Đảo Plum

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Tôi thức dậy lúc sáu giờ sáng, tắm rửa rồi mặc quần soóc, áo phông, đi giầy da mềm: những thứ có thể thay nhanh khi cần mặc đồ chống lây nhiễm sinh học hay bất cứ cái tên gì người ta dùng để gọi.

Tôi làm thủ tục hàng ngày với thứ đồ của tôi - mang theo hay không mang theo, đó là câu hỏi. Cuối cùng tôi quyết định mang theo. Ai mà biết được điều gì sẽ đến trong ngày. Đây có thể là ngày đẹp trời để vẽ Ted Nash màu đỏ.

6 giờ 45 phút sáng, tôi đang chạy xe về phía đông trên đường Main Road, qua trung tâm của xứ sở rượu vang.

Một ý nghĩ chợt đến khi tôi lái xe là không dễ dàng gì có thể kiếm sống từ đất hay biển như nhiều người dân địa phương ở đây. Nhưng những vườn nho đã thành công đến ngạc nhiên. Khi tôi chạy qua ngôi làng Peconic, bên trái tôi là vườn nho và xưởng sản xuất rượu nho thành công nhất, vườn nho Tobin, do Fredric Tobin làm chủ. Đó là người mà tôi đã gặp qua một lần và là bạn của vợ chồng Gordon. Tôi ghi nhớ trong đầu sẽ gọi cho quý ông này xem có manh mối gì cho vụ án hay không.

Mặt trời đã lên quá ngọn cây ở phía trước, bên phải tôi. Chiếc nhiệt kế trong xe báo 16 độ C, con số tôi chẳng hiểu gì cả. Chẳng biết bằng cách nào mà tôi lại làm đảo chiếc máy tính để rồi phải dùng hệ đếm mét. Mười sáu độ C nghe có vẻ lạnh, nhưng tôi biết là trời không lạnh. Dù sao thì mặt trời cũng đang làm tan đi làn sương trên mặt đất, ánh nắng tràn ngập chiếc xe thể thao đắt tiền của tôi.

Con đường hơi cong. Những vườn nho trông đẹp hơn cánh đồng khoai tây tôi nhớ cách đây ba mươi năm. Đây đó một vườn cây ăn quả hay ruộng ngô khiến cho những vườn nho đỡ đơn điệu. Những con chim lớn chao mình rồi bay vút lên trên những luồng hơi ẩm của buổi sáng. Lũ chim nhỏ líu lo trên cánh đồng và những ngọn cây. Tất cả vẫn bình thường với thế giới này, chỉ trừ có Tom và Judy đang nằm trong nhà xác của quận sáng nay, và rất có thể một căn bệnh trong không khí đang bay lên và hạ xuống cùng những làn hơi nhiệt, mang theo cơn gió của đại dương tràn qua những trang trại, những vườn nho, mang theo trong máu của nhiều người và động vật. Nhưng sáng nay, mọi thứ vẫn có vẻ bình thường, kể cả tôi.

Tôi bật đài dò một kênh chuyên về thời sự của thành phố New York và lắng nghe bản tin thường giờ, chờ đợi ai đó nói điều gì về một sự bùng phát bí hiểm. Nhưng vẫn còn quá sớm cho điều này. Tôi chuyển sang sóng của đài địa phương duy nhất và chộp được bản tin lúc bảy giờ. Phát thanh viên nói, “Chúng tôi đã nói chuyện với cảnh sát trưởng Maxwell qua điện thoại sáng nay, và đây là những gì anh nói với chúng tôi.”

Giọng nói có vẻ gắt gỏng của Max phát ra từ chiếc loa, “về cái chết của hai cư dân Nassau Point là Tom và Judy Gordon, chúng tôi gọi đây là một vụ án mạng đôi, cướp và trộm. Vụ việc không liên quan gì đến công việc của nạn nhân trên Đảo Plum, và chúng tôi muốn chấm dứt những lời phỏng đoán này. Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người dân đề cao cảnh giác, phát hiện những người lạ mặt và báo bất cứ điều gì đáng nghi cho cảnh sát thị trấn. Không cần phải hoang tưởng, nhưng có ai đó ở bên ngoài với một khẩu súng đã giết người, cướp và trộm. Vì vậy các bạn phải chú ý cảnh giác. Chúng tôi đang làm việc với cảnh sát quận trong vụ này, và chúng tôi nghĩ rằng đã có một số đầu mối. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói vào thời điểm này. Tôi sẽ nói chuyện anh sau trong ngày hôm nay, Don.”

“Xin cám ơn cảnh sát trưởng.” Don nói.

Đó là điều tôi thích về nơi này - rất thực tế và thoải mái như ở trong nhà. Tôi tắt đài. Cảnh sát trưởng Maxwell quên không nói là anh đang trên đường tới Đảo Plum, nơi anh bảo chẳng liên quan gì tới vụ án mạng. Anh cũng quên không nhắc đến FBI và CIA. Tôi khâm phục một người biết làm cách nào và khi nào thì thắp ánh sáng lạc quan cho công chúng. Điều gì sẽ xảy ra nếu Max nói, “Có khả năng năm mươi-năm mươi là vợ chồng Gordon bán virut gây bệnh cho bọn khủng bố, những kẻ có thể đang âm mưu hủy diệt toàn bộ sự sống ở Bắc Mỹ”? Nó sẽ gây ra một sụt giảm nhẹ của chỉ số Dow Jones ngay lúc rung chuông mở cửa, chưa kể dòng người tháo chạy ồ ạt đến các sân bay và gia tăng đột ngột lượng người đi nghỉ ở Nam Mỹ.

Dù sao, cho đến lúc này vẫn là một buổi sáng đẹp trời. Tôi nhìn thấy một cánh đồng bí ngô ở bên phải và nhớ lại những ngày nghỉ cuối tuần vào mùa thu ở đây khi tôi còn nhỏ, chúng tôi chạy như điên qua những thửa ruộng bí ngô để tìm trái bí to nhất, tròn nhất, vàng nhất và hoàn hảo nhất. Tôi nhớ đã có bất đồng với cậu em trai Jimmy của tôi về sự lựa chọn hàng năm, nhưng chúng tôi giải quyết một cách công bằng bằng một trận đấm bốc mà tôi luôn là người chiến thắng vì lúc đó tôi to hơn chú ấy rất nhiều.

Thôn tiếp theo Peconic là Southold được lấy làm tên của cả thị trấn. Đây là nơi kết thúc của những vườn nho và đất liền thu hẹp giữa vùng biển Sound và con vịnh. Mọi thứ trông hơi táp gió và hoang dại hơn. Tuyến đường sắt Long Island bắt đầu từ ga Penn ở Manhattan chạy song song bên trái con đường cao tốc một quãng, sau đó đường bộ và đường sắt giao nhau rồi tách ra.

Không có nhiều xe cộ trên đường vào giờ này ngoại trừ một vài chiếc xe nông trang. Tôi chợt nghĩ nếu có ai trong số đi cùng tôi đến Đảo Plum đang trên đường thì tôi có thể nhìn thấy họ ở một chỗ nào đó.

Tôi lái xe vào làng Greenport, khu thương mại chính của North Fork với số dân theo ghi trên bảng là 2.100 người. Nếu so sánh, đảo Manhattan nơi tôi làm việc, sống và chết hụt, nhỏ hơn North Fork nhưng có tới hai triệu người chen chúc. Lực lượng cảnh sát mà tôi phục vụ có ba mươi nghìn người, đông hơn toàn bộ dân cư của thị trấn Southold. Max, như tôi đã nói, có khoảng bốn mươi nhân viên, kể cả tôi và anh. Làng Greenport thực sự cũng từng có lực lượng cảnh sát riêng, khoảng dăm sáu người nhưng chẳng hiểu sao họ làm dân chúng bực mình và bị bỏ phiếu xóa bỏ. Tôi không nghĩ điều đó có thể xảy ra ở thành phố New York, nhưng cũng không phải là một ý tưởng tồi.

Có lúc tôi nghĩ là nên để Max thuê tôi - các bạn biết đấy, một điều tra viên có tên tuổi từ thành phố đến, cảnh sát trưởng địa phương gắn huy hiệu vào ngực anh ta và nói, “Chúng tôi cần một người có kinh nghiệm, được đào tạo và có thành tích như anh,” hoặc câu gì đó đại loại như thế. Ý tôi là, liệu tôi có là rồng trong ao tù hay không, hay là cái gì? Liệu có các quý cô nhìn trộm tôi và đánh rơi khăn tay trên vỉa hè hay không?

Trở lại với thực tại. Tôi đang đói. Hầu như không có cửa hàng bán đồ ăn nhanh nào ở đây. Điều đó là một phần làm nên vẻ đẹp nơi đây, nhưng cũng như cái gai đâm vào mông. Tuy vậy cũng có một vài cửa hàng tạp hóa. Tôi dừng lại trước một cửa hàng ở rìa Greenport để mua một ly cà phê bánh sandwich và pho mát gói trong giấy nhựa. Tôi thề là bạn có thể ăn cả giấy gói và ly Styrofoam mà không nhận ra sự khác nhau. Tôi lấy một tờ báo tuần miễn phí và ngồi ăn sáng trong xe. Tờ báo tình cờ lại có một bài viết về Đảo Plum. Điều này cũng không có gì lạ lùng vì người dân địa phương dường như rất tò mò về hòn đảo bí hiểm sương mờ bao phủ và tất cả những gì liên quan. Trong nhiều năm, tất cả những thông tin về Đảo Plum mà tôi lượm được đều từ những nguồn tin ở địa phương. Thi thoảng Đảo Plum được đưa tin khắp cả nước, nhưng có thể chắc chắn rằng cứ mười người Mỹ thì chín người chưa bao giờ nghe đến nơi này. Điều này có thể thay đổi nhanh đây.

Bài báo tôi đang đọc nói về bệnh Lyme[1], thêm một nỗi ám ảnh của người dân ở phía đông Long Island và bang Connecticut gần đó. Căn bệnh này mang trên mình loài ve kí sinh trên hươu, có nhiều biểu hiện giống loại bệnh dịch chết người. Tôi biết những người mắc bệnh Lyme; mặc dù rất hiếm khi gây chết người nhưng nó có thể làm người bệnh mất một đến hai năm điều trị. Dù thế nào người dân địa phương cũng tin rằng căn bệnh này là từ Đảo Plum và là một thử nghiệm chiến tranh vi trùng đã bị lọt ra ngoài do sơ suất hay gì đó. Tôi sẽ không quá lời nếu nói rằng người dân địa phương muốn Đảo Plum chìm xuống biển. Nói thật, tôi tưởng tượng trong đầu, giống như trong phim Frankenstein, cảnh những người nông dân, ngư dân địa phương cầm chĩa rơm và lao đánh cá, phụ nữ cầm đuốc, đi đến hòn đảo và hô lên, “Cút đi cùng thí nghiệm khoa học phi tự nhiên của các người! Chúa cứu rỗi chúng ta! Quốc hội điều tra!” hay thứ gì đó giống như thế. Tôi đặt tờ báo xuống và nổ máy.

Ngồi ngay ngắn và thắt dây an toàn, tôi tiếp tục cho xe chạy, mắt vẫn để ý tìm những người đồng nghiệp mới của mình.

Thôn tiếp theo tôi đi qua là Đông Marion, mặc dù quanh đó dường như không có chỗ nào là Marion - tôi nghĩ là nó ở Anh, cũng như với rất nhiều nơi có chữ “Đông” ở Long Island. Southold một thời có tên là Southwold, lấy theo một địa danh ở Anh nơi có rất nhiều người sớm di cư đến đây, nhưng họ để mất chữ “w” trên Đại Tây Dương hay một nơi nào đó, hoặc họ đã đổi lấy một loạt chữ “e”. Ai biết? Mợ June là thành viên của hội Lịch sử Peconic ngày trước thường nhồi vào cái đầu bé nhỏ của tôi bằng những câu chuyện như thế. Và tôi nghĩ một phần trong đó khá thú vị. Một phần được chấp nhận, nhưng có lẽ là được chấp nhận ở vỉa hè.

Đất liền hẹp dần chỉ còn là bề rộng của một con đường đắp cao, hai bên là nước - biển Long Island Sound ở bên trái, Orient Habor ở bên phải. Trên trời và dưới nước đầy những vịt, ngỗng Canada, diệc bạch tuyết và mòng biển, đó là lý do tôi không bao giờ mở cửa mái. Những loài chim này ăn mận chín hay thứ gì đó, chúng lao vào như máy bay ném bom bổ nhào, và chúng biết khi nào bạn để mở cửa mái.

Đất liền lại rộng ra, tôi chạy xe qua ngôi làng Orient với vẻ đẹp cổ kính và kỳ bí. Sau mười phút, cuối cùng tôi cũng đến Orient Point.

Tôi chạy qua lối vào Công viên Orient Beach và đi chậm lại.

Phía trước bên phải, tôi nhìn thấy một cột cờ, trên đó là quốc kỳ Mỹ treo rủ. Tôi đoán vị trí của lá cờ có liên quan đến vợ chồng Gordon, và vì thế chiếc cột cờ nằm trên vùng đất thuộc liên bang, chắc chắn là bến phả Đảo Plum rồi. Bạn có thể thấy bộ óc của một điều tra viên vĩ đại làm việc như thế nào, ngay cả vào lúc hơn bảy giờ sáng và trước đó ngủ rất ít.

Tôi tấp xe vào lề đường phía trước một nhà hàng và dừng xe, lấy ống nhòm từ ngăn đụng đồ ra rồi hướng vào một tấm biển lớn màu đen trắng gần cột cờ, phía dưới con đường khoảng ba chục thước. Trên biển đề, “Trung tâm nghiên cứu bệnh động vật Đảo Plum.” Không có dòng chữ “Chào mừng”, cũng không đề là “Bến phà,” nhưng nước ở ngay kia, và tôi suy luận đây đúng là bến phà. Người thường thì phỏng đoán, còn điều tra viên thì suy luận. Cũng xin nói thật là tôi đã đi qua nơi này hàng chục lần trong nhiều năm khi trên đường tới bến phà New London, ngay qua bến phà Đảo Plum. Mặc dù tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều đến nó, nhưng tôi luôn tò mò về Đảo Plum huyền bí. Tôi không thích những điều huyền bí, đó là lý do tại sao tôi muốn tìm hiểu chúng. Tôi lấy làm bực khi có những thứ mà mình lại không biết.

Bên trái chiếc bảng và cột cờ là tòa nhà một tầng xây bằng gạch, có vẻ là một trung tâm quản lý và thường trực. Phía sau bên kia tòa nhà là bãi đỗ xe trải nhựa kéo dài tới tận mép nước. Bãi đỗ xe vây quanh bằng hàng rào xích nối cao, trên đỉnh có dây thép gai.

Cuối bãi đỗ xe gần tới mặt nước là nhiều nhà kho liền với những cầu cảng lớn. Một vài chiếc xe tải đỗ gần bãi chuyển hàng. Tôi đoán - chứ không phải suy luận - rằng đây là nơi họ chuyển động vật di chuyển một chiều tới Đảo Plum.

Bãi đỗ xe chạy dọc theo vịnh khoảng một trăm thước. Ở đầu xa nhất, qua làn sương mờ, tôi có thể thấy chừng ba chục chiếc xe chở khách đỗ gần bến phà. Không thấy có người nào ở đó.

Tôi đặt ống nhòm xuống và nhìn đồng hồ điện tử trên bảng điều khiển trong xe. Lúc đó là 7 giờ 29, nhiệt độ 17 độ C. Tôi thực sự phải bỏ hệ đo mét trong chiếc xe này mới được. Cái máy tính chết tiệt hiện lên toàn những từ tiếng Pháp quái dị, như “kilometres”, “litres” và tất cả mọi thứ của Pháp. Tôi sợ phải bật chiếc máy sưởi ghế ngồi lên.

Tôi đến sớm nửa giờ trước chuyến phà ra Đảo Plum, nhưng lại đúng giờ của chuyến phà từ Đảo Plum về, và điều này nằm trong ý định của tôi. Như cậu Harry ngày trước thường nói khi đánh thức tôi dậy lúc sáng sớm, “Chim sớm thì bắt được sâu, Johnny.” Còn tôi lém lỉnh nói với chú, “Sâu sớm thì bị chén.” Tính cách tôi là thế.

Từ trong màn sương hiện ra một chiếc tàu màu xanh-trắng đang chạy về bến. Tôi nâng ống nhóm lên. Trên mũi tàu là biển hiệu cơ quan nào đó của chính phủ, có lẽ là bộ Nông nghiệp, và tên của con tàu - Plum Runner - gợi lên đôi chút khôi hài.

Tôi phải đến gần hơn nên lái xe về phía tấm biển hiệu, chiếc cột cờ và tòa nhà gạch. Bên phải tòa nhà, những chiếc cổng bằng xích sắt để mở, không thấy có người bảo vệ xung quanh nên tôi lái xe vào bãi đỗ và hướng về phía dãy nhà kho. Tôi đỗ gần mấy chiếc xe tải và xe công ten nơ cho khuất trong đám lộn xộn đó. Tôi chỉ còn cách hai bến phà chừng năm chục thước. Tôi nhìn qua ống nhòm khi chiếc phà quay đầu và lùi vào điểm gần nhất trên bến. Chiếc Plum Runnner trông còn khá mới và bóng loáng, dài khoảng mười tám mét với một boong trên đầu, trên boong có nhiều ghế ngồi. Đuôi tàu chạm vào vách ngăn, thuyền trưởng tắt máy khi người phụ lái nhảy xuống và buộc dây vào cọc. Tôi để ý không thấy ai trên cầu tàu.

Tôi nhìn qua ống nhòm, một nhóm người đi ra từ khoang hành khách qua boong phía sau rồi lên bờ thẳng tới bãi đỗ xe. Tôi đếm được mười người đàn ông, tất cả đều mặc một kiểu đồng phục màu xanh da trời. Hoặc họ là ban nhạc của bộ Nông nghiệp được cử đến để đón tôi, hoặc là những người bảo vệ làm ca đêm được thay bằng những người đã đi chuyến phà 7 giờ đến Đảo Plum. Tất cả mười người bảo vệ đều mang thắt lưng đeo súng, dù tôi không thấy có cái bao súng nào gắn trên đó.

Người tiếp theo rời tàu là một gã to lớn mặc áo khoác cộc màu xanh và đeo cà vạt. Gã nói chuyện với mười người bảo vệ như thể gã biết họ, và tôi đoán gã có thể là Paul Stevens, giám đốc an ninh.

Tiếp theo là bốn người ăn mặc bảnh bao, buộc tôi phải nghĩ điều này có chút không bình thường. Ý tôi là tôi nghi ngờ không biết bốn anh chàng ăn diện này có ở qua đêm trên đảo hay không. Vì vậy tôi phải đoán là họ đã đi chuyến phà lúc bảy giờ. Nhưng như vậy thì họ chỉ có vài phút trên đảo. Vậy là họ đã đi sớm hơn, hoặc trên một chuyến phà đặc biệt, hoặc đi bằng tàu khác, hoặc bằng trực thăng.

Cuối cùng và không kém phần quan trọng, nhảy tung tăng ra khỏi tàu trong bộ đồ thường phục là George Foster và Ted Nash, điều không hoàn toàn làm tôi ngạc nhiên. Chà, đây rồi nhé - đi ngủ sớm, dậy sớm, lén lút và đầy dối trá. Lũ chết tiệt... Tôi đã mong chúng sẽ chơi tôi đấy.

Khi tôi quan sát, Nash, Foster và bốn người kia đang mải nói chuyện, còn gã mặc áo khoác màu xanh lễ phép đứng sang một bên. Nhìn vào cử chỉ có thể đoán Ted Nash là người cao nhất ở đó. Bốn người kia có lẽ là từ Washington DC đến, và ai biết cơ quan chết tiệt nào cử họ đến. Tất cả đều khó nhận đoán có chuyện gì với FBI, CIA, bộ Nông nghiệp, đương nhiên cả bộ Quốc phòng và bất cứ cơ quan nào khác đang cuống lên. Theo tôi nghĩ, họ đều là người của liên bang và họ nghĩ về tôi - nếu có - như một cục trĩ khó chịu ở mông.

Tôi đặt ống nhòm xuống và cầm tờ báo lên cùng ly cà phê phòng khi tôi phải làm trò giấu mặt. Vì thế, tất cả những gã khôn ngoan kia đang làm chim sớm với tôi, và bọn họ còn không buồn ngó ngàng xung quanh xem có ai theo dõi hay không. Họ dành tất cả sự coi thường cho cánh cảnh sát hèn mọn, và điều này làm tôi khó chịu.

Gã mặc áo khoác xanh nói gì đó với mười người bảo vệ rồi cho giải tán. Những người này đến xe của mình, lên xe và chạy qua chỗ tôi. Gã áo xanh sau đó trở lại boong và mất hút trong con tàu.

Bốn người kia chào Nash và Foster rồi lên chiếc xe Chevy Caprice màu đen và đi về phía tôi. Chiếc Caprice chậm lại ngang chỗ tôi, gần như dừng hẳn rồi đi tiếp, chạy ra ngoài chiếc cổng có xích sắt mà lúc nãy tôi đi vào.

Đến lúc này, tôi nhìn thấy Nash và Foster đã nhận ra chiếc xe của tôi, tôi liền cho xe chạy về phía bến phà như thể vừa mới đến. Tôi đỗ cách cầu tàu và vờ nhấp một ngụm vào ly cà phê đã cạn, cầm tờ báo đọc bài về sự trở lại của loài cá xanh, cố tình lờ Nash và Foster khi đó đang đứng gần chiếc tàu.

Khoảng tám giờ kém mười, một chiếc xe bán tải cũ xuất hiện phía sau tôi và Max bước ra. Anh mặc quần bò, áo gió, mũ kéo thấp trước trán. Tôi hạ cửa kính và hỏi, “Anh hóa trang à, hay là thay đồ trong phòng tối?”

Anh nhíu mày, “Nash và Foster đề nghị tôi không nên để người khác nhìn thấy tôi đến Đảo Plum.”

“Tôi nghe thấy anh trên đài sáng nay.”

“Nghe tôi nói thế nào?”

“Chẳng thuyết phục tí nào. Tàu, máy bay và ô tô đã và đang rời khỏi Long Island. Sự hỗn loạn khắp nơi trên toàn Bờ Đông.”

“Bậy nào.”

“Đúng đấy.” Tôi tắt ổ khóa và chờ chiếc xe Jeep bảo tôi điều gì đó, nhưng tôi đoán là lần này tôi không mắc lỗi gì. Tôi rút chìa khóa khỏi ổ, một giọng phụ nữ cất lên, “Votre fenetre est ouverte.”[2] Giờ sao một chiếc xe đẹp của Mỹ lại nói thế này? Ồ, vì lúc cố tắt cái giọng nói ngớ ngẩn ấy đi, chẳng hiểu sao tôi lại chuyển nó sang nói tiếng Pháp. Những chiếc xe loại này được xuất khẩu sang vùng Quebec[3], nên đồng hồ dùng hệ đo mét. “Votre fenetre est ouverte.”

“Mangez merde[4],” tôi đáp lại bằng thứ tiếng Pháp tốt nhất có thể mà tôi học hồi ở trường và bước ra khỏi xe.

Max hỏi tôi, “Ai ở trong xe đấy?”

“Không.”

“Có ai đó nói chuyện mà."

“Bỏ qua đi.”

Tôi định nói với Max rằng đã nhìn thấy Nash và Foster từ chiếc tàu từ Đảo Plum đi lên, nhưng vì Max không nghĩ đến việc đến đây sớm hoặc bảo tôi làm việc đó, nên anh không đáng được biết điều tôi biết.

Những chiếc xe hơi bắt đầu đến và những người thường đi lại tới Đảo Plum có mặt ở bến chính xác đến từng giây khi còi tàu vang lên.

Ted Nash gọi với Max và tôi, “Này, tất cả lên tàu!”

Tôi nhìn quanh tìm Beth Penrose và lẩm bẩm một câu chán chường về chuyện phụ nữ đi muộn.

Max nói, “Cô ấy kia rồi.”

Và nàng xuất hiện, bước ra từ một chiếc Ford màu đen, có thể là xe cảnh sát không mác của nàng, đậu ở đó trước cả lúc tôi đến. Có thể có người lại khôn như tôi hay sao? Khó lắm. Tôi nghĩ là mình đã gieo vào đầu nàng ý tưởng phải đến sớm.

Max và tôi bước qua bãi đỗ xe còn hơi sương đi về phía cầu tàu khi còi tàu rúc lên lần thứ hai. Penrose gặp Nash cùng Foster và đứng nói chuyện với họ gần con tàu khi chúng tôi đến. Nash nhìn lên và làm một cử chỉ thiếu kiên nhẫn giục chúng tôi nhanh chân.

Khi Max và tôi đến cầu tàu, Nash không cần một lời như “xin chào” mà nhìn vào chiếc quần soóc của tôi hỏi, “Anh không lạnh chứ, John?”

Tôi nghĩ trong đầu, đ. mẹ mày, Ted. Gã có cái giọng kẻ cả của bề trên với bầy tôi. Phải sửa cho thằng cha này một trận. Tôi đáp lại, rất hợp với chiếc quần đánh gôn màu hoa hồng trông rất ngố của gã, “Cái này có kèm băng vệ sinh không đấy?”

George cười ồ, còn Ted Nash nhìn màu chiếc quần của gã. Max giả đò không nghe thấy gì, còn Beth nhướn mắt lên.

Foster nói muộn màng, “Xin chào, sẵn sàng lên tàu chưa?”

Năm người chúng tôi quay ra phía tàu. Đi ngang qua phía đuôi bước về phía chúng tôi là quý ông mặc áo khoác xanh lúc trước. Gã nói, “Xin chào. Tôi là Paul Stevens, phụ trách an ninh của Đảo Plum.” Giọng hắn nghe như phát ra từ máy tính.

Gã Quần Đỏ nói, “Tôi là Ted Nash, bộ Nông nghiệp.”

Đúng là bãi phân. Không chỉ chuyện ba thằng hề này vừa mới cùng nhau từ Đảo Plum về, mà cái gã Nash còn lôi ra cả chuyện phân bón nông nghiệp.

Stevens cầm một bìa kẹp trong tay. Gã trông giống một người huýt còi và cầm bìa kẹp: tóc ngắn vàng hoe, mắt xanh lạnh lùng, người làm-được-mọi-việc, cựu vận động viên, ăn mặc vừa vặn và gọn gàng, sẵn sàng tổ chức một sự kiện thể thao hoặc bố trí người vào các toa hàng, bất cứ thứ gì cần làm.

Còn Beth vẫn mặc bộ đồ hôm trước, và tôi suy luận là nàng đã không biết sẽ ở ngoài này qua đêm khi nghe thông báo về vụ giết người, điều có thể hợp lý trong trường hợp này... Các bạn biết đấy, trung tâm bệnh dịch động vật, bệnh sốt xuất huyết lợn, hòn đảo hình miếng sườn lợn...

Stevens nhìn vào chiếc bìa kẹp nói với Max, “Anh là Gorge Foster?”

“Không, tôi là cảnh sát trưởng Maxwell.”

“Đúng,” Stevens nói, “Hân hạnh.”

Tôi nói với Stevens, “Tôi là Beth Penrose.”

Gã nói với tôi, “Không, anh là John Corey.”

“Đúng. Tôi lên tàu được chưa?”

“Không, thưa ông. Phải đến khi chúng ta kiểm tra hết.” Gã nhìn Beth nói, “Xin chào, Điều tra viên Penrose,” rồi quay sang George Foster nói, “Xin chào, ngài Foster của FBI. Đúng không?”

“Đúng.”

“Xin mời lên tàu. Xin hãy đi theo tôi.”

Chúng tôi lên chiếc Plum Runner, và chỉ trong một phút, con tàu rời bến hướng tới Đảo Plum, hay như những tờ báo khổ nhỏ đôi khi gọi nó là Đảo Bí hiểm, hay gọi bằng cách ít trách nhiệm hơn là Đảo Bệnh dịch.

Chúng tôi đi theo Stevens vào cabin có vách gỗ rộng và thoải mái, nơi khoảng ba chục người cả nam lẫn nữ ngồi trên những chiếc ghế bọc kiểu trên máy bay, nói chuyện, đọc sách báo hoặc ngủ gật. Chỗ ngồi có vẻ như đủ cho một trăm người, và tôi đoán chuyến tiếp theo sẽ chở phần lớn người làm việc trên Đảo Plum.

Chúng tôi không ngồi cùng hành khách mà đi theo Stevens xuống cầu thang tới một buồng nhỏ, dường như làm buồng chỉ huy hoặc buồng sinh hoạt hay gì đó. Ở giữa phòng có chiếc bàn tròn và một bình đựng cà phê. Stevens mời mọi người ngồi và dùng cà phê, nhưng không ai muốn thứ gì. Ở dưới boong khá ngột ngạt và âm thanh của động cơ ngập trong phòng.

Stevens lấy ra từ bìa kẹp đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ in sẵn và một bản sao bằng giấy than kèm theo. Gã nói, “Đây là thủ tục bắt buộc các bạn phải ký trước khi lên Đảo Plum. Tôi biết các bạn đều là những người bảo vệ pháp luật, nhưng nguyên tắc là nguyên tắc.” Gã nói thêm, “Xin hãy đọc và ký vào đây.”

Tôi nhìn xuống tờ giấy, tiêu đề của nó là, “Bản khai có tuyên thệ của khách thăm.” Đây là một trong số ít mẫu giấy tờ của chính phủ,viết bằng tiếng Anh đơn giản, về cơ bản, tôi đồng ý ở cùng với nhóm và luôn có một nhân viên của Đảo Plum đi cùng. Tôi cũng đồng ý tuân thủ tất cả các quy định về an toàn, và tôi còn đồng ý thêm sẽ tránh đến gần động vật sau khi rời đảo trong ít nhất bảy ngày. Tôi hứa sẽ không kết giao với trâu bò, cừu, dê, lợn, ngựa, vv... Tôi sẽ không đến thăm một trang trại, vườn thú, rạp xiếc hay thậm chí một công viên, cộng thêm tôi phải tránh xa các nông trang, bãi chăn gia súc, phòng thí nghiệm động vật, xưởng đóng đồ hộp, sở thú, các bầy thú và các triển lãm động vật như ở các hội chợ. Chà. Trong bảy ngày tới cuộc sống của tôi hạn chế lắm đây.

Đoạn cuối cùng khá thú vị, viết rằng:

Trong trường hợp khẩn cẩp, giám đốc Trung tâm hoặc Phụ trách An ninh có quyền giữ khách trên Đảo Plum trong khi tiến hành các biện pháp phòng ngừa an toàn sinh học cần thiết. Quần áo cá nhân và các vật dụng khác có thể bị giữ tạm thời trên Đảo Plum để khử trùng và khách được cấp quần áo thay thể để khách có thế rời Đảo sau khi tắm khử trùng. Các vật dụng quần áo bị giữ sẽ được trả lại trong thời gian sớm nhất.

Và để thêm phần thích thú cho chuyến thăm, tôi đồng ý với bất kỳ sự cách ly và cầm giữ cần thiết nào. Tôi nói với Stevens, “Tôi đoán đây không phải chuyến phà tới Connecticut.”

“Không, thưa ngài, không phải.”

Ngài Stevens đầy năng lực chìa ra mấy cây bút của chính phủ cấp. Chúng tôi đặt tờ giấy lên bàn và trong khi vẫn đứng, chúng tôi cào, nhảy quãng rồi vo viên tên mình trên đó. Stevens thu lại các bản cam kết, sau đó đưa cho chúng tôi bản sao giấy than làm vật lưu niệm.

Sau đó Stevens đưa ra mấy tấm thẻ màu xanh có kẹp và chúng tôi cài một cách đầy trách nhiệm lên áo. Gã hỏi chúng tôi, “Mọi người có ai mang súng không?”

Tôi đáp “Tôi tin là tất cả chúng tôi đều mang, nhưng thực sự anh không nên yêu cầu lấy súng của chúng tôi.”

Stevens nhìn tôi nói, “Đó chính là cái tôi sẽ yêu cầu. Vũ khí nóng bị cấm tuyệt đối trên đảo.” Gã nói thêm, “Tôi có một chiếc hộp có khóa ở đây để các bạn có thể để súng an toàn trong đó.”

Tôi nói, “Súng của tôi đang ở chỗ an toàn rồi.”

Max thêm vào, “Đảo Plum nằm trong địa phận quản lý của thị trấn Southold. Tôi là người có quyền về pháp luật trên Đảo Plum.”

Stevens phân vân một lúc rồi nói, “Tôi cho rằng lệnh cấm không áp dụng với các nhân viên pháp luật.”

Beth nói, “Anh có thể chắc chắn là không.”

Với chút quyền lực nhỏ nhoi bị làm hỏng, Stevens nhận thua bằng một vẻ nhã nhặn và mỉm cười. Tuy nhiên, đó là nụ cười của các nhân vật phản diện trong phim ảnh cười trước khi nói, “ông đã thắng trận này, nhưng tôi hứa với ông, chúng ta sẽ gặp lại.” Giậm gót, quay đầu, lao đi.

Nhưng Stevens hiện thời đang bị kẹt với chúng tôi. Gã nói “Tại sao chúng ta không lên boong nhỉ?”

Chúng tôi theo gã lên cầu thang, đi qua cabin ra ngoài tới một thang gác dẫn đến một khoang sàn đẹp bên trên cabin. Trên sàn không có ai khác.

Stevens chỉ một dãy ghế. Con tàu đang chạy với tốc độ mười lăm dặm mỗi giờ. Gió thổi nhẹ trên boong làm giảm hẳn tiếng động cơ. Sương mờ đang tan nhanh và mặt trời đột nhiên ló sáng.

Tôi có thể nhìn vào buồng lái có kính chắn nơi viên thuyền trưởng đứng trước bánh lái và nói chuyện với người phụ tàu. Từ góc đuôi phía sau, một lá cờ Mỹ bay phần phật trong gió.

Tôi ngồi quay mặt về mũi tàu, Beth ngồi bên phải, Max bên trái, Stevens chéo góc với tôi, còn Nash và Foster ngồi hai bên gã. Stevens nói, “Các nhà khoa học nghiên cứu về kiểm soát gen sinh học thường ngồi đây trừ khi thời tiết thật sự xấu. Các bạn biết đấy, họ không thấy ánh mặt trời tám đến mười tiếng mỗi ngày.” Rồi gã nói thêm, “Tôi đã đề nghị họ để chúng ta có chỗ riêng trong buổi sáng nay.”

Ở bên trái, tôi nhìn thấy ngọn hải đăng Orient Point. Đó không phải là một trong những chiếc tháp bằng đá kiểu cổ xây trên một mũi đất mà là một khung thép hiện đại dựng trên đá. Biệt hiệu của ngọn hải đăng này là “Bình Cà phê” vì người ta thấy nó giống như vậy, nhưng tôi thì không. Các bạn biết đấy, cánh thủy thủ nhầm lợn biển thành tiên cá, nhầm cá heo với rắn biển, nhìn mây thành những con tàu ma, nhầm đủ thứ. Nếu ai đi biển nhiều, chắc cũng sẽ thành hơi gàn.

Tôi nhìn Stevens và gã cũng nhìn tôi. Khuôn mặt gã như nặn bằng sáp, hiếm có, đã gặp là không thể quên được. Trên mặt gã không có thứ gì cử động trừ cái mồm. Đôi mắt gã nhìn như xoáy vào người khác đây khó chịu.

Paul Stevens nhìn các vị khách của mình và nói, “Trước hết, tôi xin nói rằng tôi có biết Tom và Judy Gordon. Họ được tất cả mọi người trên Đảo Plum tôn trọng và yêu mến - từ các nhân viên, nhà khoa học, người huấn luyện động vật, nhân viên phòng thí nghiệm, nhân viên bảo quản, bảo vệ - tất cả mọi người. Họ đối xử với tất cả mọi đồng nghiệp bằng sự nhã nhặn và tôn trọng.” Miệng gã nở một nụ cười quái dị. “Chúng tôi sẽ rất nhớ họ.”

Đột nhiên tôi có ý nghĩ rằng gã này là một kẻ giết người thuê của chính quyền. Đúng rồi. Nếu chính quyền thủ tiêu Tom và Judy thì sao? Hừm, tôi chợt nghĩ biết đâu vợ chồng Gordon biết hoặc nhìn thấy điều gì đó, hoặc họ sắp lên tiếng về một chuyện gì đó... Như cộng sự của tôi Dom Fanelli thường nói, “ôi mẹ ơi!”. Đây là một khả năng hoàn toàn mới. Tôi nhìn Stevens và cố gắng đọc ra điều gì đó trong đôi mắt lạnh lẽo kia, nhưng gã là một tay diễn tốt, như gã đã thể hiện lúc trên cầu tàu.

Stevens nói tiếp, “Ngay khi nghe tin về cái chết của họ đêm qua, tôi đã gọi trung úy an ninh của tôi trên đảo để xác định xem có thứ gì bị mất trong các phòng thí nghiệm hay không - không phải vì tôi nghi ngờ ông bà Gordon về chuyện đó mà vì cái cách tôi được thông tin về vụ giết người... ở đây chúng tôi có các nguyên tắc bắt buộc.”

Tôi nhìn Beth, ánh mắt hai người gặp nhau. Tôi chưa có lúc nào để nói câu gì đó với nàng trong sáng nay, nên tôi nháy mắt với nàng. Nàng có vẻ như không tin vào trực giác của mình nên quay đi.

Stevens tiếp tục, “Tôi lấy một chiếc tàu tuần tra an ninh đến Đảo Plum rất sớm sáng nay và đã tiến hành kiểm tra ban đầu. Tôi có thể xác định đến thời điểm này là không có gì bị mất trong số các loại vi sinh vật được lưu trữ hay các mẫu mô, máu và mẫu hữu cơ, sinh học khác.”

Khẳng định này thật tự mãn và ngớ ngẩn đến mức không ai buồn nhếch miệng cười. Nhưng Max liếc sang tôi và lắc đầu. Còn hai quý ông Nash và Foster lại gật gật như thể đang tin vào câu chuyện vớ vẩn của Stevens. Như được động viên và với ý nghĩ là mình đang ở cùng những người bạn đồng nghiệp làm việc cho chính phủ, Stevens tiếp tục nhả chuyện.

Bạn có thể tưởng tượng có bao nhiêu thứ vớ vẩn như phân bò mà tôi phải nghe trong cuộc đời làm việc của mình - những kẻ tình nghi, nhân chứng, người cung cấp tin, và thậm chí cả những người cùng đội với tôi, như các trợ lý công tố viên, sỹ quan cao cấp, những hạ sỹ quan không năng lực, những cảnh sát cấp thấp, vv... Nó như phân bò đực và bò cái. Phân bò đực là sự bóp méo sự thật rất nặng mùi và rất chủ động. Còn phân bò cái nhẹ mùi hơn, thụ động hơn. Đó là chuyện thường đôi với công việc của cảnh sát. Phân bò đực và bò cái. Sẽ không có ai nói với bạn sự thật. Đặc biệt nếu bạn đang muốn đưa họ lên ghế điện hay bất cứ thứ gì mà người ta dùng ngày nay.

Tôi lắng nghe một chút khi Stevens giải thích lý do tại sao không ai có thể lấy một con virut hay vi khuẩn ra khỏi đảo, ngay cả trường hợp có nốt ngứa ở mông, nếu chúng tôi tin Pinocchio Stevens[5].

Tôi nắm tai bên phải và vặn. Đó là cách tôi làm khi không muốn nghe những gã đần độn. Tránh được cái giọng của Stevens, tôi nhìn ra bầu trời xanh rất đẹp của buổi sáng. Chuyến phà New London đang chạy về ở phía trái chúng tôi, tôi tình cờ biết cái này gọi là phía cảng. Đoạn đường biển dài một dặm rưỡi giữa Orient Point và Đảo Plum gọi là Eo Ruột Plum, một thuật ngữ hàng hải nữa. Có rất nhiều thuật ngữ hàng hải ở đây, đôi lúc làm tôi đau cả đầu. Ý tôi là tiếng Anh thông thường thì có gì là sai chứ?

Dù sao, tôi cũng biết rằng eo biển này là nơi các dòng hải lưu trở nên xấu đi vì biển Long Island Sound và Đại Tây Dương hợp lưu tại đây. Tôi đã đi cùng với vợ chồng Gordon một lần trên chiếc tàu cao tốc của họ, khi chúng tôi ở vào tình thế ngay tại đây với gió, thủy triều và các dòng nước đập vào xung quanh con thuyền. Tôi thực sự không cần một ngày như vậy trên biển, nếu bạn hiểu tôi muốn nói gì.

Nhưng hôm nay không có chuyện gì. Eo biển vẫn êm sóng và con tàu khá lớn. Tàu hơi lắc lư, nhưng tôi đoán đó là điều không thể tránh khỏi trên biển, nơi chỉ có nước và không có chỗ nào ở gần vững chắc như mặt đường rải nhựa.

Phong cảnh nhìn từ đây thật đẹp, và trong khi Stevens đang lải nhải, tôi ngắm nhìn một con ưng biển lớn đang chao mình. Những thứ này thật kỳ quặc, ý tôi là những con chim hoàn toàn điên dại. Tôi nhìn nó bay lượn, kiếm tìm bữa sáng. Nó nhận ra con mồi, bắt đầu lao bổ nhào xuống nước và kêu thét lên như thể bị đốt. Nó lao xuống nước, biến mất rồi lại lao vút lên như thể gắn tên lửa ở mông. Trong móng vuốt của nó là một con cá màu bạc vừa mới đây còn bơi lội bên dưới, nhai rào rạo những con cá con hay thứ gì đó, và chụp, nó đã ở trên không và sắp chui vào cổ họng con chim điên kia. Ý tôi là, con cá bạc có thể có vợ, có con và bất cứ thứ gì, nó ra ngoài kiếm một bữa sáng nhỏ nhoi, và trước khi có thể chớp mắt, nó đã biến thành bữa sáng. Sự sống sót thuộc về kẻ mạnh nhất. Thật đáng sợ. Rất đáng sợ.

Chúng tôi còn cách Đảo Plum một phần tư dặm khi một tiếng động lạ nhưng quen thuộc khiến chúng tôi chú ý. Sau đó, chúng tôi nhìn thấy nó - một chiếc trực thăng màu trắng mang hình hiệu của lực lượng bảo vệ bờ biển bay ngang qua phía mạn phải của tàu. Chiếc máy bay đang bay thấp và chậm. Một người đàn ông nghiêng ra khỏi cửa chiếc trực thăng, trên mình có dây an toàn. Người này mặc đồng phục, đội mũ có điện đài và mang súng dài.

Stevens bình luận, “Đó là máy bay tuần tra hươu.” Gã giải thích, “Đây là biện pháp hoàn toàn mang tính phòng ngừa. Chúng tôi tìm hươu bơi ra vào Đảo Plum.”

Không ai nói gì.

Stevens nghĩ gã nên nói thêm về chủ đề này. Gã tiếp, “Hươu là loài bơi khỏe đến khó tin, và chúng tôi được biết là bơi tới Đảo Plum từ Orient và thậm chí tới đảo Gardiers và Đảo Trú ẩn cách xa tới bảy dặm. Chúng tôi ngăn chặn loài hươu đến cư trú hoặc dù chỉ là đến thăm trên Đảo Plum.”

“Trừ khi chúng kí vào mẫu giấy cam kết.” Tôi nói.

Stevens lại cười. Gã thích tôi. Gã thích cả vợ chồng Gordon, và hãy xem điều gì xảy ra với họ.

Beth hỏi Stevens, “Tại sao các anh không cho loài hươu bơi đến Đảo Plum?”

“À... chúng tôi có quy định gọi là “Không bao giờ rời”. Tức là, bất cứ thứ gì ở trên đảo đều không bao giờ được rời đảo trừ khi được tẩy trùng. Điều này áp dụng với cả chúng ta khi rời đảo. Những vật lớn không thể tẩy trùng được như xe hơi, xe tải, thiết bị phòng thí nghiệm, chất thải xây dụng, rác, vân vân không bao giờ rời khỏi đảo.”

Một lần nữa, không ai nói gì.

Nhận ra mình đã làm các du khách sợ hãi, Stevens nói, “Tôi không có ý nói là hòn đảo đã bị nhiễm độc.”

“Tôi cứ tưởng thật,” tôi thừa nhận.

“Tôi nên giải thích - có năm mức nguy hiểm sinh học trên đảo, hay còn gọi là năm vùng. Mức một hay Vùng một là không gian xung quanh, tất cả các nơi bên ngoài các phòng thí nghiệm kiểm soát gen vi trùng, hiện an toàn. Vùng hai là khu vực tắm giữa các phòng có khóa và các phòng thí nghiệm cùng một số nơi làm việc có khả năng lây nhiễm thấp. Các bạn sẽ thấy vùng này sau. Vùng ba là các phòng thí nghiệm nơi họ làm việc với các căn bệnh truyền nhiễm. Vùng bốn ở sâu hơn trong tòa nhà, gồm những nơi nuôi nhốt các con vật bị nhiễm bệnh, cũng là khu vực có các lò thiêu và phòng mổ.” Gã nhìn từng người để xem chúng tôi có chú ý hay không, dĩ nhiên là có, rồi tiếp tục, “Gần đây, chúng tôi đã có thêm Cấp năm là cấp kiểm soát gen sinh học cao nhất. Không có nhiều cơ sở Cấp năm trên thế giới. Chúng tôi có thêm cấp này là vì một số vi sinh vật mà chúng tôi nhận được từ những nơi như châu Phi hay rừng rậm Amazon lại độc hại hơn mọi người nghĩ.” Gã nhìn từng người chúng tôi và nói như thì thầm, “Nói cách khác, chúng tôi đã có các mẫu máu và mô bị nhiễm Ebola.”

Tôi nói, “Tôi nghĩ lúc này chúng ta có thể quay lại.”

Mọi người mỉm cười và cố cười thành tiếng. Ha, ha. Chẳng có gì đáng buồn cười.

Stevens tiếp tục, “Phòng thí nghiệm mới là một cơ sở kiểm soát gen sinh học hiện đại, nhưng có thời chúng tôi đã sử dụng cơ sở cũ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, và không may là nó lại không an toàn. Vì vậy, vào lúc đó, chúng tôi đề ra quy định “Không bao giờ rời” như một biện pháp ngăn ngừa lây nhiễm vào đất liền. Quy định này vẫn chính thức có hiệu lực, nhưng đã nới lỏng đôi chút. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không muốn vật và người ra vào quá tự do giữa đảo và đất liền mà không được khử trùng. Tất nhiên, trong đó có cả loài hươu.”

Beth lại hỏi, “Nhưng tại sao?"

“Tại sao? Vì chúng có thể mang theo gì đó lên đất liền.”

“Chẳng hạn như cái gì?” Tôi hỏi. “Một thái độ tồi.”

Stevens cười đáp, “Có thể là chứng cảm lạnh.”

Beth hỏi, “Các anh có giết lũ hươu không?”

“Có.”

Không ai nói gì một lúc lâu, sau tôi hỏi, “Còn chim thì sao?”

Stevens gật đầu đáp lại, “Chim cũng có thể gây rắc rối.”

Tôi hỏi câu tiếp theo, “Còn muỗi.”

“Ồ, có, muỗi cũng có thể là vấn đề. Nhưng anh phải nhớ rằng tất cả các động vật thí nghiệm đều được giữ trong phòng kín, và mọi thí nghiệm đều được thực hiện trong các phòng kiểm soát gen sinh học. Không thứ gì có thể lọt ra được.”

Max hỏi, “Làm sao anh biết?”

Stevens đáp, “Vì tôi vẫn còn sống.”

Với nhận xét lạc quan đó, trong khi Sylvester Maxwell suy ngẫm việc được so sánh với một chú chim hoàng yến ở một mỏ than, Stevens nói, “Khi chúng ta lên đảo, xin hãy luôn ở cạnh tôi bất cứ lúc nào.”

Này, Paul, tôi sẽ không hiểu nó theo cách khác đâu.

❀ ❀ ❀

[1] Bệnh Lyme: Một loại bệnh do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn này lây nhiễm vào cơ thể do bị côn trùng nhỏ như ve, bét đốt và có thể dẫn đến những rối loạn ở hệ tim mạch, khớp và hệ thần kinh - ND.

[2] Tiếng Pháp: Cửa phía đông của bạn đã mở - ND.

[3] Một tỉnh của Canada chủ yếu nói tiếng Pháp - ND.

[4] Câu chửi tục, tiếng Pháp - ND.

[5] Pinocchio: Tên một nhân vật trong phim hoạt hình của Walt Disney dựa trên một câu chuyện của người Italia về một con rối biến thành một cậu bé, mỗi khi cậu bé nói dối là mũi lại dài ra-ND.

i các bản ghi nhớ , đồ thị, bảng biểu... được viết tay hoặc đánh máy, quy định là phải gửi fax tất cả những thứ đó tới phòng làm việc riêng bên ngoài. Chỗ nào cũng có máy fax, các anh chị có thể thấy, và mỗi văn phòng ở khu hành chính ngoài
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.