nhằm vào điểm giữa của ngọn hải đăng và bờ của Đảo Plum, chạy thẳng vào eo Ruột Plum.

Đầu tiên Tobin bám theo, nhưng khi sóng biển to hơn và gió thổi giữa hai bên đất liền đột ngột mạnh lên thì chúng tôi không còn nhìn thấy hắn. Tôi đoán hắn đã bỏ cuộc. Tôi biết chắc hắn sẽ làm gì tiếp theo và sẽ đi đâu. Tôi hy vọng mình vẫn còn sống được thêm mười lăm phút nữa để xem có đúng như vậy hay không.

Giờ chúng tôi đã ở trong eo Ruột Plum, nằm giữa Orient Point ở phía tây và Đảo Plum ở phía đông, vịnh Gardiners ở phía nam và biển Long Island Sound ở phía bắc. Tôi nhớ lại Stevens có nói rằng một cơn bão lớn cách đây mấy trăm năm đã làm cho đáy biển ở đây sâu thêm, và tôi có thể tin được chuyện này. Nó giống như một chiếc máy giặt với đủ mọi thứ được cuộn lên hạ xuống từ đáy biển - cát, rong biển, cây cối cùng đủ loại hổ lốn. Tôi không còn kiểm soát được con tàu nữa. Chiếc Formula cũng chỉ như một vật trôi giạt bị dòng nước cuốn đi. Chiếc tàu quay như chong chóng và chúng tôi thấy mình hết ở nam rồi sang đông và tây nhiều lần. Cơn bão vẫn đẩy chúng tôi về phía bắc tới biển Sound, chính là nơi mà tôi muốn đến.

Ý tưởng cố đến vũng nước kín của Đảo Plum đã trở nên không tưởng khi tôi đã thấy nơi này khủng khiếp đến nhường nào.

Beth cố bám để đi đến phía tôi. Nàng ép chặt thân mình vào thành ghế sau lưng tôi. Chân tay nàng xiết chặt lấy tôi trong lúc tôi cố giữ bánh lái vì mạng sống của mình. Gần như là không thể nói chuyện được, nhưng nàng vùi mặt vào cổ tôi và tôi nghe nàng nói, “Em sợ.”

Sợ ư? Tôi cũng sợ đến mất mật rồi còn gì. Đây có lẽ là trải nghiệm tồi tệ nhất trong đời, nếu không tính lúc tôi tìm đường xuống cõi chết.

Chiếc Formula bị quay chong chóng đến mức tôi đã hoàn toàn mất phương hướng. Có những lúc tôi biết mình đang ở trên không theo đúng nghĩa, và tôi biết rằng con tàu, dù đã chứng tỏ sự chắc chắn ở dưới nước, sẽ bị lộn nhào và lật úp ở trên không. Tôi nghĩ chỉ có phần nước ở đáy tàu mới giữ cho chúng tôi khỏi bị lật trong những lần bị hất lên không trung.

Tôi còn tỉnh táo để giảm ga hết mức ngay lúc nhìn thấy chân vịt ở trên không nhiều hơn là dưới nước. Máy chạy ở chế độ lâu dài, còn tôi đang ở trong một tình huống ngắn ngủi, mà biết đâu.

Beth đang bám chặt, và nếu không phải rằng chúng tôi đang gần kề cái chết, tôi đã cảm thấy dễ chịu lắm. Tôi hy vọng sự tiếp xúc giữa hai cơ thể lúc này sẽ khiến nàng yên tâm hơn. Tôi biết với tôi cũng vậy. Nàng lại nói vào tai tôi, “Nếu rơi xuống nước, hãy ôm em thật chặt.”

Tôi gật đầu. Tôi lại nghĩ đến việc Tobin đã giết năm mạng người như thế nào và giờ này sắp gây ra cái chết cho thêm hai người nữa. Không thể tin được tên khốn này lại có thể gây ra tất cả những chết chóc và đau khổ đó. Giải thích duy nhất của tôi là những gã lùn với đôi mắt giảo hoạt và tham vọng lớn thường độc ác và nguy hiểm. Trong đầu những gã đó có sẵn ý muốn đối đầu với cả thế giới. Các bạn biết điều đó chứ? Vâng, có thể nhiều hơn thế nữa.

Chúng tôi bị thổi qua eo Ruột Plum giống như một viên bi lăn qua chiếc ống hút. Điều nghịch lý, tôi nghĩ, là chính sự cuồng bạo của cơn bão đã đưa chúng tôi thoát ra an toàn, và chúng tôi có lẽ đang được thủy triều đẩy vào bờ. Sóng biển, gió và thủy triều đều nhằm về hướng bắc đã làm mất tác dụng của những đợt gió giật và thủy triều trên eo biển. Nó giống như sự khác nhau giữa việc bị rơi vào chiếc bồn toa lét khi giật nước và bị ngập trong đống chất thải bẩn thỉu, nếu theo cách suy luận như thế.

Giờ chúng tôi đã ở vùng biển Long Island Sound, sóng biển và gió đã dịu bớt. Tôi mở ga và hướng mũi tàu về phía đông.

Beth vẫn bám phía sau tôi, nhưng không chặt như trước.

Phía trước bên phải chúng tôi là bóng đen của ngọn hải đăng Đảo Plum cũ. Tôi biết nếu chúng tôi ở phía sau của mũi đất thì sẽ được chắn bớt gió và sóng biển, giống như khi ở phía khuất gió của đảo Trú ẩn. Đảo Plum không cao như đảo Trú ẩn và lại hứng gió từ Đại Tây Dương nhiều hơn, nhưng dù sao vẫn sẽ che chắn được phần nào cho chúng tôi.

Beth nói, “Ta còn sống ư?”

“Đương nhiên.” Tôi nói thêm, “Em dũng cảm lắm. Rất bình tĩnh.”

“Em sợ đến mức không còn biết gì.”

“Không sao.” Tôi bỏ một tay khỏi bánh lái và nắm chặt tay phải của nàng đang ôm chặt vào bụng tôi.

Chúng tôi đã đến được phía khuất gió của Đảo Plum và đi qua ngọn hải đăng ở bên phải. Giờ tôi đã có thể nhìn được bên trong lồng đèn của ngọn hải đăng, và cái mà tôi thấy là một chấm màu xanh lá cây, dường như đang dõi theo chúng tôi. Tôi chỉ cho Beth thấy, nàng bảo, “Thiết bị quan sát ban đêm. Chúng ta đang bị nhân viên của Stevens theo dõi.”

“Đúng thế.” Tôi đồng tình. “Đó là tất cả những gì mà lực lượng an ninh có thể làm trong một đêm như thế này.”

Gió đã phần nào bị chắn bởi Đảo Plum, biển cũng lặng bớt một chút. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ vào bờ cách đó chừng một trăm thước.

Qua làn mưa, tôi vẫn thấy ánh sáng của những ngọn đèn phía sau những cành cây. Tôi hiểu đó là ánh đèn bảo vệ từ tòa nhà thí nghiệm chính. Điều này có nghĩa là các máy phát điện vẫn đang hoạt động, tức là các máy lọc không khí cũng đang chạy. Sẽ thật không công bằng nếu chúng tôi sống sót được qua con bão, đặt chân lên Đảo Plum và rồi chết vì bệnh than. Đúng là như thế.

Beth rời tôi ra và đứng bên cạnh, tay bám vào chiếc tay nắm trên bảng điều khiển. Nàng hỏi tôi, “Anh nghĩ đã xảy ra chuyện gì với Tobin?”

“Có lẽ hắn tiếp tục đi vòng ra đầu phía nam của hòn đảo. Anh nghĩ hắn tưởng chúng ta đã chết.”

“Có thể lắm.” Beth đáp. “Em cũng tưởng thế.”

“Đúng. Trừ khi hắn có liên lạc điện đài với một người nào đó trên Đảo Plum và người này lại được người trên ngọn hải đăng cho biết là chúng ta đã tới đây.”

Nàng thoáng suy nghĩ rồi hỏi, “Anh có nghĩ rằng hắn có kẻ đồng lõa trên Đảo Plum hay không?”

“Anh không biết. Nhưng chúng ta sắp được thấy rồi.”

“Được... vậy giờ Tobin đang đi đâu?”

“Chỉ còn một nơi duy nhất mà hắn có thể đến và nó lại ở ngay đây, ở phía này của hòn đảo.”

Nàng gật đầu. “Nói cách khác, hắn đi vòng lại từ hướng khác và chúng ta sẽ gặp hắn đi đến đây.”

“Anh sẽ cố tránh điều đó. Nhưng chắc chắn hắn sẽ phải đến phía khuất gió của hòn đảo nếu định thả neo và lên bờ với chiếc Whaler đó.”

Nàng nghĩ một chút rồi hỏi, “Chúng ta sẽ lên đảo chứ?”

“Anh hy vọng là thế.”

“Bằng cách nào?”

“Anh sẽ cho tàu chạy cho thật nhanh lên bãi biển.”

Nàng lại lấy tấm hải đồ ra và nói, “Dọc bờ biển này đầy đá và bãi ngầm.”

“Em tìm một chỗ không có đá hay bãi ngầm gì đi.”

“Em sẽ tìm.”

Chúng tôi hướng về phía đông đi thêm chừng mười phút nữa. Tôi nhìn đồng hồ báo xăng và thấy kim đã chỉ đến chữ E, nghĩa là hết. Tôi biết mình nên chạy lên bờ ngay lúc này vì nếu hết xăng thì chúng tôi chỉ còn nước phó mặc số phận cho thiên nhiên, hoặc sẽ bị đẩy ra ngoài khơi, hoặc sẽ bị cuốn va vào đá. Nhưng tôi muốn ít ra phải thấy được bóng con tàu của Tobin trước khi lên bờ.

Beth nói, “John, tàu sắp hết xăng rồi. Anh nên cho tàu vào đi.”

“Một phút nữa thôi.”

“Chúng ta không có đủ một phút. Bờ còn cách cả trăm mét. Vào đi.”

“Em nhìn xem có thấy chiếc Christ-Craft ở phía trước không.”

Chiếc ống nhòm vẫn còn đeo trên cổ. Nàng nâng ống nhòm lên và hướng về phía mũi tàu. Nàng nói, “Không, em không thấy chiếc tàu nào. Anh vào bờ đi.”

“Một phút nữa thôi.”

“Không. Ngay bây giờ. Mọi việc từ trước đều làm theo ý anh. Giờ phải theo ý em.”

“Được...” Nhưng trước khi tôi bắt đầu hướng về phía bờ biển, gió đột ngột giảm xuống, một bức tường kì lạ dựng lên bởi những đám mây bốc lên phía trên chúng tôi. Khó tin hơn, tôi còn nhìn thấy bầu trời đêm trên đầu, xung quanh là một vòng tròn hình thành bởi những bức tường mây, giống như thể chúng tôi đang ở dưới đáy giếng. Rồi tôi thấy những ngôi sao, thứ mà tôi không bao giờ nghĩ sẽ được thấy lại lần nữa.

Beth nói, “Mắt bão đang đi qua chỗ ta.”

Gió yếu đi rất nhiều, mặc dù những cơn sóng vẫn còn rất mạnh. Ánh sáng của những ngôi sao chiếu qua cái lỗ tròn và chúng tôi có thể thấy được bờ và mặt biển.

Beth nói, “Vào đi, John. Chúng ta sẽ không còn cơ hội như thế này nữa đâu.”

Và nàng nói đúng. Tôi có thể nhìn thấy những con sóng bạc đầu và những tảng đá nhô lên khỏi mặt nước. Tôi cũng thấy những chỗ sóng phủ nông, đó chính là những bãi cạn và dải cát.”

“Vào đi!”

“Một phút thôi. Anh thật sự muốn thấy tên khốn lên bờ ở chỗ nào. Anh không muốn để mất hắn trên đảo.”

“John, sắp hết xăng rồi.”

“Còn khối. Nhìn xem có thấy chiếc Christ-Craft không.”

Beth dường như ngán ngẩm với sự ương bướng của tôi, nàng nâng ống nhòm lên và quét một lượt qua đường chân trời. Sau khoảng thời gian dài tưởng chừng như nửa giờ, nhưng thực ra chỉ khoảng một, hai phút, nàng chỉ tay và la lên, “Kia rồi!” Nàng đưa ống nhòm cho tôi.

Tôi nhìn vào khoảng tối trong mưa bão và thấy hiện lên phía chân trời là hình thù chiếc đài quan sát của tàu Christ-Craft, cũng có thể đó chỉ là một khối đá.

Khi chúng tôi đến gần thêm chút nữa, tôi nhận ra đó chắc chắn là chiếc Christ-Craft. Con tàu nằm bất động, hẳn là Tobin đã thả ít nhất hai dây neo, một ở mũi và một ở đuôi tàu. Tôi đưa cho Beth chiếc ống nhòm. “Được rồi. Ta vào thôi. Khoan đã. Em quan sát đá và bãi ngầm nhé.”

Beth quỳ xuống ghế và đưa người về trước, hai tay nắm chặt phía trên khung kính chắn gió. Mỗi khi nàng cử động, tôi lại nhận ra nét đau đớn trên gương mặt nàng do bị thương.

Tôi bẻ lái cho chiếc Formula quay 90 độ sang phải và hướng mũi tàu vào bờ. Sóng bắt đầu vỡ phía đuôi tàu và tôi nhấn thêm ga. Tôi cần đủ nhiên liệu thêm một phút nữa.

Bờ biển đã ở gần hơn và hiện ra rõ hơn. Những con sóng lao tràn lên cát trông thật đáng sợ, tiếng réo càng lớn khi chúng tôi vào gần thêm. Beth la to, “Dải cát ở ngay đằng trước kìa.”

Tôi biết rằng không thể bẻ lái kịp nên cho tàu chạy hết tốc lực và chúng tôi xẻ một đường qua dải cát.

Bờ còn cách chưa đầy năm chục thước, tôi nghĩ chúng tôi thực sự có cơ hội. Bất ngờ chiếc Formula va phải thứ gì đó cứng hơn rất nhiều so với một dải cát. Tôi nghe thấy âm thanh không thể lẫn được của sợi thủy tinh bị rách. Nửa giây sau, con tàu nhấc lên khỏi mặt nước rồi rơi thẳng xuống.

Tôi liếc nhìn Beth và thấy nàng vẫn bám chặt.

Con tàu giờ đã rệu rã lắm rồi. Tôi có thể tưởng tượng được nước đang tràn vào qua vỏ tàu bị thủng. Động cơ dường như vẫn đang hoạt động ở tốc độ tối đa. Những con sóng ùa tới đang đẩy chúng tôi về phía bờ, nhưng nước rút ra sau mỗi đợt sóng lại kéo chúng tôi trở lại. Trong khi đó, nước vẫn tràn vào tàu. Kì thực, tôi đã thấy nước mấp mé ở bậc dưới cùng của cầu thang.

Beth la to, “Không đi được nữa rồi! Bơi vào đi!”

“Không! Cứ ở trên tàu. Chờ đợt sóng to.”

Và chúng tôi chờ, mắt quan sát đường bờ biển đang gần thêm rồi lại lùi xa sau sáu đợt sóng. Tôi nhìn về phía sau và quan sát những cuộn nước đang dâng lên. Cuối cùng, thấy một con sóng khổng lồ dựng lên phía sau, tôi giảm hết ga chiếc Formula gần như đã ngập đầy nước. Con tàu lùi lại về sau một chút và bắt được con sóng lớn ngay dưới đỉnh của nó. Tôi hét to, “Ngồi xuống, bám chặt vào!”

Nàng thụp xuống và ôm chặt vào thành ghế.

Cơn sóng đẩy chúng tôi đi như một chiếc ván lướt sóng trên đỉnh của nó với một lực mạnh khiến chiếc Formula nặng ba tấn rưỡi cộng với cả tấn nước bên trong giống như một chiếc rổ nan giữa dòng nước hung hãn. Tôi đã đoán tàu sẽ lên bờ theo kiểu đổ bộ, nhưng nó sắp thành một cú rơi từ trên không.

Khi tàu lao nhanh theo sóng về phía bờ, tôi đủ tỉnh táo để tắt hết động cơ để nếu chúng tôi thực sự thoát được khi đổ bộ thì chiếc Formula không phát nổ vì lượng nhiên liệu còn lại. Tôi cũng sợ sẽ bị hai chiếc chân vịt chặt bay đầu chúng tôi. “Bám chặt đi!” Tôi thét lên.

“Tuyệt quá!” Nàng đáp.

Mũi tàu đáp xuống bãi biển trước, sau đó lật nghiêng sang bên sườn. Hai chúng tôi nhảy ra khỏi tàu ngay lúc một con sóng khác xô vào. Tôi thấy một mỏm đá nhô lên cao và một tay ôm vội vào đó, tay kia quờ được cổ tay Beth. Con sóng vỡ tan và rút đi, chúng tôi đứng lên và chạy thực mạng lên chỗ cao hơn. Beth một tay ôm sườn, chỗ bị thương.

Chúng tôi đến trước một vách đất bị xói lở và trèo lên. Cát, đất và chất ô xít sắt ướt nhoẹt rơi xuống từng mảng lớn. Beth nói, “Chào mừng đến với Đảo Plum.”

“Cám ơn.” Cuối cùng, chúng tôi cũng lên được đỉnh gò và nằm vật ra trên bãi cỏ. Chừng một phút sau, tôi đứng dậy và nhìn xuống bãi biển. Chiếc Formula đã bị lật. Tôi còn nhìn thấy vỏ tàu trắng bị chẻ toác ra. Con tàu bị lật lại lần nữa khi nước biển rút kéo theo nó ra ngoài. Nước sâu khiến nó trở lại thế thẳng đứng chừng một phút rồi lại bị lật. Một con sóng khác đẩy nó về phía bờ. Tôi nói với Beth, “Anh không muốn ở trên con tàu đó nữa.”

Nàng đáp, “Vâng, và em cũng không muốn ở trên hòn đảo này.”

“Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.”

“Tại anh đấy.” Nàng đáp.

“Vẫn còn ý tưởng về chiếc áo phông,” tôi nói. “Anh bị nghe trộm trên Đảo Plum. Em hiểu chứ?”

“Anh có thể câm miệng lại lấy năm phút được không?”

“Được thôi.”

Kỳ thực, tôi muốn có được sự im lặng tương đối sau nhiều giờ với gió, mưa và động cơ của con tàu. Tôi thật sự nghe thấy tiếng tim mình đập, tiếng máu bơm trong tai và lá phổi đang khò khè. Tôi cũng nghe thấy một giọng nói nhỏ trong đầu rằng “Coi chừng với những gã nhỏ con và mang súng lớn.”

❀ ❀ ❀

[1] Đô đốc hải quân nổi tiếng của Mỹ (1747-1792) trong thời kỳ Chiến tranh Cách mạng - ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.