Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V - FOMA FOMITS ĐEM LẠI HẠNH PHÚC CHUNG
V FOMA FOMITS ĐEM LẠI HẠNH PHÚC CHUNG

❊ ❊ ❊

- Người ta đưa tôi đi đâu thế này? - cuối cùng Foma cất tiếng với giọng một nghĩa sĩ dám chết vì công lý.

- Đồ hèn nhát thối thây! - Mizintsikov thì thào bên tai tôi, - cứ như không trông thấy người ta đưa gã đi đâu ấy. Sắp sửa uốn éo đấy!

- Ông đang ngồi với bọn ta, Foma Fomits ạ, ông đang có mặt giữa những người thân thiết! - chú tôi hét lên. - Tươi tỉnh lên đi, yên tâm đi! Ừ, đúng đấy, đi thay quần áo luôn, không là ốm đấy, Foma ạ... À này, có muốn tẩm bổ tí chút không? này nhé... một ly nhỏ loại gì đó, cho nó ấm người...

- Có malaga[1] thì tôi xin, - Foma Fomits cất giọng thều thào, lại nhắm mắt vào.

- Malaga ư? Chưa chắc chúng ta đã có! - chú tôi nói, lo lắng đưa mắt nhìn Praskovia Ilinitsna.

- Làm gì có chuyện! - Praskovia Iliitsna đáp, - còn những bốn chai cơ, - và lập tức khua chìa khóa kêu rủng rẻng, cô chạy đi lấy malaga trong tiếng hò hét của tất cả các bà các chị đang bâu lấy Foma Fomits như ruồi bâu đĩa mứt. Ngược lại, ông lớn Baktseev lại trở nên quá đỗi bất bình.

- Vòi malaga cơ đấy! - ông lầu bầu rõ to, - rồi còn vòi rượu vang hảo hạng nữa cho mà xem! Đấy, thử hỏi bây giờ còn có ai được uống malaga như cái hạng đốn mạt ấy không? Hừ, ta chịu các người, cả một đám dấm dớ! Ờ, mà ta còn chường mặt ra ở đây làm gì nữa? còn mong ngóng gì ở đây nữa?

- Foma! - chú tôi mở đầu câu chuyện, ấp a ấp úng, - thôi đấy bây giờ... ông đã được nghỉ ngơi một chút và lại ngồi cùng với cả nhà... có nghĩa là... ta muốn nói... Foma ạ, rằng ta hiểu là... sau khi đã buộc tội, như người ta thường nói, một sinh linh bé bỏng, còn trong trắng ngây thơ...

- Đâu, đâu, tuổi thơ của tôi đâu? - Foma Fomits bắt chuyện một cách ngô nghê như đang cơn mê sảng, - những ngày vàng ngọc của tôi đâu? Đâu rồi, thời ấu thơ vàng ngọc của tôi, những ngày mà tôi mới chỉ là một chú bé hồn nhiên, xinh xắn, mê mải đuổi theo một cánh bướm mùa xuân trên những cánh đồng? đâu rồi, cái thời thơ mộng ấy đâu rồi? Hãy trả lại thời bé dại cho tôi, hãy trả lại cho tôi!..

Và dang rộng hai tay, Foma lần lượt hỏi tất cả mọi người, cứ như thời bé dại của ông ta đang nằm trong túi áo túi quần ai đó giữa chúng tôi. Baktseev nghe hỏi mà lộn ruột.

- Ông ấy đòi hỏi cái của nợ gì thế không biết! - ông cảu rảu. - Các vị quẳng cho ông ấy cái thời bé dại ấy đi! Ông ấy đang muốn hôn hít nó hay sao ấy? Chắc là hồi bé ông ấy cũng đã là một đứa bất trị như bây giờ rồi! chắc chỉ thế thôi.

- Foma!... - chú tôi toan trở lại khúc dạo đầu.

- Đâu rồi, đâu rồi, những ngày đẹp đẽ ấy, khi tôi còn tin vào tình yêu và còn yêu quý con người? - Foma hét lên, - khi tôi còn ôm lấy con người và khóc trên ngực con người? còn bây giờ thì sao nhỉ? tôi đang ở đâu đây? tôi đang ở đâu?

- Ông đang ngồi với bọn ta, Foma ạ, ông hãy yên tâm! - chú tôi hét lên, - ta đang muốn nói với ông thế này, Foma ạ...

- Bây giờ ngài im đi cho thì quý quá đấy ạ, - Perepelisina lầm bầm, cặp mắt lươn lóe lên dữ tợn.

- Tôi đang ở đâu? - Foma Fomits nói tiếp, - chung quanh tôi là ai? Đó là những con trâu con bò đã chĩa sừng vào người tôi. Mi là cái chi chi vậy hở cuộc đời? Anh cứ sống đi, cứ sống đi, cứ tạm bằng lòng với cái thân phận bơ vơ, tủi nhục, hèn hạ, vất vưởng của mình đi, và chỉ đến ngày đắp mộ cho anh người ta mới chợt nhớ ra, và nắm xương tàn của anh mới được người đời lo cho một tấm bia chặn xuống!

- Chết chửa, ông ấy lại cà kê sang chuyện mộ chí rồi! - Ejevikin vỗ tay đánh đét và nói khẽ.

- Ồ, các vị đừng dựng mộ chí cho tôi đấy! - Foma hét lên, - đừng dựng mộ chí cho tôi làm gì cả! Tôi không cần mộ chí! Các vị hãy dựng nó cho tôi ngay giữa trái tim mình, ngoài ra không cần gì hơn nữa, không cần!

- Foma! - chú tôi ngắt lời ông ta, - đủ rồi! yên đã nào! nói chuyện mộ chí làm quái gì. Ông hãy nghe ta nói đã... Ông thấy đấy, Foma, ta hiểu rằng có thể là ông cũng vì ta mới phải sôi cơm nóng nước lên như thế; nhưng ông đã vì cái tốt cái hay mà đi đến chỗ quá đà, Foma ạ, - ta đoan chắc với ông là ông đã sai lầm, Foma ạ...

- Ngài có thôi đi không ạ? - Perepelisina lại can gián, - có phải ngài đang muốn bóp chết một con người bất hạnh vì người ta đang nằm trong tay ngài không ạ?...

Nghe Perepelisina nói thế, tướng quân phu nhân cũng giật mình, vậy là cả phe cánh của người lập tức hùa theo, cả bọn xua tay rối rít hòng chặn họng chú tôi.

- Anna Nilovna, cô im đi thì có ấy, còn tôi thì tôi biết tôi đang nói gì! - chú tôi đáp một cách cứng cỏi. - Đây là một việc thiêng liêng! việc bảo toàn danh dự và công lý. Foma! ông là người chín chắn, ông phải xin lỗi người thiếu nữ rất mực cao quý đã bị ông nhục mạ ấy ngay bây giờ!

- Cô nào cơ? cô nào mà bị tôi nhục mạ nào? - Foma vừa hỏi vừa đưa mắt băn khoăn nhìn hết người nọ đến người kia như đã quên hết mọi chuyện và không hiểu đang có chuyện gì.

- Thế đấy, Foma ạ, nếu bây giờ ông thành thật nhận lỗi thì tôi thề với ông là ta sẽ quỳ gối xuống dưới chân ông, và lúc đó...

- Tôi nhục mạ ai ấy nhỉ? - Foma gào lên, - thiếu nữ nào cơ? Cô ấy đâu? người thiếu nữ ấy đâu? Xin ngài hãy nhắc lại cho tôi một điều gì đó về người ấy?

Ngay lúc đó thì Nastenka, vẻ bối rối và sợ sệt, đã đến bên Egor Iliits và đưa tay giật tay áo ông.

- Thôi, Egor Iliits ạ, kệ ông ấy, chả cần xin lỗi nữa đâu! để làm gì nữa nào? - cô ta nói với giọng van vỉ. - Vứt bỏ hết đi.

- A! tôi nhớ ra rồi! - Foma Fomits bỗng hét lên. - Giời đất ơi! tôi nhớ ra rồi! Ồ, các vị giúp tôi với chứ, giúp tôi nhớ lại đi nào! - ông ta van vỉ với vẻ xúc động ghê gớm. - Các vị hãy nói cho tôi biết: có đúng là người ta đã tống cổ tôi ra khỏi đây như đánh đuổi một con chó ghẻ gớm ghiếc hay không? Có phải là sấm sét đã làm tôi bạt vía không? Có phải người ta đã liệng tôi từ trên thềm xuống dưới kia không? Có đúng không, có đúng thế không?

Tiếng kêu khóc rầm rĩ của các bà các chị đã là câu trả lời đanh thép đối với Foma Fomits.

- Thế! Thế! - ông ta xác nhận, - tôi nhớ ra rồi... giờ thì tôi đã nhớ ra là sau khi bị sấm chớp làm cho kinh hồn bạt vía và ngã ngồi xuống mương thì tôi đã ba chân bốn cẳng chạy về đây trong tiếng sấm đì đùng để làm nốt phận sự của mình rồi một đi không trở lại. Các vị đỡ tôi đứng lên đi! Lúc này dù có yếu sức đến mấy tôi vẫn phải làm tròn bổn phận của tôi.

Mọi người lập tức đỡ ông ta rời ghế bành đứng lên. Foma đã vào vai diễn giả, giơ một tay lên.

- Thưa ngài đại tá! - ông ta hét lên, - bây giờ tôi tỉnh hẳn rồi, sấm sét vẫn chưa hủy hoại trí lực của tôi, thực ra thì tai phải vẫn còn bị váng, có thể chỉ do sấm một phần, chủ yếu là do ngã trên thềm xuống... Nhưng nói làm gì! Cái tai phải của Foma Fomits thì có nghĩa lý gì đối với ai đâu.

Câu cuối cùng được Foma làm toát lên cái mỉa mai chua chát lúc này còn ẩn hiện cả trong nụ cười thiểu não trên môi - một nỗi niềm thê thảm đến mức lại làm bật lên tiếng rên rỉ ở những người phụ nữ vốn dễ chạnh lòng trước cảnh bi thương. Tất cả bọn họ đều đưa mắt nhìn chú tôi ra chiều trách móc, có người còn tỏ ra tức giận khiến ông đã có phần nhụt chí trước phản ứng chung. Mizintsikov thây kệ sự đời, bỏ đến bên cửa sổ. Baktseev thúc khuỷu tay vào người tôi mỗi lúc một mạnh hơn, ông chẳng đứng yên được nữa.

- Bây giờ cả nhà hãy lắng nghe lời xưng tội của tôi! - Foma cất cao giọng, lướt nhìn cử tọa với ánh mắt tự hào và quả quyết, - và qua đó hãy quyết định số phận tên Opiskin khốn khổ này. Egor Iliits! tôi đã để ý theo dõi ngài từ lâu đấy, tôi đã hồi hộp đến lặng im mà theo dõi, và nắm được hết, nhìn thấy hết, trong lúc ngài vẫn không ngờ được là mình đã bị tôi theo dõi. Thưa ngài đại tá! có thể là tôi đã sai lầm, nhưng tôi đã biết được thói ích kỷ của ngài, lòng tự ái không bờ bến của ngài, thói hiếu sắc quái dị của ngài, vậy thử hỏi ai là người dám buộc tội tôi trong việc tôi cứ nặng lòng lo ngại cho danh tiết một cô nàng còn quá đỗi ngây thơ?

- Foma, Foma! rông dài quá đấy, Foma ạ! - chú tôi hét lên, đưa mắt lo lắng nhìn Nastenka với vẻ đau đớn hiện rõ trên gương mặt.

- Đối với tôi, sự ngây thơ và nhẹ dạ của cô này đều là chuyện đáng lo, nhưng lo nhất là sự ngờ nghệch, thiếu từng trải của cô nàng, - Foma nói tiếp, cứ như điếc. - Tôi nhận thấy mối cảm tình dịu ngọt đang nẩy nở trong trái tim cô ấy như bông hồng lúc sang xuân và bất giác nhớ tới câu nói bất hủ của Petrark “sự ngây thơ thường đứng bên bờ vực thẳm”[2]. Tôi thở vắn than dài và tuy đã sẵn sàng đem cả mạng sống của mình ra để bảo lãnh cho cô bé còn trong trắng như hạt ngọc trai kia, nhưng liệu có ai có thể đứng ra bảo lãnh ngài cho chính tôi không hở Egor Iliits? Vì đã biết rõ thói ham hố cuồng dại của ngài, biết được rằng ngài sẵn sàng đánh đổi tất cả vì những thú vui chốc lát, tôi bỗng rơi vào trạng thái hoảng sợ và lo lắng khôn nguôi cho số phận của một trong những cô nương cao quý vô ngần...

- Foma! ông đã nghĩ như thế thật ư? - chú tôi hét lên.

- Tôi đã chăm chú theo dõi ngài trong một tâm trạng hồi hộp đến lặng tim. Muốn biết tôi đã từng khổ sở ra sao, xin hãy tìm đến với Shakespeare: ngài ấy sẽ cho ngài thấy hết nỗi lòng tôi qua “Hamlet”. Tôi đã biến thành một kẻ đa nghi và xấu tính. Trong trạng thái nơm nớp lo âu và bực bõ như vậy, tôi thấy mọi thứ trên đời toàn một màu đen (không phải cái “màu đen” được ngợi ca trong thiên tình sử nổi tiếng đâu[3], - xin ngài hãy tin tôi!) Chính vì lẽ đó mà hồi ấy ngài cũng đã thấy tôi muốn tống khứ cô ấy ra khỏi cái nhà này: tôi muốn cứu cô ấy đấy ạ; chính vì lẽ đó mà suốt những ngày gần đây ngài thấy tôi như một thằng khùng, tôi điên tiết lên với cả loài người đấy ạ. Ôi! ai là người có thể hòa giải tôi với loài người được bây giờ? Có thể tôi đã có phần nghiệt ngã và vô lối với khách khứa của ngài, với cậu cháu của ngài, với ông lớn Baktseev, cứ đi vặn vẹo ngài ấy về thiên văn học; nhưng thử hỏi ai là người dám báng bổ nỗi lòng tôi lúc bấy giờ? Lại dẫn Shakespeare, tôi xin nói rằng trước mắt tôi lúc đó, tương lai đã là một vực sâu thăm thẳm đục ngầu mà dưới đáy đã chực sẵn một con cá sấu[4]. Tôi cảm thấy rằng việc cảnh báo tai họa cho đời chính là nghĩa vụ của tôi, thiên chức của tôi, - vậy mà sao? ngài đã không hiểu được những ý nguyện cao quý vô ngần nung nấu mãi hồn tôi và trong suốt thời gian đó đã báo đáp tôi bằng sự giận hờn, vô ơn, phỉ báng, sỉ nhục...

- Foma! nếu thế thì... tất nhiên, ta thông cảm... - chú tôi hét lên với tất cả niềm xao xuyến.

- Nếu ngài thực sự thông cảm với tôi, thưa đại tá, xin ngài hãy vui lòng nghe tôi nói nốt, chớ ngắt lời tôi. Tôi xin nói tiếp: tôi chỉ phải cái tội là đã quá nhức nhối về số phận và hạnh phúc của cô bé đó; vì so với ngài, cô ấy chỉ mới là một đứa trẻ mà thôi. Trong thời gian đó, lòng nhân ái cao cả đã biến tôi thành con quỷ đa nghi và dữ tợn, lúc nào cũng chỉ chực lăn xả vào người khác để hành hung. Và ngài có biết là mọi hành vi của ngài dường như đã cố tình khiến tôi mỗi lúc một thấy mình lo lắng thật không thừa và cho tôi thấy tất cả những mối nghi ngờ của tôi đều cấm có sai? Ngài có biết là hôm qua khi ngài vung tiền ra để gạt bỏ tôi, tôi đã nghĩ: “Ngài ấy dẫy mình ra cũng có nghĩa là rũ bỏ lương tâm để dễ bề phạm tội đấy thôi...”

- Foma, Foma! đúng là hôm qua ông đã nghĩ vậy sao? - chú tôi hét lên với vẻ kinh hoàng. - Lạy Chúa, thật không ngờ đấy!

- Đấng tối thượng đã gieo vào lòng tôi những mối nghi ngờ đó, - Foma nói tiếp. - Và xin ngài hãy tự xét xem là tôi còn có thể nghĩ gì khi giời xui đất khiến thế nào mà tối hôm qua tôi lại dẫn xác đến bên cái ghế định mệnh ấy ở ngoài vườn? Tôi đã cảm thấy gì trong những giây phút ấy - trời ơi! - khi rốt cuộc đã tận mắt thấy rõ rành rành là chỉ trong chốc lát, những mối nghi ngờ của mình đã được xác minh một cách đầy thuyết phục? Nhưng tôi vẫn còn hy vọng, cố nhiên là hy vọng mong manh, nhưng dù sao vẫn là hy vọng - vậy mà sao? Sáng nay chính ngài đã làm nó tan thành mây khói! Ngài gửi thư cho tôi, cho biết ý định lấy vợ; van tôi đừng để lộ chuyện... “Nhưng tại sao - tôi nghĩ bụng, - tại sao phải đến đúng lúc này, khi ta đã bắt được quả tang, ngài ấy mới viết thư, mà không viết từ trước? Tại sao ngài ấy lại không chạy đến với ta từ trước, hớn hở và tươi đẹp - tình yêu vẫn làm mặt mày ta rạng rỡ đấy thôi, - tại sao lúc đó ngài ấy lại không lao vào vòng tay ấm áp của ta, không khóc trên ngực ta bằng những giọt nước mắt trào dâng trước niềm hạnh phúc vô biên và chia sẻ với ta tất cả mọi điều? Hay tôi là một con cá sấu chỉ có thể xơi tái ngài mà không có thể góp cho ngài một lời khuyên bổ ích? Hay tôi là con bò cạp chỉ có thể đốt chết ngài mà không thể vun đắp hạnh phúc cho ngài? “Mình là bạn của ngài ấy hay chỉ là đồ sâu bọ?” - đó chính là điều mà sáng nay tôi đã tự hỏi! “Rút cuộc thì nhằm mục đích gì, - tôi nghĩ, - nhằm mục đích gì mà ngài ấy lại viết thư triệu cậu cháu từ kinh đô về và làm mối cô bé cho cậu ta, nếu không phải là để đánh lừa cả chúng ta lẫn cậu cháu nhẹ dạ, trong lúc vẫn ngấm ngầm thực hiện những ý đồ đen tối?” Không, thưa ngài đại tá, nếu có người nào đó khiến cho tôi cả quyết rằng mối tình nồng thắm giữa hai người là tội lỗi thì đó chính là ngài, và chỉ có ngài thôi! Hơn nữa, ngài còn có tội với cô gái ấy vì qua sự vụng về và thói đa nghi vị kỷ của ngài, ngài đã làm cho cô gái ấy, một thiếu nữ trong trắng và đức hạnh, phải mắc tiếng oan và bị nghi ngờ kéo dài!

Chú tôi cúi đầu im lặng: lời hùng biện của Foma rõ ràng đã đè bẹp mọi phản ứng của ông, và ông đã tự thấy mình có lỗi về mọi mặt. Tướng quân phu nhân và vây cánh của người lặng lẽ và kính cẩn lắng nghe Foma nói, còn Perepelisina thì đưa mắt hằm hằm nhìn cô nàng Nastenka tội nghiệp.

- Phiền muộn, chán chường, bực dọc, - Foma nói tiếp, - hôm nay tôi đã khóa trái cửa giam mình lại trong phòng để dốc lòng cầu nguyện và Chúa đã soi đường chỉ lối cho tôi! Vậy là tôi quyết định thử lại ngài lần cuối và thử một cách công khai. Có thể là tôi đã tỏ ra quá nóng nảy, quá thẳng thắn; nhưng đáp lại thiện chí cao đẹp của tôi, ngài đã ném tôi ra ngoài cửa sổ! Lúc rơi xuống đất, tôi thầm nghĩ: “Làm ơn nên oán xưa nay chuyện thường!” Người tôi đập xuống đất rồi sau đó ra sao thì tôi chỉ còn nhớ mang máng!

Tiếng kêu than đã ngắt lời Foma Fomits ngay giữa đoạn hồi tưởng bi thương này. Tướng quân phu nhân toan lao thẳng đến bên ông ta với chai malaga vừa giật được từ tay Praskovia Iliitsna, nhưng Foma đã nghiêm nghị xua tay khước từ cả rượu lẫn người.

- Khoan! - ông ta quát, - tôi còn phải kết thúc. Sau khi tôi ngã còn có chuyện gì nữa thì tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng lúc này, người vẫn ướt nguyên và đã bắt đầu ngây ngấy sốt, tôi đứng đây để tác hợp cho hai người thành đôi lứa. Thưa đại tá! theo nhiều dấu hiệu mà bây giờ tôi không muốn giải thích, rốt cuộc tôi đã khẳng định được rằng tình yêu của hai người là trong sáng, thậm chí còn cao cả nữa, tuy đã từng bị mắc tiếng oan. Là kẻ bị bạo hành, bị hạ nhục, bị nghi ngờ là đã có hành vi nhục mạ một cô nương mà giờ đây vì danh tiết của người, tôi nguyện hy sinh đến giọt máu cuối cùng trên tinh thần một hiệp sĩ thời trung cổ, tôi quyết định làm cho các vị thấy được ngay bây giờ cách rửa hận của Foma Opiskin. Hãy đưa tay cho tôi, thưa ngài đại tá!

- Xin vui lòng, Foma! - chú tôi hét lên, - và một khi ông đã hoàn toàn sáng tỏ về phẩm giá của con người rất mực cao quý ấy thì... hẳn là... đây, tay của ta đây, với cả niềm ân hận của ta đây...

Và chú tôi hồ hởi đưa tay cho ông ta, không hề nghĩ là việc đó có thể dẫn đến việc gì khác.

- Cô cũng đưa tay cho tôi, - giọng đã hụt hơi, nhưng Foma vẫn vừa nói vừa rẽ đám đông phụ nữ vây quanh để đến bên Nastenka.

Nastenka bối rối, ngượng nghịu và đưa mắt nhìn Foma với vẻ rụt rè.

- Ra đây, ra đây, em bé! Đây là việc cần thiết cho hạnh phúc của hai người, - Foma nói thêm với giọng âu yếm, hai tay vẫn giữ chặt tay chú tôi.

- Ông ấy đang bày trò gì vậy? - Mizintsikov thốt lên.

Vừa sợ vừa run, Nastiia chầm chậm đến bên Foma và rụt rè đưa bàn tay bé nhỏ ra cho ông ta.

Foma đỡ lấy tay cô ta và đặt lên tay chú tôi.

- Tôi tác hợp và cầu chúc vạn sự tốt lành cho đôi lứa, - ông ta cất tiếng với giọng cực kỳ trịnh trọng, - và nếu lời chúc phúc của kẻ đau khổ khốn cùng này thấu tới trời xanh thì xin cặp uyên ương hãy trọn đời hạnh phúc bên nhau! Đấy, Foma Opiskin phục thù như vậy đấy! Urra!

Ai ai cũng cảm thấy vô cùng sửng sốt. Cái kết cục đã hiện ra bất ngờ đến nỗi ai nấy đều ngây hết cả ra như phỗng. Tướng quân phu nhân bỗng đờ ra, mồm há hốc, hai tay vẫn ôm chặt chai malaga. Perepelisina mặt tái dại đi và run bắn lên vì tức giận. Những người phụ nữ được cưu mang vỗ tay đen đét xong lại ngồi ngay như tượng. Chú tôi run lên và đã muốn nói câu gì đó nhưng không thể. Nastiia mắt tái mét, ngây ra như người mất hồn rồi rụt rè cất tiếng “không được đâu”... - nhưng đã muộn. Với Baktseev, công bằng mà nói thì ông ta là người đầu tiên hô “ura” theo Foma Fomits, tiếp đến là tôi, rồi đến cái giọng kim lảnh lói ré lên đến váng cả tai của Sasenka, em vừa hô vừa lao tới ôm chầm lấy cha; rồi Iliusa, rồi Ejevikin; sau nốt là Mizintsikov.

- Ura! - Foma lại hô vang lần nữa, - urra! Nào, các con yêu quý của ta, hãy quỳ xuống trước mặt nương nương, một trong những người mẹ dịu hiền nhất trên đời! Các con hãy xin người chúc phúc cho và, nếu cần, ta cũng sẽ quỳ ngay xuống trước mặt nương nương, cùng các con...

Chú tôi và Nastiia lúc này vẫn chưa dám nhìn nhau, cùng hớt hải như nhau, tuồng như vẫn chưa hiểu thế này là thế nào, liền quỳ thụp xuống trước mặt tướng quân phu nhân; mọi người xúm cả vào với họ; nhưng bà già vẫn đứng ngây ra với vẻ bàng hoàng, tuyệt nhiên không biết phải làm gì. Lần này Foma lại là người đứng ra chữa cháy: ông ta đích thân quỳ xuống trước mặt nữ ân nhân. Cử chỉ đó lập tức xua tan mọi băn khoăn nghi ngại của người. Cuối cùng, người đã nói trong nước mắt là người xin chấp thuận. Chú tôi đứng phắt lên ôm chặt lấy Foma.

- Foma, Foma!... - ông cất tiếng nhưng giọng tắc nghẹn không nói được nữa.

- Sâm-banh đi! - Stepan Alekseevits gào lên. - Urra!

- Không đâu ạ, sâm-banh đâu bây giờ, - Perepelisina phản đối, ả đã kịp định thần lại và hình dung ra đủ việc phải làm, việc gì trước việc gì sau, - bây giờ phải thắp nến lên cầu Chúa đã chứ ạ, phải cầu nguyện trước tượng thánh, rồi cầu phúc cho đôi trẻ nữa, con chiên ngoan đạo ai mà chả phải làm thế ạ...

Mọi người nhất nhất tuân theo lời chỉ giáo khôn ngoan; một cảnh tượng rộn ràng tíu tít lập tức bày ra. Phải thắp nến ngay. Stepan Alekseevits bắc ghế trèo lên thắp nến trước tượng thánh nhưng ghế bị gãy ngay làm ông loạng choạng suýt ngã. Ông lặng lẽ rút lui, lễ phép nhường chỗ cho Perepelisina. Ả Perepelisina gầy nhom làm loáng cái là xong: nến cháy phừng phừng. Bà nữ tu và những người phụ nữ được cưu mang bắt đầu làm dấu thánh và quỵ lạy trước khám thờ. Người ta gỡ tượng Đấng Cứu Thế xuống trao cho tướng quân phu nhân. Chú tôi và Nastiia lại quỳ xuống và nghi lễ được hoàn tất theo khẩu lệnh tôn nghiêm của Perepelisina: “Bai bái! Hôn tượng thánh! Hôn tay lão mẫu!” Tiếp sau cô dâu chú rể, ông lớn Baktseev cũng thấy mình có bổn phận kính cẩn hôn lên tượng thánh, tiện thể hôn tay bà mẹ chồng luôn. Ông thực bụng hoan hỉ, vui mừng khôn xiết.

- Urra! - ông lại hô vang. - Nào bây giờ chúng ta sẽ cùng đến với sâm-banh!

Quả thật mọi người đều quá đỗi hân hoan. Tướng quân phu nhân khóc, nhưng đã là khóc vì vui sướng: trong mắt người, cặp uyên ương do Foma tác hợp bỗng chốc trở nên đoan chính, mang đầy ý nghĩa thiêng liêng, - nhưng cái chính là người cảm thấy Foma Fomits đã tỏ ra quá phi thường và như vậy ông ta sẽ ở lại với người mãi mãi. Tất cả những người phụ nữ được cưu mang, chí ít là bề ngoài, đều hòa nhập với cả nhà trong cái vui chung. Chú tôi lúc thì quỳ xuống hôn tay mẹ, lúc thì ôm chầm lấy tôi, lấy Baktseev, Mizintsikov và Ejevikin. Iliusa suýt chết ngạt trong vòng tay cha. Sasa ôm chầm lấy Nastenka để hôn, Praskovia Iliitsna nước mắt đầm đìa. Thấy thế, ông lớn Baktseev vội đến hôn tay cô. Lão Ejevikin mủi lòng đứng khóc ở một góc nhà, chấm mắt bằng chiếc khăn kẻ ô hôm qua. Ở một góc khác, Gavrila cũng đang sụt sịt và đưa mắt nhìn Foma Fomits với vẻ khâm phục, còn Falalei thì cứ khóc rống lên và lần lượt hôn tay tất cả mọi người. Tất cả lắng lại trong một không khí dạt dào xúc động. Chưa ai muốn nói gì, phân giải điều gì; dường như mọi chuyện đã được nói hết; chỉ còn những tiếng reo vui bật ra từ lồng ngực. Chưa ai hiểu được do đâu mà mọi thứ bỗng hình thành một cách chóng vánh và đơn giản nhường kia. Mọi người chỉ biết rằng mọi chuyện đều do một tay Foma Fomits tạo lập và đây là sự kiện sống còn và bất hủ.

Nhưng chưa đầy năm phút sau khi niềm hạnh phúc chung hiển hiện, Tatiana Ivanovna bỗng xuất hiện giữa chúng tôi. Bằng cách nào, bằng tài đánh hơi nào mà chị ta có thể nắm bắt được chuyện tình yêu và đám cưới một cách nhạy bén đến thế, trong lúc vẫn đang ngồi ở tầng trên? Chị lướt vào phòng với nét mặt rạng rỡ, mắt rớm lệ mừng vui, trang phục duyên dáng (chị đã kịp thay đồ trên gác) và vừa hét vừa lao tới ôm chầm lấy Nastenka.

- Nastenka, Nastenka! Em yêu ông ấy mà chị không biết đấy, - chị ta hét lên. - Trời ơi! họ đã yêu nhau, họ đã âm thầm đau khổ, âm thầm! Người ta đã theo dõi họ! Đúng là một thiên tình sử! Nastiia, em nói thật với chị đi: chả lẽ em lại đi yêu cái gã điên điên rồ rồ ấy thật hay sao?

Thay cho câu trả lời, Nastenka đã ôm hôn bà chị.

- Trời ơi, đúng là một thiên tình sử mê ly! - và Tatiana Ivanovna khoái chí vỗ tay đen đét. - Chị bảo nhé, Nastiia, thiên thần của chị: tất cả bọn đàn ông ấy, tất tần tật, đều là loại vô ơn, thuần ác ôn thôi, không xứng đáng với tình yêu của chị em mình đâu. Nhưng cũng có thể ông ấy là người khá nhất trong bọn. Lại đây tôi bảo, ông rồ ơi! - chị ta gọi to rồi chộp lấy tay chú tôi, - ngài mà cũng biết phải lòng ư? cũng biết yêu ư? Ngài nhìn thẳng mặt tôi đi: tôi muốn nhìn vào mắt ngài cơ; tôi muốn biết cặp mắt ấy có gian hùng xảo trá không? Ồ, không, cặp mắt này không dối trá: cặp mắt này ngời ngợi tình yêu. Ôi, tôi hạnh phúc biết bao! Nastenka, cô bạn nhỏ của chị, chị bảo này, em không phải là người giàu có: chị biếu em ba mươi ngàn. Em cầm lấy, đội ơn Chúa! Chị có rồi, có rồi; chị vẫn còn nhiều mà. Không, không, không, không! - chị ta hét lên, hai tay xua lia lịa khi thấy Nastiia muốn khước từ. - Ngài cũng im đi cho, Egor Iliits, không phải việc của ngài. Không, Nastiia, chị đã có ý định từ trước; từ lâu chị đã muốn biếu em và chỉ chờ em có người yêu... Chị sẽ phải quan tâm đến hạnh phúc của hai người... Em không cầm là chị giận đấy; chị khóc cho mà xem, Nastiia... Không, không, không và không!

Tatiana Ivanovna nhiệt thành đến mức chí ít trong giây phút đó phản đối chị là điều không thể, thậm chí còn không nỡ. Việc chưa ngã ngũ, hai người đành bảo nhau tạm hoãn. Chị lao tới hôn tướng quân phu nhân, Perepelisina, tất cả chúng tôi. Baktseev len lỏi đến bên chị với vẻ cực kỳ lễ độ và cũng xin phép hôn tay chị.

- Cô em thân mến! Cô bỏ quá cho cái gã ngớ ngẩn này về những chuyện vừa qua: anh chưa được biết tấm lòng vàng của cô mà!

- Anh già điên! Em biết anh từ lâu rồi, - Tatiana Ivanovna thỏ thẻ với vẻ nhí nhảnh, đưa bàn tay đi găng dí vào mũi Stepan Alekseevits và lướt ra xa như một làn gió, chiếc váy sang trọng quệt qua người ông. Ông béo né ra với vẻ lễ độ.

- Một cô em đáng quý! - ông thốt lên một cách cảm kích. - Này, cái mũi của anh chàng người Đức đã gắn lại rồi đấy nhé! - ông nói nhỏ với tôi một cách kín đáo, nhìn vào mắt tôi với vẻ hân hoan.

- Mũi nào cơ? anh người Đức nào cơ? - tôi ngạc nhiên hỏi.

- Cái anh chàng ta đặt mua biết hôn tay cô em người Đức của mình, còn cô ấy thì đưa khăn tay chấm mắt ấy mà. Evdokim nó chữa cho ta từ hôm qua cơ; ban nãy khi đi bắt cô kia về ta đã sai một đứa phóng ngựa về lấy rồi... Nó mang đến bây giờ đấy. Một vật phẩm tuyệt vời!

- Foma! - chú tôi hét lên với vẻ hân hoan phấn chấn, - ông là người đem lại hạnh phúc cho đôi ta! Ta có thể hậu tạ ông như thế nào đây?

- Chả cần đâu, thưa đại tá, - Foma đáp với bộ mặt buồn thiu. - Cứ việc đừng để ý đến tôi và hãy vui sống bên nhau, hạnh phúc bên nhau, chả cần nói đến Foma.

Rõ ràng Foma đang muốn nói kháy: trong không khí rộn ràng xúc động, dường như mọi người đã quên đứt ông ta.

- Chỉ là do vui quá đấy thôi, Foma ạ! - chú tôi hét lên. - Ta cũng không còn nhớ nổi là mình đang đứng ở đâu cơ đấy, người anh em ạ. Bây giờ ta nói ông nghe: ta đã có hành vi xúc phạm đến ông. Có đem cả cuộc đời, cả xương cả máu ta ra hiến hết cho ông cũng không làm ông nguôi giận được đâu, nên ta đành im lặng, thậm chí không xin lỗi nữa. Nhưng nếu đến lúc nào đó ông cần đến cái đầu ta, mạng sống của ta, cần vì ông mà phải quăng mình xuống vực thẳm thì ông cứ truyền lệnh và ông sẽ thấy... Ta sẽ không nói gì thêm nữa, Foma ạ.

Và chú tôi phẩy tay, biết rõ là không thể nói gì thêm để diễn đạt ý mình mạnh mẽ hơn được nữa. Ông chỉ biết nhìn Foma bằng đôi mắt hàm ơn đẫm lệ.

- Hai người đúng là một cặp thiên thần! - ả Perepelisina cất giọng eo éo, đến lượt mình tỏ ý khen ngợi Foma.

- Vâng, đúng thế đấy ạ! - Sasenka lên tiếng tán đồng, - trước đây cháu không biết ông là người tốt như thế, Foma Fomits ạ, và cháu đã tỏ ra vô lễ với ông. Xin ông thứ lỗi cho cháu, Foma Fomits nhé, và xin ông hãy tin rằng cháu sẽ hết lòng yêu quý ông. Giá ông biết được bây giờ cháu kính yêu ông như thế nào!

- Đúng đấy, Foma! - Baktseev hưởng ứng, - ông cũng bỏ quá cho ta, cái gã đầu đất này! Những lúc đó ta chưa biết rõ về ông, chưa được biết ông là người như thế nào! Ông không chỉ là một nhà thông thái mà còn là một là một đấng anh hùng, Foma Fomits ạ! Cả nhà ta sẵn lòng nghênh đón ông. Ngày kia đi, mời ông đến chỗ ta, người anh em nhé, xin trân trọng mời ông cùng lão mẫu - tướng quân phu nhân và cô dâu chú rể, chứ sao nữa! mời cả nhà đến chơi với tôi! Chúng ta làm một bữa cho vui, - chẳng dám khoe trước, chỉ xin nói thế này thôi: chỉ có sữa chim tôi mới không kiếm được thôi! Xin trịnh trọng hứa với ông đấy!

Giữa những khúc tâm tình đó, Nastenka cũng đã đến bên Foma Fomits và, không nói lôi thôi, cô ôm chặt lấy ông mà hôn.

- Foma Fomits! - cô ta nói, - ông là ân nhân của chúng em; ông đã làm cho chúng em nhiều đến mức em không biết là có thể lấy gì đền đáp được, chỉ biết rằng em sẽ là đứa em hiền thục, mãi mãi kính yêu ông...

Cô không thể nói hết câu vì quá nghẹn ngào. Foma hôn lên đầu cô và cũng rưng rưng nước mắt.

- Em gái bé bỏng của ta, em gái thân yêu! Em hãy vui sống, hãy đơm hoa và thi thoảng trong những phút giây hạnh phúc hãy nhớ tới cái gã bị đánh đuổi đáng thương này nhé! Tôi sẽ tự nhủ rằng có khi bất hạnh lại chính là mẹ đẻ của đức hạnh. Hình như đó là lời của Gogol, một nhà văn nông nổi nhưng đôi lúc ở ông vẫn lóe lên những ý tưởng thâm trầm. Bị đánh đuổi chính là điều bất hạnh! Rồi đây tôi sẽ quăng thân vào gió bụi, lang thang trên cõi đời này, một thân một mình với cây gậy chống và biết đâu đấy, qua những nước đời khốn khổ tôi còn trở nên tốt đẹp hơn! Ý tưởng đó là niềm an ủi duy nhất còn lại của tôi!

- Nhưng... ông đi đâu mới được chứ, Foma? - chú tôi hốt hoảng hét lên.

Mọi người đều run rẩy, trố mắt nhìn Foma chằm chằm.

- Nhưng chẳng lẽ tôi còn có thể ở lại trong nhà ngài một khi ngài đã cư xử với tôi như thế, hở ngài đại tá? - Foma hỏi với vẻ nghiêm nghị khác thường.

Nhưng mọi người không còn để cho ông nói nữa: tiếng la hét ầm ĩ đã át giọng ông. Người ta ấn ông ngồi xuống ghế bành; người ta van nài ông, người ta khóc thương ông và tôi cũng chẳng biết mọi người còn làm gì với ông ấy nữa. Tất nhiên ông ấy vẫn chưa hề có ý định rời bỏ “cái nhà này”, sáng nay cũng chưa hề, hôm qua cũng chưa hề, cái ngày ra cuốc đất ngoài vườn rau cũng chưa hề. Ông ấy biết rằng bây giờ mọi người sẽ giữ rịt ông ấy lại bằng cả tấm lòng ái mộ, bây giờ chắc chắn mọi người sẽ túm lấy ông, nhất là khi ông đã đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, khi mọi người lại tin ông, sẵn sàng tung ông lên và rước ông đi, lấy thế làm vinh dự, lấy thế làm hạnh phúc. Đành rằng giông gió đã làm ông mất mật, nhưng có lẽ sự quay lại hèn nhát của ông đã khiến ông có chút bẽ bàng và thôi thúc ông phải thể hiện cho được cái khí phách anh hùng nghĩa hiệp; nhưng cái chính là ông đang bị cuốn hút và nỗi đam mê uốn éo, làm mình làm mẩy không có cách nào cưỡng lại được nên cứ thế mà thao thao bất tuyệt, tô vẽ, đánh bóng, tán tụng bản thân mình. Ông cũng không có ý định chống lại sức cám dỗ này; ông vùng vằng giẫy giụa, cố bứt khỏi tay những người đang níu giữ ông; ông đòi cái gậy của ông, ông van lạy mọi người buông tha ông ra, mặc cho ông nhẹ bước tang bồng, đến đâu thì đến; ở trong “cái nhà này” ông là kẻ bị sỉ nhục, bị bạo hành; ông quay lại cũng chỉ vì muốn đem lại hạnh phúc chung; rút cuộc, liệu ông có thể ở lại trong “cái nhà vô ơn bạc nghĩa mà đối với ông, mỗi miếng ăn là miếng nhục, cho dù đó toàn là những miếng ngon”? Cuối cùng ông cũng thôi không giẫy nữa. Mọi người lại ấn được ông xuống chiếc ghế bành; nhưng dòng hùng biện của ông vẫn chưa vơi cạn.

- Chẳng lẽ ở đây người ta chưa từng xúc phạm đến tôi? - ông ta hét, - chẳng lẽ người ta chưa từng thè lưỡi ra để trêu tôi? chẳng lẽ ngài, chính ngài, thưa đại tá, giống như bọn nặc nô đầu đường xó chợ, chưa từng xỉa kukis[5] vào mặt tôi suốt ngày sao? Vâng, thưa ngài đại tá! tôi chọn cách ví von này vì dù rằng trên thực tế ngài chưa từng xỉa kukis vào mặt tôi nhưng về mặt tinh thần thì đúng là ngài đã có hành vi như vậy; mà những hành vi gián tiếp kiểu này có khi còn độc địa hơn. Tôi còn chưa nói đến chuyện bạo hành...

- Foma, Foma! - chú tôi quát, - đừng nhắc lại chuyện đau lòng đó với ta! Ta đã nói với ông là có dốc hết máu của ta ra cũng không rửa sạch được mối hận ấy cơ mà. Ông hãy rộng lòng quên chuyện đó đi mà thứ lỗi cho ta! Đừng làm tổn thương đến hạnh phúc của đôi ta nữa! Thành quả của ông đấy chứ, Foma!

- ...Tôi muốn yêu một người, - Foma hét lên, - nhưng người ta chẳng đem người đến với tôi, người ta cấm tôi yêu, người ta tước đoạt của tôi con người mà tôi muốn có! Hãy mau mau đem đến cho tôi một con người mà tôi có thể yêu! Người ấy ở đâu? người ấy trốn đâu rồi? Như Diogen với ngọn đèn lồng, tôi đi tìm người ấy suốt đời không được, mà không thể yêu ai hết[6][7]. Đáng buồn thay cho kẻ đã biến tôi thành một dị nhân chỉ biết ghét bỏ người khác! Tôi hét lên: hãy đem đến cho tôi một người mà tôi có thể yêu, vậy mà người ta lại dúi cho tôi thằng Falalei mới chết chứ! Tôi có thể yêu Falalei không nhỉ? Tôi có muốn yêu Falalei không nhỉ? Rốt cuộc, dù có muốn đi chăng nữa, tôi cũng có thể yêu Falalei được không? Không; tại sao không? Vì nó là Falalei đấy. Cớ sao tôi không yêu loài người? Vì bất cứ cái gì trên đời cũng đều là Falalei hoặc giống Falalei cả! Tôi thèm gì Falalei, tôi ghét Falalei, tôi nhổ toẹt vào Falalei, tôi giẫm bét Falalei ra và nếu như được phép lựa chọn, hẳn tôi sẽ thiên về Asmodei[8] thôi! Lại đây, lại đây, cái đứa luôn luôn làm khổ tôi đây, lại đây! - ông ta bỗng cất cao giọng gọi Falalei, thằng bé với dáng vẻ rất ngây thơ, lúc này cứ nhón chân nghển cổ giữa đám người đang quây lấy Foma Fomits, - lại đây nào! Tôi sẽ chứng minh để ngài thấy, thưa đại tá, - Foma vừa hét vừa kéo Falalei đến tận nơi làm nó sợ xanh mắt, - tôi sẽ chứng minh để ngài thấy là tôi nói không sai về thái độ giễu cợt và báng bổ thường xuyên của thằng này! Mày hãy nói xem, Falalei, và nói đúng sự thực: đêm qua mày đã nằm mơ thấy những gì? Đấy, thưa ngài đại tá, bây giờ ngài sẽ được thấy thành quả của ngài! Nào, Falalei, nói!

Thằng bé tội nghiệp cứ sợ run lẩy bẩy, đưa mắt khổ sở nhìn khắp xung quanh xem có ai cứu được mình không; nhưng mọi người chỉ biết dỏng tai chờ câu trả lời của nó với vẻ hồi hộp.

- Nào, Falalei, ta đang chờ đây!

Thay cho câu trả lời, Falalei bỗng cau mặt, nhành mồm xổ ra một tiếng gì như tiếng bê kêu.

- Thưa ngài đại tá! Ngài có thấy được cái lì lợm của nó không? Có thể coi đó là chuyện bình thường được hay sao? Ta hỏi mày lần cuối cùng, Falalei nhé, đêm qua mày đã nằm mơ thấy những gì?

- Thấy...

- Cứ bảo là thấy ta đi, - Baktseev mách nước.

- Thấy những đức tính quý báu của ngài đấy ạ! - Ejevikin nhắc vào tai kia.

Falalei chỉ ngơ ngác nhìn quanh.

- Thấy... những đức... thấy... con bò trắng! - cuối cùng nó nói lúng búng, nước mắt chảy ròng ròng.

Mọi người đồng thanh “ối giời!” Nhưng Foma Fomits đã lên cơn độ lượng đến ghê.

- Chí ít ta cũng thấy được cái thực thà của mày đấy, Falalei ạ, - ông ta nói, - cái thực thà hiếm có, không thấy ở những người khác. Chúa biết cho mày! Nếu mày nghe lời xúi bẩy mà cố tình đem cái chuyện nằm mơ ấy ra trêu chọc ta thì có Chúa trừng phạt chú mày. Nếu không phải thế thì ta trân trọng sự thực thà của mày, vì ngay trong những sinh linh thấp hèn như mày, ta cũng đã biết cách nhận ra hình bóng Chúa... Ta tha thứ cho mày, Falalei ạ! Các bạn yêu quý, ôm tôi đi nào, tôi xin ở lại!

“Ở lại rồi!” - mọi người mừng rỡ reo lên.

- Tôi xin ở lại và xin tha thứ. Thưa ngài đại tá, ngài hãy thưởng đường cho Falalei đi: không để nó khóc trong một ngày vui chung như thế này.

Sao mà tận tình đến thế, đúng vào thời điểm trọng đại như thế, nhưng với ai cơ? với Falalei! Chú tôi bắt tay ngay vào việc thực thi mệnh lệnh về đường. Không biết từ đâu ra, trên tay Praskovia Iliitsna đã lập tức hiện ra cái lọ đường mạ bạc. Chú tôi đưa tay run run lấy được hai rồi ba viên đường nhưng đánh rơi hết và cuối cùng thấy không thể làm được gì vì quá hồi hộp.

- Thôi đấy! - ông hét lên, - mừng ngày vui của chúng ta! Đỡ lấy, Falalei! - và dốc tuột cả lọ vào trong ngực áo nó.

- Thưởng cho cái tính thực thà của con đấy, - ông nói thêm có ý răn dạy.

- Ông lớn Korovkin đến đấy ạ, - Vidopliasov bỗng hiện ra ở cửa, lên tiếng báo tin.

Mọi người hơi có vẻ xôn xao. Rõ ràng Korovkin đã đến không đúng lúc. Ai nấy đưa mắt nhìn chú tôi với vẻ dò hỏi.

- Korovkin! - chú tôi hét lên với vẻ hơi thiếu tự nhiên. - Mừng quá, tất nhiên rồi... - ông vừa nói vừa đưa mắt lấm lét nhìn Foma, - nhưng quả thật ta không biết có nên mời ông ấy vào luôn đây không. Ông thấy thế nào, Foma?

- Không sao, không sao! - Foma nói với vẻ xởi lởi, - ngài cứ mời Korovkin vào cả đây đi; mời ngài ấy cùng chung vui với cả nhà.

Tóm lại, Foma Fomits đang trong một tâm trạng tuyệt vời.

- Bẩm các vị, con xin kính báo, - Vidopliasov thưa, - ngài Korovkin lúc này có hơi khó ở đấy ạ.

- Hơi khó ở ư? nghĩa là sao? Mày ba hoa nhăng cuội cái gì? - chú tôi quát hỏi.

- Đúng ạ: ngài ấy không được tỉnh táo ạ...

Nhưng chú tôi còn chưa kịp há hốc mồm, đỏ mặt, hoảng hốt và ngượng chín người thì câu đố đã được giải. Chính Korovkin đã hiện ra trước cửa, đưa tay gạt Vidopliasov ra và dừng lại trước ánh mắt sửng sốt của mọi người. Đó là một ông lớn trạc bốn mươi tuổi, người thấp đậm, đầu cắt cua, tóc sẫm màu đã điểm bạc, mặt tròn đỏ rực, mắt nhỏ, vằn tia máu, cà vạt bằng lông thú có móc cài ra sau, áo đuôi tôm nhàu nát, bục một bên nách, bám đầy lông tơ và cỏ, pantalon impossible[9] và mũ lưỡi trai nhem nhuốc cắp nách. Ông lớn đã say mèm. Ông bước tiếp rồi dừng lại giữa phòng, người lắc lư, đầu gật gật; rồi từ từ ngoác miệng ra hết cỡ để cười.

- Xin lỗi các quý ông, - ông ta cất tiếng, - tôi... vừa (ông ta búng nhẹ vào cổ áo) làm một tý!

Tướng quân phu nhân cứ như bị vả vào mặt. Vẫn yên vị trong ghế bành, Foma đưa mắt ngắm nghía vị khách kỳ khôi với vẻ mỉa mai. Baktseev thì cứ nhìn khách với vẻ băn khoăn, từ đó toát lên ít nhiều thông cảm. Chú tôi thì bối rối quá, ông quá đau lòng về bạn.

- Korovkin! - ông toan bắt chuyện, - ông nghe tôi nói đây này!

- At-tăng-đê![10] - Korovkin ngắt lời ông. - Tôi xin tự giới thiệu: một đứa con của tạo hóa đây... Nhưng tôi đang nhìn thấy những gì? Các nữ chủ nhân... Nhưng sao ông chả bảo trước là ở đây đang có phụ nữ, hở cái gã khỉ gió kia? - ông ta đưa mắt nhìn chú tôi, nói nói cười cười với vẻ chớt nhả, - sao chẳng nói gì cả thế? đừng ngại!... chúng ta cũng sẽ tự giới thiệu với phái đẹp... Thưa các nữ chủ nhân kiều diễm - ông ta líu lưỡi nói mãi không được một câu, - các vị đang nhìn thấy một con người bất hạnh, một con người... vâng, đấy... Không nói xiết... Nhạc đâu! Polka![11]

- Ngài có muốn ngả lưng một lát không? - Mizintsikov bình tĩnh đến bên Korovkin và hỏi.

- Ngả lưng ư? Cậu mỉa tôi đấy à?

- Không hề. Thư giãn là rất có lợi cho người đi đường...

- Không bao giờ! - Korovkin tỏ ý bất bình. - Cậu tưởng tôi say à? Không hề... Cơ mà... ngủ ở đâu?

- Chúng mình đi thôi, tôi dẫn ngài đi.

- Đi đâu? ra nhà kho à? Đừng, bịp thế nào được ta, anh bạn! Mà ta cũng ngủ ở đấy rồi... Thôi được, dẫn đi... Đi với người tốt sao lại không đi? Chả cần gối đâu; quân nhân cần gì gối. Cậu ghép tạm cho mình chỗ ngả lưng thôi, người anh em ạ... Mà này, - ông ta dừng lại, nói thêm, - ta thấy cậu là một chàng trai tốt bụng đấy; cố kiếm cho mình một ngụm... hiểu chứ? Tí ti thôi... có nghĩa là một ly thôi.

- Được ạ, được! - Mizintsikov đáp.

- Tốt rồi... Mà đứng lại đã, phải có lời từ biệt chứ... Adieu, mes dames et mes mademoiselles![12] Các vị như thế là đã thấu cho... Nhưng thôi, chả cần! để sau... có điều các vị nhớ đánh thức tôi đấy, khi bắt đầu vào cuộc ấy... trước năm phút cũng được... chưa có tôi thì chưa được bắt đầu! nghe rõ chưa? chưa được bắt đầu!...

Và vị khách vui tính khuất dạng theo Mizintsikov.

Mọi người đều lặng thinh. Không hết sững sờ. Cuối cùng Foma bỗng bật cười, tiếng cười se sẽ, rinh rích của ông ta cứ to dần to dần thành tiếng cười ha ha sảng khoái. Thấy thế, tướng quân phu nhân dường như cũng vui lây tuy vẻ bất bình trên mặt vẫn chưa tan. Tiếng cười cứ thế ran lên khắp xung quanh. Chú tôi cứ đứng ngây như phỗng, mặt đỏ lên đến mức nước mắt cứ trào ra và mãi mới nói được:

- Lạy Chúa! Liệu có ai lường được chuyện này không? Nhưng... cũng chẳng có ai như thế bao giờ. Foma ạ, tôi đoan chắc với ông rằng đây là một người hết sức trung thực, hết sức cao quý và thậm chí còn học rộng biết nhiều nữa đấy. Foma ạ... rồi ông sẽ thấy!...

- Tôi thấy chứ ạ, tôi thấy chứ, - Foma vừa đáp vừa cười sặc sụa, - đúng là người học rộng biết nhiều, thiên kinh vạn quyển!

- Ngài ấy nói chuyện đường sắt hay lắm đấy ạ! - Ejevikin đế thêm, giọng nhỏ nhẹ.

- Foma!.. - chú tôi hét lên như vẫn còn muốn nói nhưng tiếng cười rộ lên khắp chung quanh đã át giọng ông. Foma Fomits cười rũ rượi. Thấy thế, chú tôi cũng phá lên cười.

- Rõ chán chết đi được! - ông nói với giọng nhiệt thành. - Ông là người đại lượng, Foma ạ, ông là người có trái tim vĩ đại: ông đã đem lại hạnh phúc cho ta... ông cũng sẽ thứ lỗi cho Korovkin thôi.

Chỉ có Nastenka là không cười. Cô nhìn vị hôn phu của mình bằng đôi mắt chan chứa yêu thương và như đang muốn nói: “Ôi chao, anh mới tuyệt vời sao, anh hiền hậu, cao quý biết bao, em yêu anh biết chừng nào!”

❀ ❀ ❀

[1] Một loại vang nho tráng miệng.

[2] Một câu trong tập “Thơ trữ tình” của Frantsesko Petrark (1304-1374).

[3] Cùng với “Hamlet”, “Vua Lia” (King Lear), vở bi kịch “Othello” (tên một dũng tướng da đen) của nhà soạn kịch Anh Willam Shakespeare (1564-1616) được coi là một trong ba đỉnh cao về bi kịch trong lịch sử văn học nhân loại.

[4] Câu văn này của nhà văn Pháp François-René de Chateaubriand (1768-1848) trong tiểu thuyết “Atala” bị Foma gán bừa cho Shakespeare.

[5] Nắm đấm đặc biệt với ngón cái kẹp giữa ngón trỏ và ngón giữa biểu thị sự khinh miệt với đối tượng thù địch.

[6] Vì muốn biểu thị thái độ khinh miệt đối với xã hội xung quanh, nhà hiền triết kynic cổ Hy Lạp là Diogen Sinoski (khoảng 403-323 trước Công nguyên) có lần đã thắp một chiếc đèn lồng xách ra đường, bảo là đi tìm kiếm con người. Một lần khác, khi nghe ông hét: “Hỡi những con người, mau đến với ta!” thì có rất nhiều người đâm bổ đến và liền bị ông vung gậy lên mà quát: “Ta gọi những con người chứ có phải gọi lũ khốn nạn đâu cơ chứ!”

[7] Triết gia kynic là những triết gia đi theo trường phái triết học do Antisfen, môn đệ của Socrat sáng lập vào thế kỷ 4 trước Công nguyên, tên trường phái (Kynic) được lấy theo tên địa điểm phát sinh (Kynosarge - Hy Lạp). Đây là trường phái bác bỏ những chuẩn mực đạo đức thiết lập trên cơ sở những định chế xã hội, kêu gọi hướng tới cách hành xử “tự nhiên” theo lứa tuổi. Chủ trương này phản ánh tư tưởng của những lớp người cùng khổ trong xã hội chiếm hữu nô lệ vào giai đoạn khủng hoảng sau cả một thời kỳ chiến tranh khốc liệt.

[8] Một con quỷ được nói đến trong Kinh thánh.

[9] Quần lá tọa, như cách nói dân gian về quần mặc lôi thôi xộc xệch (tiếng Pháp).

[10] Attendez! - Gượm hẵng! (tiếng Pháp)

[11] Một điệu nhảy nhanh.

[12] Xin tạm biệt các bà các cô! (tiếng Pháp)

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.