Porter
Ngày 6 - 5:23 sáng
Porter cất hết đống ảnh vào lại phong bì. Anh không thể xem tiếp được nữa.
Anh chộp lấy cái túi xanh từ ghế ngồi bên kia lối đi rồi nhét phong bì vào trong, chôn vùi các bức ảnh dưới đống quần áo bẩn thỉu, dính máu. Anh nhận ra chiếc áo sơ mi xanh, chiếc quần dài đen, đôi giày da, thậm chí cả cà vạt. Anh đã từng mặc nguyên bộ này vào đêm anh bị bắn. Anh không biết làm sao chúng lại ở trong cái túi này, được giấu trong xe tải của Hillburn suốt những năm qua. Anh cũng không chắc làm sao chúng lại rách nát, nhưng anh nghi ngờ họ đã cắt bộ quần áo này khỏi cơ thể anh tại bệnh viện.
Cuốn vở toán cũng có vẻ quen thuộc, nhưng có thể là vì nó cùng loại Bishop đã dùng để viết toàn bộ các cuốn nhật ký. Chúng đã chiếm trọn thời gian rảnh rỗi của Porter bất cứ lúc nào anh tỉnh táo suốt mấy tháng trời. Anh lật qua mấy trang, đọc vài đoạn văn bản - ngày tháng, thời gian và những quan sát - hầu như được viết theo kiểu tốc ký. Bản năng mách bảo anh rằng đây như là một dạng sổ ghi chép - 14F, 1k, CH. Đã trả tiền.
Nữ giới mười bốn tuổi, một ngàn đô la, dinh thự Carriage House.
Cái từ đã trả tiền được đánh dấu với vài người, các chữ cái viết tắt DB với những người khác. Hàng tá mục, còn nhiều mục nữa tương tự.
DB… nợ à?
Porter chẳng hiểu tại sao nó lại nảy ra trong đầu anh, nhưng đúng là thế.
Một Số đã thanh toán khi các dịch vụ được giao đến nơi, số khác nợ. Các khách hàng tốt, khách hàng quen được phép dùng thẻ tín dụng.
Anh tìm thấy cái tên Tegan trên một trang.
Porter lại mở nắp bút ra và hướng đầu bút bi xuống trang giấy. Anh viết cái tên Tegan bên cạnh cái tên ban đầu.
Anh không cần phải là một chuyên gia mới nhận ra hai chữ đều là của anh. Nhưng anh không nhớ mình từng viết nó ra.
Không phải nhật ký. Một cuốn sổ biên nhận. Một cuốn sổ ghi chép các giao dịch.
Cuốn sổ ghi chép các giao dịch của mình.
Porter đóng cuốn sổ lại rồi nhét vào túi, đè gí nó xuống dưới đống quần áo dưới những bức ảnh, dưới đống tiền mặt, dưới tất cả mọi thứ. Anh cũng cất hết các nhật ký vào túi.
Hồ sơ của anh từ Camden đã biến mất. Hồ sơ của Bishop cũng thế.
Mẹ kiếp, Poole.
Chiếc phi cơ chao đảo khi các bánh xe kêu rít chạm đường băng. Các cánh phụ mở rộng ra và các phanh khí động kêu thét lên.
Anh bật nguồn điện thoại và nó reo chuông ngay lập tức.
Số lạ.
“Gì thế?”
“Chào mừng đến Chicago, Sam. Xin lỗi nhé vì tôi phải đi.” Sarah.
“Tại sao bà bỏ chạy?”
“Anh biết tại sao mà.”
“Tôi phát ngán mấy cái trò bí ẩn chết tiệt ấy lắm rồi.”
“Đó là tội lỗi đang lên tiếng.” Bà ta đáp. “Tội lỗi gặm mòn anh, ngấu nghiến anh từ bên trong. Đó là nỗi đau anh đang cảm thấy trong bụng dạ mình. Thừa nhận những tội ác của anh là bước đầu tiên giúp hàn gắn để rồi từ đó sống tiếp. Anh đã sẵn sàng làm như thế chưa?”
“Tôi chẳng làm gì sai cả.”
“Vậy là anh vẫn chưa nhớ ra à?”
Tôi nhớ ra một ít rồi.
“Chưa.”
“Anh điều hành những đứa trẻ kia, Sam ạ. Anh, đồng bọn của anh gồm Hillbum, Stocks và Welderman, tất cả các anh. Anh bắt chúng đi bán dâm. Trẻ em ấy. Anh bán chúng cho bất kỳ kẻ nào sẵn sàng trả giá. Quán trọ Carriage House là địa bàn hoạt động ban đầu của bọn anh ở Charleston. Stocks và Welderman lãnh trách nhiệm giao hàng. Hillburn luôn theo sát nhằm đảm bảo giao dịch diễn ra suôn sẻ, còn anh theo dõi từ xa để hỗ trợ. Việc của anh là đảm bảo cảnh sát không thò mũi vào - những cảnh sát tốt hiếm hoi còn lại ấy. Mỗi năm một lần, những đứa trẻ ấy được mang đến Chicago - những đứa kém may mắn hơn bị bán ra chợ buôn người rộng lớn, những đứa khác quay về trại trẻ của mụ Finicky. Anh đã đưa thằng bé của tôi vào đống hỗn độn ấy - đó là tội của anh. Đó là lý do tại sao Heather chết. Đó là lý do tại sao anh bị bắn.”
Nhanh lên, chúng sắp tới rồi.
“Bà toàn nói vớ vẩn.”
Sarah thở dài. “Cái phi cơ yêu dấu của anh có ti vi không thế?”
Porter cố kiềm chế không gác máy và nhìn quanh cabin. Một màn hình theo dõi 36 inch treo trên bức tường gần cửa buồng lái đóng chặt.
“Bật nó lên đi.” Sarah nói khi anh chưa kịp trả lời bà ta là có một cái.
Có cái giá đặt điều khiển từ xa ở trên bàn. Porter cầm nó lên rồi ấn nút bật.
“Tìm một kênh tin tức đi.”
Porter nhìn quanh khoang. “Hiện giờ bà đang nhìn thấy tôi à?”
“Tìm một kênh tin tức đi.” Bà ta nhắc lại, tảng lờ câu hỏi của anh.
Porter bật qua rất nhiều kênh. Anh không mất nhiều thời gian tìm được cái kênh bà ta muốn anh xem. Anh bật to âm lượng lên.
Qua làn tuyết rơi nổi bật nhờ ánh sáng rực rỡ của bình minh đang lên, một phóng viên đứng tại bãi đỗ xe ken đặc người. Làn gió cuốn tung mái tóc đen, anh ta đưa tay lên vuốt lại. “… Đã bắt đầu tụ tập khoảng ba tiếng trước. Cho dù nhiệt độ đang ở mức từ mười ba đến mười chín độ, nhưng hoàn toàn không ngăn cản được họ. Trong khi vài người ở đây là để đáp lại lời kêu gọi ủng hộ của Anson Bishop, những người khác chỉ muốn chứng kiến bất kỳ chuyện gì có thể xảy ra, số lượng người vẫn tiếp tục tăng và quy mô đám đông đang trở thành vấn đề. Chúng tôi đã thấy một hàng dài các nhân viên thực thi pháp luật cũng như các nhân viên đặc vụ liên bang, cảnh sát địa phương và nhân viên nhà nước đang cố gắng bảo đảm hiện trường nơi đây, tại Khách sạn Guyon, nơi dự kiến Bishop sẽ tự nộp mình, còn chưa đầy hai tiếng nữa. Các công dân đã bẻ gãy hàng rào, gạt hết rào chắn sang một bên nhằm cố gắng đến gần hơn, nhưng bản thân tòa nhà có vẻ như vẫn bị niêm phong. Từng có ý kiến cho rằng nên phong tỏa các con phố lân cận, tuy nhiên ý tưởng này bị bác bỏ vì giới chức trách hiện không biết Bishop có kế hoạch đến Guyon như thế nào. Họ không muốn mạo hiểm phong tỏa đường đi của hắn hoặc thỏa hiệp với sự đầu hàng của hắn.”
Chiếc máy bay dừng lại.
Màn hình ti vi chớp tắt khi điện trong máy bay tuần hoàn.
Porter nhìn ra ngoài cửa sổ, mong được thấy hơn mười chiếc xe của lực lượng thực thi pháp luật và một trăm sĩ quan đang đợi chờ mình ngoài kia, nhưng anh chẳng thấy ai ngoài một nhân viên sân bay đang đặt các khối gỗ dưới các lốp máy bay của họ.
“Anh đã làm gì với con virus chưa đấy Sam? Anh còn nhớ mình để nó lại ở đâu không?” Điều gì đó trong não bộ anh được kích hoạt. Porter đã hiểu Bishop đang muốn làm gì.
Anh gác máy và gọi cho Poole.