Bishop
Ngày 203 - 9:48 sáng
Luật sư của Anson Bishop đã thông báo với báo chí rằng hắn sẽ được ra tù vào buổi trưa thứ Tư, ngày 2 tháng Chín và một buổi họp báo sẽ được tổ chức trong hành lang Tòa án hạt Cook, nơi Bishop cùng luật sư của hắn sẽ đưa ra thông cáo chung, sau đó là thời gian hỏi và trả lời. Thực chất hắn đã được thả vào ngày 31 tháng Tám vào lúc hai mươi ba giờ. Hắn rời tòa án qua bãi bốc dỡ hàng hóa ở cửa sau, không có ai đi cùng ngoài viên giám thị đang hút thuốc, ông ta lấy chân giữ cho cửa sau mở vừa đủ tránh không bị máy phát hiện khói thuốc cách đó gần 2 mét réo lên. Bishop trèo lên một chiếc xe đang chạy không, nơi hắn thấy một cái túi da màu đen đang đợi mình trên ghế ngồi. Trong chiếc túi ấy là vài mẫu giấy tờ dưới rất nhiều tên gọi, mấy thẻ tín dụng, quần áo, các đồ dùng vệ sinh, các chìa khóa xe và mười nghìn đô la Mỹ tiền mặt. Chiếc xe đưa hắn thẳng đến chuỗi khách sạn quốc tế Radisson tại Sân bay Midway nơi hắn nhuộm đen tóc, ngủ một giấc ba giờ đồng hồ sau đó lên chuyến bay đêm tới Boston dưới cái tên Daron Metzler.
Không bị đám thợ săn ảnh vây quanh, hắn lên máy bay rồi đi qua Sân bay Quốc tế Logan đến điểm đỗ lâu dài mà chẳng bị ai nhận ra. Chùm chìa khóa cất trong túi mở được khóa một chiếc Mercedes C-300 màu bạc tuổi thọ mới hai năm bỏ lại ở gian K302, xăng còn đầy nguyên bình.
Chuyến đi đến New Castle, New Hampshire, đáng ra chỉ mất khoảng một tiếng nhưng vì Bishop dừng lại ăn sáng ở Newburyport trong một quán ăn nhỏ ven biển tên là Mike’s. Trên một trong các kênh tin tức truyền hình cáp, họ cho phát một trong những đoạn phim mà Klozowski đã để lại trong máy tính làm việc của mình - trong đoạn phim này y thú nhận gây ra tất cả các vụ án mạng của 4MK. Từ vụ Calli Tremell đến vụ bắt cóc Emory Connors. Khi đoạn phim kết thúc, vài phóng viên còn tranh cãi xem phải chăng thẩm phán trong vụ xử Bishop bằng cách nào đó đã xem được lời thú nhận này, cho dù đoạn phim này phải sau khi hắn được thả mới công khai. Bishop rời khỏi cửa hàng mà chẳng buồn nghe kết luận của đám phóng viên.
Ở đây cũng chẳng ai nhận ra hắn.
Sau khi băng qua cầu từ Portsmouth đến đảo New Castle, hắn lái chậm rãi qua khu phố cũ kĩ nhưng tuyệt đẹp, qua trung tâm hòn đảo rồi đi theo các tấm biển chỉ đường đến Great Island Common, một công viên trông là lạ trên bờ biển Đại Tây Dương, ở đấy chỉ có một nhúm xe đỗ, nhiều khả năng là chúng thuộc về vài người chạy bộ hoặc những bà mẹ đi cùng con cái đến sân chơi.
Bishop xuống xe, đi bộ đến một trong những chiếc ghế dài nằm dọc mép nước. Hắn hít đầy lồng ngực bầu không khí mặn mòi, ngấu nghiến nó một lúc, rồi ngồi xuống cạnh một người đàn ông đang đọc tờ báo buổi sáng. Tựa bài báo có ghi, THANH TRA CHICAGO TRONG VỤ 4MK ĐƯỢC THẢ, ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC VÔ THỜI HẠN.
Người đàn ông ngồi cạnh hắn lật trang báo, bắt tréo chân. Ông ta mặc chiếc áo len dài tay có hoa văn hình thoi màu đỏ xanh xấu xí nhất, đeo cặp kính khiến ông ta trông có vẻ già hơn tuổi thực. Khi ông ta ngước mắt lên khỏi trang báo nhìn ra những con sóng đại dương tung bọt trắng, ông ta bỏ kính xuống, để mặc chúng lơ lửng trên cổ bằng sợi dây xích bạc. “Cảnh đẹp thật.”
Bishop cố ghìm lại ham muốn mỉm cười. “Trông cha lố bịch thật đấy.”
Người đàn ông nhún vai. “Ta nghĩ con có thể giúp ta nói lời từ biệt với bác sĩ Victor Whittenberg, trước khi ta đốt bỏ bộ đồ này đi.” Ông ta lại đeo kính lên, để chúng trượt xuống sống mũi. “Ta ngày càng thích mấy cái thứ này.”
“Thật vui được gặp lại cha, thưa cha.”
“Con cũng vậy, Anson.” Ông ta nhìn xuống đồng hồ. “Con đến sớm mười hai phút đấy.”
“Con xin lỗi.” Bishop nói rồi mới nhận ra đó không phải là lời phê bình, đơn giản cha hắn chỉ nói rõ giờ giấc thôi.
Cha hắn xua xua tay phản đối. Ông ta gập tờ báo lại để xuống giữa hai cha con, nhưng vẫn tiếp tục nhìn ra phía mặt nước. “Ta tự hào về con, con trai ạ. Ta biết đó không phải kiểu tự hào mà con đã nghe ta nói suốt từ nhỏ cho đến khi lớn, nhưng ta thực sự tự hào. Về người đàn ông con đã trở thành và về tất cả những gì con đã làm được.” Ông ta vỗ vỗ vào tờ báo. “Tất cả những chuyện này, những kẻ con đã tiêu diệt. Thế giới này tuyệt đẹp vì có con trong đó.”
“Thế giới này là một cái hố phân.”
“Giờ thì bớt rồi.”
“Có thể.”
Cha của Bishop vỗ vỗ vào tờ báo. “Ta chưa từng thấy ai nói gì về mấy cái xác dưới mặt hồ của chúng ta, cả trên báo chí cũng không.”
Ánh mắt Bishop dừng lại ở chiếc thuyền buồm cách bờ một phần tư dặm, đang bập bềnh trên nước gần một ngọn hải đăng cũ trên hòn đảo nhỏ toàn đá. “Klozowski nói rằng chúng đã nhận diện được ông Carter, Welderman và Stocks. Chúng nghi ngờ Oglesby có trong đó nhưng không có bằng chứng ADN trùng khớp. Hai người kia đối với chúng cũng là bí ẩn, ít nhất đó là những gì con biết.”
Cha hắn thở dài. “Hồi ấy, chắc chắn con được thừa hưởng tính nóng của mẹ đấy.”
Cả hai im lặng một lúc, rồi Bishop nói. “Cha đã tha thứ cho bà ấy chưa? Vì tội chạy trốn cùng cô Carter và Kirby?”
Ông ta có vẻ cân nhắc chuyện này một lúc lâu, rồi chậm rãi gật đầu. “Ta nghĩ cả ta và con đều nhận ra bọn ta đã đến hồi kết rồi. Bọn ta đã ở bên nhau vì con, chứ không phải vì nhau, không còn vì nhau nữa. Chất keo dính duy trì mối quan hệ ấy cần phải mạnh mẽ hơn thế. Nếu mọi thứ không kết thúc vào lúc cần phải thế, có thể ta đã trở thành kẻ số bảy dưới cái hồ đó rồi.” Ông ta bồn chồn nghịch góc tờ báo và toét miệng cười. “Ý ta là, nếu con không giết chết ta trong cuốn sách nhỏ ấy của con. Chàng trai thông minh của ta.”
“Mặc đồ Giáng sinh trông anh tệ quá đấy, Gerald.”
Bishop và cha hắn cùng nhìn sang bên trái; họ không nghe thấy bà ta bước đến.
“Con chào mẹ.” Bishop nói.
Bà ta mặc chiếc áo len dài tay hiệu JCrew ngoài bộ váy hiệu Loft. Bà đã nhuộm tóc mình sang màu vàng nhạt, sắc màu này thật hợp với bà ta.
Bà ta mỉm cười nhìn ra mặt nước. “Cảnh này đẹp quá mất thôi, Gerald. Anh đang lẩn tránh mẹ con em đấy.”
“Giờ anh là Warren. Warren Cray. Anh chuyển về đây một năm sau vụ Simpsonville. Anh đã cố gắng thử sống ở vài nơi dọc đường đi nhưng mặt biển luôn có sức quyến rũ lạ kỳ đối với anh. Anh có mở một tiệm đồ cổ nhỏ trong thị trấn, buôn bán được mười hai năm rồi. Một cuộc đời bình lặng. Anh thích thế.”
“Em đang mong mỏi một cuộc sống bình lặng.” Bà ta nói. Cha hắn đứng dậy và ngắm bà ta. “Trông em ổn đấy.”
Mẹ hắn mỉm cười ôm chấm lấy ông ta. “Anh cũng thế. Đã lâu quá rồi.”
Ai đó bóp còi ô tô sau lưng họ, ba hồi dài. Phá tan bầu không khí tĩnh lặng.
Một con chó săn mồi lông vàng chạy theo chủ của nó sủa hai lần liền.
Bishop biết âm thanh tiếng còi ấy. “Con không phải là người duy nhất đến sớm đâu.”
Ba người quay lại nhìn thấy một chiếc Ford Mustang màu trắng trang trí thêm sọc đen như xe đua ở giữa, đang tiến về phía họ qua bãi đỗ xe. Chiếc xe dừng lại cạnh một hàng rào ngắn phía sau chiếc ghế dài vài mét. Vincent Weidner xuống xe từ phía ghế tài xế và đứng vươn vai. “Phải đi sạc lại ắc quy, cô nàng này nằm kho lâu quá rồi. Chạy lồng lên như cô bé mộng mơ ngay khi rời khỏi đường cao tốc.”
Bishop đứng dậy khỏi ghế dài và bước đến. “Với một người đã chết thì trông cậu ổn đấy.”
“Tớ thấy không chỉ có mình tớ.” Vincent nói, gật đầu với cha Bishop. Cậu ta hất ngón cái về phía chiếc xe. “Thằng cha này hát suốt nửa chuyến đi. Tớ sẽ không bao giờ đi xe cùng nó nữa. Khi nó hát chán rồi ấy, nó lại cắm mặt vào cái laptop. Bây giờ chẳng còn ma nào để tâm tận hưởng một chuyến đi nữa rồi.”
“Đấy không phải laptop, mà là chiếc máy tính chơi game Alienware với bộ vi xử lý thế hệ thứ tám và chất lượng video GTX. Đừng có sỉ nhục phần cứng của em.” Một giọng nói vẳng ra từ trong xe. “Em đang còn rất nhiều hoạt động muốn triển khai, em cần phải theo dõi sát tình hình thêm chút nữa.” Cửa xe phía hành khách bật mở. Edwin Klozowski bước ra khỏi chiếc Mustang và gật đầu. “Chào Anson.”
“Chào Thằng Nhóc.”