Foma được dành riêng hai phòng rộng, đẹp, thậm chí còn khang trang hơn tất cả các phòng còn lại trong nhà. Tiện nghi đầy đủ bao quanh con người vĩ đại. Giấy bồi tường tươi sáng mĩ miều, màn cửa sổ bằng lụa nhiều màu, thảm dạ kéo từng dải một, gương đứng, lò sưởi, đồ gỗ sang trọng, kiểu dáng thanh thoát - tất cả sự nâng niu trìu mến của gia chủ đối với Foma Fomits. Những lọ hoa tươi được bày biện trên các bậu cửa sổ và những mặt bàn tròn xinh xinh bằng đá hoa bên cửa sổ. Giữa phòng là một chiếc bàn dài rộng phủ khăn dạ đỏ để đầy sách và bản thảo. Một lọ mực bằng đồng tuyệt mỹ và cả một lô bút lông chim do Vidopliasov phụ trách, - bao nhiêu thứ cộng lại đủ để nói lên hoạt động trí óc căng thẳng của Foma Fomits. Tiện thể nói thêm là có lần Foma đã ngồi lì ở đây đến gần tám tiếng mà cũng chẳng vẽ ra được cái gì ra hồn cả. Sau này, khi ông ta đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, chúng tôi đã lục lại đống bản thảo do ông ta để lại thì hóa ra chỉ toàn đồ bỏ. Chẳng hạn chúng tôi đã tìm thấy đoạn mở đầu một tiểu thuyết lịch sử viết về những sự kiện xảy ra vào thế kỷ thứ bảy ở Novgorod; rồi đến bản trường ca quái dị bằng thơ không vần “Kẻ náu mình trong mộ địa”; sau nữa là một tiểu luận loằng ngoằng về ý nghĩ và tính chất của gã mugic Nga, cách đối xử với hắn và cuối cùng là tiểu thuyết ngắn “Bá tước tiểu thư Vlonskaia” viết về cuộc sống của giới thượng lưu mà cũng chưa viết xong. Tất cả chỉ có thế. Vậy mà Foma Fomits đã bắt chú tôi hàng năm phải bỏ ra khá nhiều tiền để đặt mua sách và tạp chí. Nhưng nhiều ấn phẩm trong số đó vẫn còn nguyên chưa rọc. Về sau chính tôi đã hơn một lần bắt gặp Foma lén lút tuồn sách của Paul de Kock[1] đi đâu không rõ. Ở bức tường sau của phòng làm việc có một cánh cửa lắp kính từ đó có thể đi tắt ra sân trước.
Mọi người đang mong chúng tôi. Foma Fomits ngồi lọt thỏm trong một chiếc ghế bành êm ái, mặc áo lễ phục dài lướt thướt nhưng lại không đeo cà-vạt. Ông ta cứ thế ngồi im, vẻ trầm ngâm. Khi chúng tôi vào phòng, ông ta khẽ nhướn mày, đưa mắt nhìn tôi với vẻ tò mò. Tôi cúi chào ông ta, ông ta khẽ gật đầu thôi nhưng cũng khá lịch sự rồi. Thấy Foma Fomits nhã nhặn với tôi như thế, bà tôi cũng mỉm cười gật đầu với tôi. Và sáng nay, bà già tội nghiệp cũng đã không ngờ được là ý trung nhân của người lại có thể bình thản đến thế khi được tin về “sự cố” xẩy ra với Tatiana Ivanovna, do đó lúc này người tỏ ra hết sức vui vẻ tuy rằng mới đó người đã lên cơn kinh giật và ngất lịm đi. Như thường lệ, Perepelisina đứng ngay sau lưng người, cặp môi mỏng dính mím chặt trong một nụ cười chua chát và giận dữ, hai bàn tay xương xẩu cứ xoa mãi vào nhau. Ngồi cạnh tướng quân phu nhân là hai bà già được cưu mang, những con người tự trọng, lúc nào cũng lặng thinh. Ngoài ra còn có một nữ tu mới tạt vào chơi lúc sáng nay và một bà vợ địa chủ thân quen trong chỗ láng giềng, cũng đã già và ít nói, sau lễ ban mai đã ghé vào chúc mừng tướng quân phu nhân nhân ngày lễ của gia đình. Cô Praskovia Iliitsna của tôi thì ngồi chết lặng ở một góc nhà, đưa mắt lo lắng nhìn Foma Fomits và mẹ già. Chú tôi yên vị trong ghế bành, mắt ngời lên ánh hân hoan kỳ lạ. Đứng trước ông là Iliusa, áo cánh lễ phục màu đỏ, tóc uốn quăn, xinh tươi như một tiểu thiên thần. Sasa và Nastenka đang nhắc cậu nhẩm lại thơ để làm vui lòng bố nhân ngày lễ trọng: thành tựu học tập của con, làm quà cho bố thì quý quá còn gì. Chú tôi vui mừng suýt phát khóc lên: thái độ hòa nhã của Foma, tâm trạng vui vẻ của tướng quân phu nhân, ngày lễ thánh của Iliusa, thơ - tất cả những điều đó đã khiến ông hởi lòng hởi dạ, và ông đã khẩn khoản nhờ người đến đón tôi cho tôi kịp chia vui với cả nhà và được nghe thơ. Gần như đã theo chân chúng tôi vào nhà, Sasa và Nastenka lúc này đang đứng cạnh Iliusa. Sasa chốc chốc lại cười, những lúc đó trông em vui sướng hồn nhiên như đứa bé con. Thấy thế, Nastenka cũng bắt đầu tủm tỉm, tuy vừa rồi, cô đã bước vào phòng với dáng vẻ mệt nhọc, mặt mày phờ phạc. Cô là người duy nhất đã tìm gặp và an ủi Tatiana Ivanovna khi chị ta vừa được đón về và ngồi với chị ta ở trên gác cho đến tận bây giờ. Bé Iliusa dường như cũng không nhịn được cười khi nhìn hai cô giáo của mình. Có vẻ như ba người đã chuẩn bị được một tiết mục rất vui đang khoái được đem ra trình diễn... Tôi quên chưa nói đến Baktseev. Ông ngồi ở một chiếc ghế đầu đằng kia, không nói không rằng, vẻ cau có bực dọc, mặt đỏ gay, chốc chốc lại khịt mũi, nói chung ông đang đóng vai sầu muộn trong ngày lễ gia đình. Ejevikin cứ quanh quẩn bên ông, thực ra thì lão còn loanh quanh hết chỗ này đến chỗ khác, hôn tay tướng quân phu nhân và bà khách mới, thì thầm to nhỏ vào tai ả Perepelisina, tán tỉnh Foma Fomits, tóm lại là đi khắp. Lão cũng đang háo hức mong được nghe thơ của Iliusa và thấy tôi đến đã vội vã đến chào, thể hiện lòng quý trọng và trung thành hết mức. Không có qua một biểu hiện gì cho thấy lão đến để bảo vệ con gái và đón cô ấy về, đoạn tuyệt với Stepantsikovo.
- Kia rồi! - chú tôi sung sướng reo lên khi nhìn thấy tôi. - Iliusa đã sẵn sàng đọc thơ rồi đấy, người anh em ạ, - không ngờ đấy, đúng là quà tặng bất ngờ! Chú rất ngạc nhiên và đã nhờ người đi đón con bằng được và chờ con đến rồi mới cho đọc thơ đấy, người anh em ạ... Ngồi xuống đây với chú! Cùng nghe thơ với nhau nào. Foma Fomits này, ông nói thật đi, có phải ông đã mách nước cho bọn trẻ tìm cách làm cho anh bạn già này sướng cái bụng không? Nói cấm có sai đâu nhé!
Nếu chỉ căn cứ vào giọng điệu của chú tôi lúc đó thì có lẽ mọi chuyện đều ổn thỏa. Nhưng khốn nỗi chú tôi lại không có khả năng nhận biết chút gì qua nét mặt, như Mizintsikov đã nói; còn khi vừa trông thấy Foma, tôi đã bất giác đồng ý với Mizintsikov và cầm chắc là thế nào cũng có chuyện...
- Xin ngài đừng lo lắng cho tôi, thưa đại tá. - Foma Fomits đáp với giọng yếu ớt, giọng của một người đang tha thứ cho những kẻ không ưa mình. - Quà tặng bất ngờ thì cố nhiên là tôi rất hoan nghênh: nó thể hiện tình cảm và đức hạnh của các cháu. Thơ cũng rất có ích, thậm chí còn có lợi cho môn phát âm... Nhưng sáng nay tôi không còn bụng dạ nào mà nghĩ đến thơ nữa, Egor Iliits ạ: tôi phải cầu nguyện... ngài biết đấy... Tuy nhiên, tôi cũng sẵn sàng nghe cả thơ nữa.
Tôi tranh thủ chúc mừng Iliusa và hôn em.
- Chính thế, Foma ạ, ta xin lỗi nhé! Ta quên... dù rằng vẫn rất tin vào tình bạn của ông, Foma ạ! Con hôn em một cái nữa nào, Serioja! Con xem, một chú bé chững chạc chưa nào! Nào, bắt đầu đi, Iliusa! Bài gì bây giờ nào? Phải rồi, một khúc tri ân trang trọng nào đó, thơ Lomonosov nhỉ?
Và chú tôi cứ toáy lên. Ông háo hức và hoan hỉ tới mức không thể ngồi yên.
- Không, thưa cha, không phải thơ Lomonosov đâu ạ, - Sasenka cố nhịn cười, - vì cha là một cựu chiến binh từng chiến đấu với quân thù nên Iliusa đã có thơ về quân đội... Phong tỏa thành Pamba[2], thưa cha.
- Phong tỏa Pamba ư? Ồ, ta không nhớ... Thành Pamba ở đâu ấy nhỉ, con có biết không, Serioja? Một sự tích anh hùng đây.
Và chú tôi lại giục:
- Đọc đi nào, Iliusa! - Sasenka hạ lệnh.
Mười năm, Homes cầm quân... —
Iliusa cất lên một giọng non nớt, đều và rõ, đọc liền tù tì, không chấm không phẩy, kiểu trẻ con đọc bài học thuộc lòng, —
Mười năm, Homes cầm quân
Phong tỏa điện đài Pamba vững chắc,
Chỉ có sữa cầm hơi,
Vẫn vòng vây xiết chặt,
Cả quân đoàn một vạn tinh binh
Chung một lời thề, một đức kiên trinh:
Không mẩu bánh vẫn không rời chiến lũy!
- Thế cơ đấy! sao? Sữa gì mà lợi hại thế? - Chú tôi hét toáng lên, trố mắt nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên.
- Đọc tiếp, Iliusa, - Sasenka quát.
Ngày nào Homes - don Pedro
Cũng áo dài che mặt
Khóc than chí lớn không thành...
Sang năm thứ mười, địch phản công nhanh,
Toàn cơ ngũ chỉ còn mười chín mống...
- Vô lý! - chú tôi hớt hải kêu lên. - không thể như thế được! Chỉ có mười chín người sống sót, mà trước đó là cả một đạo quân khổng lồ! Thế là sao, hở người anh em?
Nhưng Sasa đã không nhịn được cười, em phá lên cười rũ rượi với tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, và tuy câu chuyện ở đây không đến nỗi quá buồn cười nhưng thấy em cười như vậy ai cũng phải cười theo.
- Thơ trào lộng đấy ạ, thưa cha, - em ré lên, thích thú kinh khủng với trò trẻ con của mình, - tác giả cố tình sáng tác ra như thế cho ai cũng phải buồn cười đấy ạ, thưa cha.
- À! thơ trào lộng! - chú tôi làm ầm ĩ, mặt tươi roi rói, - nghĩa là hài hước chứ gì! Để xem nào... Chính thế, chính thế, thơ trào lộng! Buồn cười thật, quá buồn cười: tướng nuôi quân bằng sữa, có tuyên thệ hẳn hoi! Cần tuyên thệ quá đi chứ! Rất sắc sảo - đúng không nào, Foma? Mẹ thấy chứ, thỉnh thoảng người ta cũng sáng tác thơ khôi hài như thế đấy, - đúng không, Serjei? Buồn cười cực! Nào, nào, Iliusa thế rồi sao?
Thu thập tàn quân,
Don Pedro đàng hoàng cao giọng:
“Mười chín anh em!
Hãy phất cờ gióng trống
Lui về cố quận nghỉ ngơi!
Không chiếm được Pamba
Không phải ngậm ngùi:
Thanh thản với lương tâm,
Vẹn toàn cùng danh dự,
Trọn câu nguyền
Húp sữa suốt mười năm!”
- Thộn thế không biết! - chú tôi lại ngắt lời, - tự an ủi là đã uống sữa được đến mười năm! Đức độ gì như thế? Cứ cừu mà thịt chứ, còn hơn để cho người phải mốc mồm ra! - Hay, hay đấy! Ta rõ rồi: thơ trào phúng, hoặc... còn gọi là châm biếm, đúng không? Mà biết đâu người ta đang muốn chĩa mũi dùi vào một ông tướng nước ngoài nào đó chăng? - chú tôi nhướn mày nheo mắt với tôi, - con nghĩ thế nào? Có điều đây là bức tranh trào phúng vô tư tao nhã, không xỏ xiên chọc ngoáy gì ai! Hay, hay! Và cái chính là tao nhã! Nào, Iliusa, tiếp tục! Hừ, lũ quỷ sứ này! - ông vừa nói vừa âu yếm nhìn Sasa và liếc trộm Nastenka lúc này đang đỏ mặt lên và cười tủm tỉm.
Được lời như được của
Mười chín bậc anh hào
Khặc khừ trên lưng ngựa
Giọng yếu, cố sức gào:
“Vinh quang và danh dự
Thuộc tổng soái Pedro!
Cùng Kasti - tòng sự!”
Chỉ có viện tăng lữ[3]
Dám giở giọng lè nhè
“Nếu tôi là thủ lĩnh
Nguyện sau trước một bề:
Chỉ rượu, thịt - xin thề!”
- Đấy, đấy! Ta đã chẳng nói thế hay sao? - chú tôi đắc chí hét lên. - Cả một đạo quân mới có được một người có đầu óc khôn ngoan mà lại là tăng lữ! Tăng lữ là gì hở Serjei: đại úy à?
- Tu sĩ chứ ạ, nhà tu hành ấy mà.
- À, đúng! Tăng lữ, thầy tăng chứ gì? Biết rồi, ta nhớ ra rồi! Ta biết các vị này ngay từ hồi đọc tiểu thuyết của Radklif[4] cơ. Các vị này thuộc nhiều dòng tu đấy, không phải một đâu, đúng không? Hình như còn có dòng Benedikt[5] nữa... Có dòng Benedikt không hở con?
- Thưa chú có đấy ạ.
- Hừm! Chú cũng nghĩ là có. Nào Iliusa, thế rồi sao nữa? Hay lắm, tuyệt!
Bất đồ nghe nói thế
Chủ soái cười ha ha:
“Thương hẳn cừu một chú
Cho chàng lỡm được ta!..”
- Đến lượt thủ lĩnh cũng không nhịn được cười! Đúng là một kẻ ngô nghê! Rút cuộc thì chính ông ta mới là kẻ nực cười! Lại còn cừu nữa chứ! Như thế chứng tỏ là họ vẫn có cừu, không hiểu thế nào mà ông ấy lại không cho thịt? Nào, Iliusa, tiếp! Hay lắm, tuyệt! Sâu cay đáo để!
- Hết rồi ạ, thưa cha!
- A! Hết! Mà cũng có còn phải làm gì nữa đâu cơ chứ, đúng không hở Serjei? Tuyệt vời đấy, Iliusa ạ! Kỳ như diệu điệu như gì! Hôn cha một cái nào, con yêu quý! Con giỏi lắm, con yêu của cha! Đúng ra là ai đã gà cho con đấy: con à, hả Sasa?
- Không ạ, Nastenka đấy ạ. Chúng con mới đọc được cách đây mấy hôm. Chị ấy còn đọc trước và bảo con: “Bài thơ này nhộn lắm! Sắp đến ngày lễ thánh của Iliusa rồi: chúng ta sẽ bắt nó học bài này để đọc. Có mà cười vỡ bụng”.
- Nastenka ư? Hay quá, cám ơn, cám ơn, - mặt bỗng đỏ bừng lên như đứa bé con, chú tôi lẩm bẩm. - Hôn cha một cái nữa nào, Iliusa! Con cũng hôn cha một cái nào, con giặc cái này, - ông nói và ôm lấy Sasenka, âu yếm nhìn vào mắt em.
- Con chịu khó chờ ít lâu nữa nhé, cũng sắp đến ngày lễ thánh của con rồi, - ông nói thêm, tuồng như không biết nói gì hơn trong lúc quá vui này.
Tôi quay ra hỏi Nastenka xem đó là thơ của ai.
- Ừ, đúng đấy! thơ của ai ấy nhỉ? - chú tôi nhớn nhác? - Chắc phải là một nhà thơ cự phách mới viết được như thế chứ, đúng không, Foma?
- Hừm!.. - Foma ậm ừ.
Suốt thời gian Iliusa đọc thơ, nụ cười giễu cợt nhạo báng không rời khỏi cặp môi ông ta.
- Cháu quên mất rồi, - Nastenka vừa đáp vừa đưa mắt nhìn Foma Fomits với vẻ rụt rè.
- Đó là thơ do ngài Kozma Prutkov sáng tác, thưa cha, in trong “Người đương thời” đấy ạ, - Sasenka đứng phắt lên.
- Kozma Prutkov! chịu, không biết, - chú tôi thốt lên, - chú Pushkin thì ta biết. Nhưng đó cũng là nhà thơ có tài đấy chứ, đúng không, Serjei? Và quan trọng hơn đó là một con người mang trong mình những phẩm chất cao quý - rõ ràng là như vậy! Thậm chí còn có thể là một sĩ quan... Ta khâm phục đấy! Còn tạp chí “Người đương thời” hết ý kia thì khỏi nói rồi! Nhất định phải đặt mua nếu những nhà thơ như thế vẫn có bài... Ta yêu các nhà thơ biết bao! bọn người sáng giá! chuyện gì cũng ngâm vịnh được! Con còn nhớ chứ, Serjei, chú đã được thấy ở chỗ con, ở Peterburg ấy, một người theo nghiệp văn chương đấy. Anh ta có cái mũi lạ lắm... đúng thế! Có! Ông bảo gì cơ, Foma?
Foma Fomits cứ lưỡng lự mãi rồi bỗng phá lên cười khanh khách.
- Không, tôi... có nói gì đâu... - ông ta nói, cố nhịn cười. - Ngài nói tiếp đi, Egor Iliits ạ, ngài nói tiếp đi! Tôi sẽ nói sau... Stepan Alekseevits đang khoái nghe ngài nói về những mối quan hệ quen biết của ngài với cánh văn thơ Peterburg đấy...
Đang ngồi đăm chiêu suốt buổi ở đầu đằng kia, Stepan Alekseits bỗng ngẩng đầu lên, mặt đỏ bừng và quay phắt người lại trong ghế bành với vẻ giận dữ.
- Này, Foma, đừng có mà cà khịa với ta đấy nhé, hãy để cho ta yên! - ông trợn trạo nhìn Foma Fomits bằng cặp mắt ti hí, đỏ đòng đọc. - Văn chương cái khỉ mốc gì? Chỉ cần Chúa cho mạnh chân khỏe tay là đủ sướng rồi, - ông lầu bầu trong miệng, - còn cả cái đám... văn chương thơ phú ấy thì tôi lạy cả mũ lẫn áo... toàn là bọn ăn phải bả Voltaire[6] hết!
- Cánh cầm bút là bọn ăn phải bả Voltarie phải không ạ? - Ejevikin đã có mặt ngay bên cạnh ông lớn Baktseev. - Ngài nói vậy thật quá chính xác, Stepan Alekseits ạ. Thì cái ông Valentin Ignatiits cũng mới bị người ta chụp cho cái mũ ấy đấy. Lạy Chúa, chính già này cũng bị người ta gọi là loại ăn phải bả Voltaire chứ lị, mà ai chả biết là lão thì đã viết lách được bao nhiêu... thôi thì cái mắm thối gì mà chả tại bác Voltaire! Ở ta toàn thế đấy ạ.
- Chả phải! - chú tôi nhận xét với vẻ quan trọng, - nói thế là nhầm! Voltaire chỉ có thể là một cây bút sắc sảo, ông chê cười những định kiến sai; ông chưa bao giờ có tư tưởng chống phá như thế cả! Tất cả những điều nhảm nhí về ông đều do những kẻ thù ghét ông loan truyền ra cả. Cơn cớ gì mà cái của nợ gì cũng đem đổ vấy cho ông, khốn khổ thân ông?
Tiếng cười cay độc của Foma Fomits lại rúc lên. Chú tôi đưa mắt nhìn ông ta với vẻ lo lắng và liền phát ngượng ra mặt.
- Quên mất! Ta suy nghĩ rất nhiều về các tạp chí đấy, Foma ạ, - ông nói với vẻ bối rối như để chữa ngượng. - Hôm nọ ông nhắc tôi phải đặt mua sách báo như vậy là chí phải, người anh em ạ. Chính tôi cũng nghĩ là phải đặt mua mà! Hừm! không thể khác, toàn là những thứ mở mang đầu óc cho mình! Anh có còn là đứa con của tổ quốc nữa hay không nếu anh không màng đến chuyện đặt mua sách báo? Chú nói thế có đúng không hở Serjei? Hừm... phải rồi!... trước mắt mình hãy “chơi” cái “anh” “Người đương thời” cái đã... Nhưng cháu biết không, theo chú thì những nội dung chính yếu đều được đăng trong cái tạp chí dày cộp, gọi là tạp chí gì ấy nhỉ? Nó có tờ bìa bọc màu vàng ấy...
- “Ký sự tổ quốc”, thưa cha.
- Đúng rồi, “Ký sự tổ quốc”, tên cũng đã đủ hay rồi, Serioja nhỉ? Ta có thể hình dung là cả tổ quốc đang ngồi ghi ghi chép chép... Một mục đích quá ư cao cả! một tạp chí cực kỳ bổ ích! Mà nó mới dày chứ! Đấy cứ phải chơi cái loại xe thổ mộ[7] như thế mới đáng mặt tạp chí chứ! Còn nội dung của nó thì cứ gọi là lác mắt... Mới đây chú có đến một nơi, thấy có cuốn sách trên bàn mới tò mò giở ra xem, thế là ngốn luôn một mạch ba trang liền. Đúng là lác mắt thật, người anh em ạ! Con biết chứ, cái gì cũng cắt nghĩa đến nơi đến chốn: nói giả dụ như đâu là ý nghĩa của các từ chổi, xẻng, gầu xúc, que thông lò? Cứ như chú thì chổi chỉ là cái chổi thôi; que thông lò cái que thông lò thôi! Chả phải thế đâu, người anh em ạ, còn lâu nhé! Theo nhà thông thái thì cái que thông lò không chỉ là cái que thông lò mà còn là một biểu tượng, một câu chuyện thần thoại hay một cái gì đó mà chú không nhớ... Thế chứ lị! Đúng là trình độ!
Tôi không biết đích xác là Foma Fomits toan phản ứng ra sao trước cảm nhận mới mẻ đó của chú tôi nhưng đúng lúc đó thì Gavrila xuất hiện, đứng cúi đầu bên ngưỡng cửa.
Foma Fomits đưa mắt nhìn lão một cách ý tứ.
- Xong rồi chứ, Gavrila? - ông ta hỏi bằng giọng nói không được khỏe như quả quyết.
- Xong rồi ạ, - Gavrila rầu rĩ đáp và thở dài.
- Cái tay nải của ta lão vứt hộ lên xe rồi chứ?
- Rồi ạ.
- Thôi được, ta cũng sẵn sàng rồi! - Foma Fomits nói và từ từ rời ghế đứng lên. Chú tôi ngạc nhiên nhìn ông ta. Tướng quân phu nhân đứng phắt lên và hớt hải nhìn quanh.
- Bây giờ cho tôi xin phép, thưa đại tá, - Foma cất tiếng với vẻ đĩnh đạc, - yêu cầu ngài tạm gác lại cái đề tài lý thú về hình tượng những cái xẻng đốt lò trong văn chương; đề tài này ngài có thể tiếp tục đi sâu khi không có tôi. Trong giây phút vĩnh biệt ngài tôi muốn được nói với ngài mấy lời cuối cùng...
Sợ hãi, ngạc nhiên, cử tọa ngồi ngây hết cả ra như phỗng.
- Foma! Foma! ông làm sao thế? Ông sửa soạn đi đâu đấy? - cuối cùng chú tôi hét toáng lên.
- Tôi sửa soạn rời khỏi nhà ngài, thưa đại tá, - Foma Fomits nói với giọng bình thản như không. - Tôi đã quyết chí ra đi, muốn đến đâu thì đến, thành thử tôi đã bỏ tiền túi ra mua một cỗ xe ngựa đơn sơ của cánh mugic. Bây giờ trong xe đang lăn lóc chiếc tay nải của tôi; chẳng nhiều nhặn gì: chỉ có mấy quyển sách gối đầu giường, hai bộ quần áo - thế thôi! Tôi nghèo, Egor Iliits ạ, nhưng bây giờ không có gì trên đời có thể bắt tôi cầm vàng cầm bạc của ngài, những thứ mà tôi đã khước từ ngay từ hôm qua!...
- Nhưng, lạy Chúa, thế là thế nào hở Foma? nghĩa lý làm sao? - chú tôi hét, mặt bợt ra.
Tướng quân phu nhân ré lên một tiếng thất thanh, đưa mắt nhìn Foma Fomits với vẻ chán chường, vươn hai tay về phía ông ta. Ả Perepelisina vội lao ra đỡ. Những người phụ nữ được cưu mang vẫn ngồi không nhúc nhích. Ông lớn Baktseev ì à ì ạch đứng lên.
- Đấy, vở kịch đã mở màn! - Mizintsikov thì thầm vào tai tôi.
Có tiếng sấm từ xa dội lại: cơn dông bắt đầu ập tới.
❀ ❀ ❀
[1] Paul de Kock (1793-1871) - nhà tiểu thuyết Pháp viết nhiều về đời sống của tầng lớp thị dân nghèo khổ ở Paris, được ưa chuộng ở Nga vào thế kỷ 19.
[2] Một bài thơ của A.K. Tolstoi ra mắt trong phụ trương “Tổng hợp văn” của tạp chí “Người đương thời” dưới bút danh Kozma Prutkov.
[3] Một chức danh trong quân đội Sa hoàng, thuở trước đặc trách “phần hồn” ở các đơn vị.
[4] Anna Radklif (1764-1823) - nữ văn sĩ người Anh, tác giả của những tiểu thuyết được gọi là tiểu thuyết gotic (tiếng Ý: Gotico - đại ý là khắc họa công phu) chuyên đi sâu vào “những nỗi niềm thầm kín và đáng sợ” được dịch và xuất bản ở Nga vào đầu thế kỷ 19.
[5] Một dòng công giáo do Benedikt Nursisk sáng lập vào khoảng năm 530 ở Italia, có ảnh hưởng đặc biệt vào khoảng thế kỷ 10 - thế kỷ 11.
[6] Tiếng Nga là Volteriansi nhằm chỉ những “phần tử” có tư tưởng chống đối triều đình, bài xích giáo hội - trên quan điểm Chính thống giáo Nga thời trước.
[7] Loại xe nhiều ngựa kéo, nhiều chỗ ngồi, thường xuyên chở khách và đưa thư - phương tiện vận tải phổ biến ở châu Âu trước khi có ô tô, tàu hỏa.