Việc mua chú ngựa Gnetko ít lâu sau khi có trại đã làm cho anh em trại nhân quan tâm và vui sướng hơn rất nhiều so với việc đón tiếp các vị khách quý. Trại chúng tôi cần một con ngựa để chở nước vào trại và chở đi đủ các thứ rác rưởi linh tinh. Có một trại viên được chỉ định để chăm sóc ngựa. Anh này cũng được đi theo ngựa, tất nhiên là có người áp giải. Công việc dành cho chú ngựa thật là nhiều, cả sáng, cả chiều. Chú ngựa Gnedko phục vụ chúng tôi đã rất lâu. Chú hiền lành, nhưng phải làm việc quá tải. Một sớm mai kia, ngay trước ngày lễ thánh Piotr chú Gnedko chở về một két nước dùng cho buổi chiều, chú bỗng gục xuống và mấy phút sau thì trút hơi thở cuối cùng. Ai cũng thương chú, mọi người vây quanh bàn tán, tranh cãi. Những anh em cựu kỵ binh, những người zigan, những nhân viên thú y v.v... đều lên tiếng, thậm chí có những ý kiến đặc sắc về loài ngựa, thậm chí còn tranh cãi nhau nữa, nhưng còn Gnedko thì không ai làm sống lại được. Con vật nằm chết ở đấy, bụng to phình và ai cũng thấy mình phải có trách nhiệm sờ một ngón tay vào đấy; người ta báo cáo với tên thiếu tá về số phận trời định cho chú ngựa. Tên thiếu tá quyết định phải mua ngay một chú ngựa mới. Đúng ngày lễ Piotr, vào hồi sáng sớm, sau buổi cầu kinh, lúc mọi người đã tập trung đông đủ thì có người đem ngựa đến bán. Chắc chắn rằng việc mua ngựa đã được giao phó cho các trại nhân. Trong chúng tôi có những anh em rất sành sỏi, và việc qua mắt hai trăm năm mươi con người trước đây chuyên nghề xem ngựa là chuyện không hề dễ dàng. Tụ tập ở đây có những người kirgiz, những anh lái ngựa, những người zigan, những kẻ chợ búa. Tù nhân háo hức chờ từng con ngựa mới xuất hiện. Họ vui sướng như trẻ con. Điều họ thấy hân hoan nhất là được thấy mình giống hệt những con người tự do, hệt như chính mình được lấy tiền trong túi của chính mình để mua ngựa cho chính mình và mình có toàn quyền để mua ngựa. Đã có ba con ngựa được mang đến và được mang đi, khi mọi người cũng đã xem xong con thứ tư. Những lái ngựa có mặt thấy có phần ngỡ ngàng, tựa hồ như chần chừ nhìn quanh, thậm chí đôi lúc lại ngó nhìn mấy tên lính áp dẫn họ đến. Đội quân tù nhân hai trăm người, râu cạo nhẵn nhụi, mang số ấn triện, chân bị xiềng xích, đang ở trong nhà mình, trong cái lồng sắt khổ sai, mà ngưỡng cửa của nó không ai bước qua được, đang khiến cho mọi người kính trọng. Anh em trại nhân đã đem hết mọi mánh khóe ra để thử tài mấy chú ngựa đến đây. Toàn bộ vốn liếng tài năng của trại phụ thuộc vào chỗ anh em xem xét gì ở con ngựa, cảm nhận được gì ở đó, và hơn thế nữa là cảm nhận với dáng vẻ của người thạo việc, nghiêm túc và năng nổ. Những người trerkes thậm chí nhảy lên mình ngựa mà phi, mắt họ rực sáng lên, mồm họ liến thoắng những câu gì bằng thổ ngữ không ai hiểu được, răng họ trắng sáng, những bộ mặt đầy đặn với những cái mũi khoằm khoằm của họ gật gật. Trong số dân Nga có người chăm chú lắng nghe cuộc tranh luận của họ, dường như muốn nhảy hẳn vào trong mắt họ. Thổ ngữ của họ thì không nghe được, nhưng qua những ánh mắt kia người đó muốn đoán xem quyết sách của họ thế nào: con ngựa này có đáng mua không? Thậm chí lại có một điều lạ nữa là lại có người nhòm ngó đến hoa mắt chóng mặt vào anh bạn trại nhân quan sát nói trên. Có lẽ cái anh chàng trại nhân này đang miệt mài theo dõi chuyện gì, và anh chàng vô danh ấy vẫn cứ lặng lẽ nín im sợ hãi không dám thốt lên lời nào! Dường như chính anh bỏ tiền mua ngựa cho mình, dường như thực sự là đối với anh ta thì mua con ngựa nào cũng là điều không thể thờ ơ được. Ngoài những người trerkes thì có một nhóm người nổi bật lên hơn cả là anh em zigan cũ và nhóm lái ngựa: họ được ưu tiên đứng hàng đầu và được nói trước. Lúc này thậm chí đã diễn ra một cuộc đấu tay đôi có vẻ như là cao thượng, đặc biệt là giữa hai người: Kulikov - vốn trước thuộc nhóm zigan, chuyên trộm ngựa và lái ngựa, - và anh chàng thú y tự học, một gã nông phu Sibir láu cá, mới nhập trại được ít hôm, nhưng đã kịp giành giật được của Kulikov gần như mọi việc làm ăn trong thị trấn của anh ta. Vấn đề là ở chỗ những thày thuốc thú ý tự học ở trong trại này không những được đám dân nghèo và dân buôn trong thị trấn đánh giá cao, mà ngay cả các quan chức cao cấp cũng tìm vào trại, khi có ngựa bị đau ốm, mặc dù trong thị trấn trước đây cũng đã có mấy vị bác sĩ thú y thực thụ. Trước khi anh chàng nông dân Sibir Elkin nhập trại thì Kulikov không có đối thủ. Anh này có thực tế nghề nghiệp vững chãi, và chắc chắn là đã được thưởng nhiều tiền. Anh ta luôn khoe tính cách zigan, hay lừa dối và hiểu biết ít hơn những điều nói ra. Xét về thu nhập thì trong anh em chúng tôi anh ta là nhà quí tộc. Xét về trải nghiệm, về trí lực, về lòng dũng cảm và quyết đoán thì từ lâu anh đã khiến các trại nhân buộc phải kính nể. Mọi người nghe lời anh và tuân ý anh. Nhưng anh là người kiệm lời, lời nói của anh đáng giá đồng tiền, và anh chỉ nói trong những trường hợp hết sức quan trọng. Anh là tay ăn diện hết cỡ, nhưng có nhiều nghị lực thật sự và độc đáo. Tuổi anh đã xế, nhưng được cái vẫn rất điển trai và rất thông minh. Đối với chúng tôi, những người quý tộc, anh đối xử thật lịch sự, tinh tế, đồng thời cũng tỏ ra đứng mực khác thường. Tôi cứ nghĩ, giá cho anh ăn mặc lễ phục bá tước rồi mời vào một câu lạc bộ nào đó của thành phố, thì ở đó anh sẽ tìm được chính mình, sẽ thắng trong ván bài whist, sẽ nói mấy câu thật đĩnh đạc, và có thể suốt tối không ai phát hiện được rằng anh không phải là ông bá tước, mà chỉ là một thằng cha giang hồ. Tôi nói thế là nghiêm túc đấy: anh ta quả là thông minh, sáng dạ và nhanh trí. Ngoài ra anh có nhiều mẹo sống tuyệt vời, biết ăn mặc đỏm dáng. Rõ ràng anh là người từng trải. Tuy nhiên quá khứ của anh lại bị bao phủ trong vùng bóng tối mịt mù. Ở đây anh phải sống trong lán riêng. Nhưng từ khi có Elkin xuất hiện - dù chỉ là nông dân, nhưng là nông dân tinh khôn hết ý, tuổi mới năm mươi, là dân ly giáo, thì uy danh về nghề thú y của Kulikov đã bị che khuất. Chỉ trong vòng khoảng chừng hai tháng anh này đã giành được từ tay Kulikov gần như toàn bộ công việc làm ăn trong thị trấn. Anh đã chữa được, thậm chí là chữa một cách rất dễ dàng những con ngựa mà từ lâu trước đây Kulikov đã phải bó tay từ chối. Thậm chí anh còn chữa được cả những con ngựa mà các thày thú y trong phố không dám nhận chữa. Người nông dân này phải đến đây cùng những người khác vì tội làm bạc giả. Bước vào tuổi già anh bắt tay vào công việc đó chỉ với tư cách là kẻ đồng hành mà thôi. Chính anh ta vừa cười nhạo mình vừa kể cho chúng tôi nghe rằng cứ ba đồng tiền vàng thật thì chỉ có một đồng tiền giả. Kulikov có phần bị tổn thương danh dự vì những thành công yếu kém của mình trong nghề thú y, thậm chí niềm vinh quang của anh trong con mắt các trại nhân cũng bắt đầu mờ nhạt. Anh đã từng bao tiền cho một cô nhân tình ở vùng ngoại ô, cho cô mặc quần áo lót xếp nếp, đeo nhẫn bạc, vòng khuyên, thế mà giờ đây bỗng nhiên chỉ vì không có tiền mà phải hạ mình đi bán rượu, và vì thế mà mọi người chờ đợi rằng giờ đây khi mua con ngựa mới Gnedok hai kẻ địch thủ này sẽ choảng nhau một trận. Mọi người háo hức chờ đợi như thế. Hai địch thủ này anh nào cũng có một nhóm bạn. Những kẻ tiên phong trong hai nhóm bạn đã bắt đầu nhấp nhổm và đã xì xào qua lại những câu chửi thề. Bản thân Elkin cũng đã nhệch mép để tạo ra một nụ cười mỉa mai cay độc nhất. Nhưng hóa ra tình hình không phải như vậy: Kulikov không những không nghĩ đến chuyện chửi nhau, mà không cần chửi nhau anh cũng đã biết ứng xử khôn ngoan rồi. Anh bắt đầu từ việc nhượng bộ, thậm chí khi nghe những lời phê phán của đối thủ anh vẫn tỏ ra kính trọng, nhưng khi anh bắt được một lời sai thì anh lập tức khiêm nhường và kiên định vạch ra cho thấy đối thủ đang mắc sai lầm, và trước khi Elkin kịp nhớ ra và sửa lại thì anh đã chứng minh rằng chính là đối thủ đang sai ở chỗ này chỗ nọ. Tóm lại Elkin đã bị hạ gục hết sức bất ngờ và ngọt ngào, và mặc dù anh đã ở thế thượng phong, nhưng nhóm bạn của Kulikov đã thấy hài lòng. Họ bảo:
- Không, các bạn ơi. Đánh bại anh ta không dễ dàng đâu, một tay cứng cựa đấy.
- Elkin hiểu biết nhiều hơn! -một số người nhận xét ra vẻ chấp nhận. Cả hai nhóm bạn đồng thanh lên tiếng với giọng hết sức nhường nhịn.
- Không những là có hiểu biết, anh ta còn mát tay nữa. Còn đối với ngựa thì cả Kulikov cũng không hề sợ sệt.
- Đúng là không hề sợ!
- Không hề sợ...
Cuối cùng mọi người cũng đã chọn mua con ngựa mới Gnedko, một con ngựa còn non tuổi, đẹp đẽ, chắc nịch, có mã ngoài hết sức duyên dáng, vui tươi. Xét đủ mọi tiêu chuẩn thì nó thật hoàn hảo. Bắt đầu mặc cả: chủ ngựa đòi ba mươi rúp, chúng tôi trả hai mươi lăm. Cuộc mặc cả kéo dài khá lâu, dần dà có xuống giá và nhân nhượng. Cuối cùng ai cũng phải buồn cười. Một số người bảo:
- Thế nào, có phải tiền túi của nhà anh đâu mà lo? Việc gì mà cứ mặc cả mãi thế?
- Anh xót tiền chùa đấy à? -một số người khác kêu to lên.
- Các anh em ơi, tất cả đều là tiền của anh em mình thôi.
- Đúng là của anh em! Ở đây không có ai ngốc đâu, không ai cho không, mà là chúng ta phải tự thân vận động... Tiền là của tập thể chúng ta! Các bạn ơi! Không phải là của những thằng ngốc mà cứ rắc ra bừa bãi, chính chúng ta cũng phải tự ra đời đấy chứ...
Cuối cùng hai bên thỏa thuận là hai mươi tám rúp. Mọi người báo cho tên thiếu tá và việc mua bán thế là xong. Ngay lập tức người ta mang đến bánh mỳ và muối rồi long trọng dẫn Gnedko[1] vào trại. Nhân dịp này có lẽ không một trại nhân nào lại không tranh thủ sờ cổ hoặc vuốt mõm chú ngựa. Cũng ngày hôm đó chú được thắng vào xe chở nước, mọi người chăm chú nhìn xem chú kéo thùng nước ra sao. Ông bạn chở nước tên là Roman nhìn chú ngựa mới với con mắt hài lòng đặc biệt. Đó là ông nông dân tuổi chừng năm mươi, thích trầm lặng và sống chắc chắn. Tất cả những người xà ích Nga đều sống chắc chắn và thậm chí là trầm lặng, dường như có một điều hiển nhiên là việc tiếp xúc thường xuyên với ngựa khiến con người có tính chắc chắn đặc biệt, thậm chí là rất cẩn trọng nữa. Ông Roman cũng trầm tĩnh, dịu dàng với mọi người, không thích khoa trương, chuyên hít thuốc lá và không biết tự bao giờ ông sống quanh quẩn với những chú Gnedko của trại. Chú ngựa mới mua này là chú thứ ba. Ở đây mọi người đều tin rằng có một bờm ngựa màu tía về trại thì dường như là chúng tôi sắp được về nhà. Ông Roman cũng khẳng định như thế. Những thứ ngựa khác, chẳng hạn ngựa lang thì chúng tôi mua về làm gì. Cái công việc đi chở nước, theo một thứ luật lệ nào đó, bao giờ cũng được dành cho ông Roman, và ở đây chưa bao giờ có ai nghĩ đến việc tranh giành với ông cái lợi quyền ấy. Ngày con Gnedko trước bị gục ngã thì cũng không có ai, kể cả tên thiếu tá, nghĩ đến chuyện đổ tội cho ông Roman: đó là ý Chúa, chỉ có thế thôi, ông Roman vẫn là người xà ích hảo hạng. Chẳng bao lâu sau con Gnedko đã trở thành con thú cưng của toàn trại. Trại nhân, dẫu có là những người khô khan, vẫn cứ thường đến vuốt ve nó. Thường khi ông Roman đi ra sông về, có một tên hạ sĩ mở cổng cho ông, sau đó ông khóa cổng lại, còn Gnedko vào trại bao giờ cũng đứng bên thùng nước đưa mắt nhìn ông, chờ ông đóng cửa. Ông Roman nói to “Cứ vào trước đi!”, thế là con Gnedko lập tức một mình kéo xe nước vào tận bếp rồi dừng lại chờ mấy bác đầu bếp mang xô chậu chạy ra lấy nước. Mọi người bảo nó: “Thông minh quá, Gnedko! Một mình mà chở được nước về!... Ngoan thật là ngoan”.
- Hay thế đấy. Súc vật mà hiểu được như người!
- Tuyệt vời, Gnedko!
Gnedko lắc lắc cái đầu và thở ra phì phì, tựa hồ như nó hiểu thật sự và thấy hài lòng về những lời khen ngợi. Có một người nào đó ngay lúc ấy mang ra cho nó bánh mỳ và muối. Gnedko ăn ngay và gật gật đầu, tựa như muốn nói: “Cháu hiểu rồi đấy, bác ạ! Cháu là con ngựa đáng yêu, còn bác là một người tốt!”
Tôi cũng thích mang bánh mỳ cho Gnedko. Tôi lấy làm thích được nhìn vào cái mõm đỏ hồng của nó và cảm thấy trên lòng bàn tay mình đôi môi mềm mại ấm nóng của nó đang nhanh nhẹn đớp đớp mấy miếng thức ăn.
Nhìn chung, anh em trại nhân chúng tôi đều có thể yêu thích súc vật, và nếu như được phép thì họ sẵn sàng nuôi trong trại rất nhiều các loại gia súc gia cầm. Có lẽ để làm dịu đi thật nhiều, để làm cao thượng lên thật nhiều những tính cách khô khan và hoang dã của tù nhân thì làm sao lại không có những hình thức sinh hoạt đại loại như thế. Nhưng chuyện ấy người ta lại cấm. Nội quy và địa điểm không cho phép như vậy.
Tuy nhiên, trong suốt thời gian tôi ở trong trại ngẫu nhiên tôi cũng có thấy một vài con vật. Ngoài Gnedko còn có mấy con chó, con ngỗng, một con dê tên là Vaska, một thời gian ngắn có cả một chú đại bàng.
Như ở trên tôi đã kể, trong trại này với tư cách là chó thường trực, có chú Sharik, một con chó thông minh, tốt bụng, và tôi đã có một tình bạn thường xuyên với nó. Nhưng bởi vì, nói chung, người dân thường vẫn coi chó là loài bẩn thỉu, không cần quan tâm đến chúng, cho nên đối với Sharik hầu như cũng chẳng có ai nhòm ngó gì đến. Con chó cứ sống, ngủ thì ngoài sân, ăn thì cơm thừa canh cặn và nó cũng chẳng quan tâm đặc biệt gì đến ai cả, thế nhưng nó lại biết hết mọi người trong trại và đều coi họ là chủ của mình. Khi tù nhân đi làm về, nó nghe thấy tiếng gọi từ ngoài cổng: “Tốt đen đâu!” - thế là nó chạy ra liền, hân hoan chào đón từng tốp anh em, ngoáy tít cái đuôi và hồ hởi nhìn vào mắt từng người, chờ đợi một cử chỉ gì âu yếm. Nhưng trong suốt nhiều năm qua nó chẳng nhận được bất kỳ một cử chỉ gì âu yếm của bất cứ ai, có lẽ ngoại trừ là của tôi. Vì thế mà nó yêu quí tôi hơn cả. Tôi không nhớ là làm sao mà có con chó khác lọt được vào trại, đó là con Belka. Rồi đến con thứ ba là con Kultyapka thì chính là con tôi nhặt được lúc nó còn bé tí ở chỗ tôi làm việc rồi mang về nuôi. Con Belka hết sức lạ lùng. Nó bị một chiếc xe ngựa cán phải và sống lưng của nó cong võng hẳn xuống, đến nỗi khi nó chạy đi trên đường thì nhìn từ xa người ta tưởng như có hai con vật màu trắng dính liền nhau đang chạy. Ngoài ra nó bị lở loét toàn thân, hai mắt rỉ ngoèn, cái đuôi trụi gần như hết lông, lúc nào cũng quặp chặt xuống. Vì chịu số phận tủi nhục nên rõ ràng là nó chấp nhận chịu đựng. Nó không bao giờ sủa lên cắn ai hoặc gầm gừ với ai, tựa hồ như nó không thể làm được những việc ấy. Phần lớn thời gian nó sống sau các trại lính nhờ xin được bánh mỳ. Nếu như nó nhìn thấy ai trong số anh em chúng tôi thì ngay lập tức để tỏ lòng thuận thảo nó nằm vật ngửa ra quay tròn mấy vòng: “Chú ơi, chú làm gì cháu cũng phải chịu, cháu không dám chống lại đâu”. Và bất kỳ tù nhân nào thấy nó lăn kềnh ra như thế thảy đều lấy mũi giày đá nó, coi việc đó như một nghĩa vụ tất nhiên vậy. “Thấy chưa, đồ khốn!” - người ta nói với nó. Nhưng con Belka thậm chí còn không biết rít lên, còn nếu như nó bị đau quá thì nó chỉ biết gằn giọng rên lên thê thảm. Ngay cả đối với con Sharik hoặc đối với bất kỳ con chó nào khác nó cũng nằm lăn ra như thế khi nó có việc gì đó phải chạy ra ngoài trại. Thường thì nó lăn đùng ra rồi nằm chết dí khi có con chó to tai cụp gầm lên lao đến. Nhưng loài chó lại yêu mến tính nhu thuận và tính chịu đựng. Con chó hung hăng kia ngay lập tức mềm lòng, nó suy nghĩ chút đỉnh rồi dừng lại trước con chó đã chịu nằm yên chân chổng lên trời rồi chậm chạp, với tính tò mò cao độ, con chó lớn bắt đầu đưa mũi ngửi khắp người con bé. Con Belka run rẩy toàn thân kia đã nghĩ gì vào lúc ấy nhỉ? “Thằng giặc kia, mày có ăn thịt tao không đây?” - chắc hẳn là nó nghĩ như vậy. Nhưng ngửi một thôi một hồi, con lớn bỏ đi, vì thấy chẳng có gì đặc biệt cả. Belka lại nhảy lên, lại tập tễnh đi theo bầy chó dẫn đầu là con Zhuchka nào đó. Mặc dù nó biết rằng chẳng có bao giờ nó được làm quen với con Zhuchka, thế nhưng từ đằng xa nó vẫn tập tễnh đi theo - điều ấy đối với nó là niềm an ủi trong mọi đau khổ. Về danh dự thì rõ ràng là nó đã thôi không còn nghĩ đến nữa. Nó đã mất hết mọi đường sự nghiệp trong tương lai, giờ đây nó chỉ còn sống nhờ mẩu bánh mỳ và nó hoàn toàn nhận thức được điều đó. Tôi đã có lần thử âu yếm với nó; chuyện ấy với nó thật mới mẻ và thật bất ngờ, đến nỗi nó nằm bệt hẳn xuống đất, duỗi dài cả bốn chân, toàn thân run rẩy và bắt đầu rống rít lên tỏ ý yêu thương. Từ đấy tôi động lòng xót, nên vuốt ve nó nhiều hơn. Đối lại, hễ gặp tôi nó không thể không rống rít lên. Nhìn thấy tôi từ xa nó đã rống rít, rống rít với cả lòng thương cảm và chảy nước mắt. Thế nhưng kết cục là một hôm nó ra sau trại và bị một bọn chó cắn chết trên đê.
Còn con Kultyapka thì tính nết lại khác. Vì sao lúc bé nó còn chưa mở mắt mà tôi vẫn cứ đem nó từ xưởng cơ khí về trại để nuôi thì tôi cũng không biết nữa. Tôi thích được cho nó ăn và chăm nó lớn. Con Sharik ngay lập tức nhận trông nom con Kultyapka và đêm đêm ngủ liền với nó. Khi Kultyapka lớn lên, nó cho phép con bé gặm gặm tai nó, giật giật lông nó và chơi đùa với nó, như chó lớn vẫn thường chơi đùa với chó nhỏ vậy. Có điều lạ là con Kultyapka không lớn lên về chiều cao, mà chỉ lớn theo chiều dài, chiều rộng. Nó có bộ lông xù, màu lông chuột sáng, một tai cụp xuống, một tai lại vểnh lên. Tính nó hung hăng, nhiệt thành, giống như những con chó mừng vui khi nhìn thấy chủ là hay kêu rít lên, sủa ăng ẳng, nhảy lên liếm mặt và ngay trước mặt khách nó cũng không ngần ngại thể hiện tất cả những tình cảm khác nữa của mình “Nó chỉ cần biết hứng khởi, còn lịch sự là điều không có ý nghĩa gì cả!”. Thường là dù tôi ở đâu, nhưng hễ tôi gọi “Kultyapka!” là nó xuất hiện ngay từ bất kỳ xó xỉnh nào, có thể là từ dưới đất chui lên, và với tiếng rít sung sướng nó chạy bay đến rồi cuộn mình lăn ra như một quả bóng trên đường. Tôi yêu con thú cưng bé nhỏ này lắm. Có lẽ là số phận đã chuẩn bị sẵn cho nó toàn những niềm thoải mái, vui sướng. Nhưng rồi một ngày kia cái anh chàng trại nhân Neustroev chuyên nghề khâu dép đàn bà và đánh xi đồ da đã để ý đặc biệt đến nó. Có một điều gì đó bỗng khiến anh ta ngạc nhiên. Anh ta gọi nó đến gần, vuốt lông nó rồi dịu dàng vật ngửa nó ra. Con Kultyapka không có điều gì nghi ngại, nó rít lên vui mừng. Nhưng đến sáng hôm sau nó biến đi mất. Tôi đi tìm nó hoài, nhưng vẫn biệt tăm, mãi hai tuần sau tôi mới vỡ lẽ: Neustroev quá thích bộ da của Kultyapka. Anh lấy bộ da lông nó đem thuộc để làm đôi giày mùa đông bọc nhung theo yêu cầu của một cô khách. Khi làm xong anh đem khoe tôi. Bộ lông đẹp đến kinh ngạc. Kultyapka đáng thương quá!
Trong trại này có nhiều người làm nghề thuộc da, họ mang về những chú chó có bộ lông đẹp và ngay lập tức chúng nó biến mất. Có những con thì họ ăn cắp, có những con thậm chí họ phải đi mua. Tôi nhớ có lần sau bếp tôi nhìn thấy hai anh trại nhân đang thì thào bàn tán với nhau. Một anh giữ dây buộc một con chó to tuyệt vời, rõ ràng thuộc loại nòi hiếm. Có một tên đầy tớ khốn kiếp nào đó đã dắt chó nhà chủ bán cho bọn làm giày ở đây lấy ba mươi cô-pếch bạc. Hai anh này đang chuẩn bị treo cổ nó. Cách làm này rất tiện lợi: họ chỉ lột da, còn cái xác thì vứt xuống đường hào nước thải sâu và rộng ngay ở góc phía sau trại mà cứ đến mùa hè, lúc trời nắng rát, là hào nước bốc mùi khắm thối nồng nặc. Hào nước này đôi khi cũng được nạo vét. Có vẻ như con chó đáng thương kia cũng đã nhận ra số phận sắp dành cho nó. Nó hối hả lần lượt nhìn ba người chúng tôi, thỉnh thoảng mới dám lúc lắc cái đuôi xù lông, chừng như muốn làm chúng tôi mủi lòng khi bày tỏ dấu hiệu tin cậy chúng tôi. Tôi đứng mấy phút rồi chuồn đi, còn bọn họ thì chắc chắn là kết thúc công việc một cách hoàn hảo.
Đàn ngỗng trong trại cũng được nuôi ngẫu nhiên. Ai nuôi chúng và chúng thuộc về ai tôi cũng không rõ, nhưng có một thời gian đàn ngỗng là nguồn vui của anh em và thậm chí trong thị trấn cũng biết như vậy. Chúng được nuôi trong trại và được ngủ trong bếp. Khi đàn ngỗng đã lớn, chúng được dẫn đi làm cùng với anh em trại nhân. Mỗi khi có tiếng trống nổi lên và đoàn tù khổ sai bắt đầu xuất quân thì đàn ngỗng cũng kêu quang quác chạy theo chúng tôi, hai cánh mở rộng, con nọ nối đuôi con kia nhảy qua bậc cửa cao đậu trên ngọn rào rồi lao mình sang bên cánh phải xếp hàng với nhau, chờ cho xong việc tách đội. Bao giờ chúng cũng nhập vào với đội đông nhất và khi mọi người làm việc thì chúng gặm cỏ ở gần đấy. Đội tù bắt đầu lao xao kéo nhau về trại thì chúng cũng lục tục về theo. Khắp cả khu pháo đài lan truyền câu chuyện về đàn ngỗng đi làm cùng với tù nhân. Mọi người gặp nhau là kháo: “Này, tù nhân đi làm cùng với ngỗng đấy. - Các anh huấn luyện ngỗng giỏi thật!” - “Các anh nhìn đàn ngỗng đây này! - một người nói thêm và cho chúng ăn. Nhưng mặc dù đàn ngỗng rất trung thành, đến một ngày ăn kiêng nào đó người ta vẫn cắt tiết chúng.
Ngược lại, con dê Vaska của chúng tôi thì chẳng vì lý do gì mà người ta cắt cổ nó, nếu không xảy ra một tình huống thật đặc biệt. Tôi cũng không biết vì sao nó lại xuất hiện trong trại, và mang nó vào, chỉ biết rằng bỗng nhiên trong trại có một con dê con be bé màu trắng tuyệt xinh. Sau mấy hôm mọi người đều yêu mến nó, và nó đã trở thành niềm an ủi và thậm chí là niềm vui chung. Anh em đã tìm được lý do để nuôi dưỡng nó: trong trại cạnh chuồng ngựa cần có một con dê. Tuy nhiên, con dê không sống trong chuồng ngựa, đầu tiên nó ở trong bếp, sau đó nó ở khắp nơi trong trại. Đó là một sinh vật thật duyên dáng và thật đáng cưng. Hễ ai gọi là nó chạy đến, nhảy cả lên ghế, lên bàn, nó đá nhau với các tù nhân, lúc nào cũng vui vẻ và nghịch ngợm. Một lần người ta đã phải cưa đi cặp sừng dài của nó. Một buổi chiều anh chàng người lezgin[2] tên là Babai ngồi trên bậu cửa cùng với các anh em khác đã kiếm chuyện chơi đá nhau với nó. Hai bên đã từng nhiều lần chơi cộp trán với nhau - đó là trò chơi thú vị của anh em tù nhân với nó, thế nhưng bỗng nhiên con Vaska nhảy lên bực cửa cao nhất, Babai vừa quay người sang một bên, thì trong nháy mắt nó bật lên như cái lò xo, thu gọn hai chân trước lại rồi lấy đà phóng một cú đá vào gáy Babai, đến nỗi anh chàng lăn quay từ trên bực xuống trước sự thống khoái của mọi người có mặt và của cả Babai nữa. Tóm lại Vaska được anh em yêu chiều hết cỡ. Khi nó lớn lên, anh em tổ chức một cuộc họp toàn thể và nghiêm túc, sau đó tiến hành một cuộc phẫu thuật nổi tiếng, mà các nhà thú y của chúng tôi thực hiện rất thành công. “Nếu không thế thì nó sẽ có mùi hôi của dê”, - anh em trại nhân nói vậy. Sau ngày ấy Vaska cứ béo đẫy ra. Bây giờ người ta nuôi nó chỉ để chờ thịt. Cuối cùng nó đã thành một con dê lớn ngạo nghễ với cặp sừng thật dài và rất to béo. Nó đi lại núng na núng nính. Nó cũng được phép đi làm cùng với chúng tôi để làm vui cho anh em và cho những người qua lại. Ai cũng biết đến con dê Vaska của trại. Đôi khi, nếu anh em đi làm trên bờ sông thì anh em chặt những cành liễu mềm, kiếm thêm những bó lá các loại khác nhau, hái thêm nhiều hoa rồi đem trang điểm cho Vaska. Cặp sừng nó được quấn đầy cành cây hoa lá, toàn thân nó được đeo lủng lẳng các dây hoa. Lúc đi về trại bao giờ nó cũng đi đằng trước anh em, toàn thân xanh đỏ lộng lẫy, còn mọi người đi sau, rạng rỡ tự hào trước mắt những người qua lại. Mọi người say mê nhìn ngắm đến nỗi thậm chí có những người nảy ra ý nghĩ như trẻ con: “Nên chăng là dát vàng lên cặp sừng cho Vaska!” Nhưng là nói thế thôi, chứ không ai làm việc ấy cả. Tuy nhiên, tôi vẫn còn nhớ rằng tôi đã hỏi ông Akim Akimych, ông thợ chế tác vàng giỏi nhất của chúng tôi sau Isai Fomich, rằng liệu có thể mạ vàng được cặp sừng ấy không? Đầu tiên ông chăm chú nhìn con dê, suy nghĩ lung lắm, rồi mới trả lời rằng có lẽ là được, “nhưng lớp vàng sẽ không được chắc và hơn nữa là hoàn toàn vô dụng”. Câu chuyện kết thúc là như vậy. Con Vaska còn sống khá lâu trong trại, và lẽ ra nó đã chết vì ngạt thở, nhưng một hôm nó dẫn đầu đoàn tù nhân đi làm về với các đồ trang trí đầy người, nó gặp phải tên thiếu tá đi xe ngựa tới. Hắn quát lên: “Đứng lại! Con dê của ai thế này?” Anh em giải thích cho hắn. “Thế là thế nào? Không có phép của tôi làm sao nuôi dê trong trại! Hạ sĩ đâu!” Viên hạ sĩ xuất hiện, và ngay lập tức hắn được lệnh đem dê giết ngay. Bộ da dê được lột đem bán ngoài chợ, tiền bán được sung vào công quỹ, còn thịt thì cho anh em nấu súp. Trong trại anh em xì xào thương tiếc, nhưng không dám trái lệnh. Con Vaska được đem cắt tiết chỗ hào nước thải. Cả khối thịt nó được một anh em mua trọn và trả cho trại một rúp rưỡi. Số tiền ấy anh em dùng để mua bánh mỳ. Anh bạn mua con dê đem xẻ thịt ra bán lẻ cho anh em để nướng ăn chơi. Thịt nó quả là tuyệt trần.
Lại một thời gian trong trại chúng tôi có con đại bàng, thuộc dòng đại bàng thảo nguyên không lớn lắm. Có ai đó đã mang nó vào trại khi nó đang bị thương và ốm lả. Cả trại chăm sóc nó; nó không bay được: cánh bên phải xệ hẳn xuống đất, một chân sai khớp. Tôi còn nhớ rằng nó nhìn một cách giận dữ vào đám người xung quanh tò mò, rồi nó há thật to cái mỏ khoằm khoằm như chuẩn bị ra một đòn chí mạng rồi có chết thì chết. Khi mọi người nhìn đã chán mắt và tản đi khắp nơi, nó mới tập tễnh nhảy lò cò một chân, rồi vẫy lên chiếc cánh còn khỏe, lao mình đến góc trại xa nhất, ngã dúi dụi vào một xó, ngồi xép nép chỗ chân cọc rào. Đó là nơi nó sống ba tháng ròng rã và không có lúc nào đi ra ngoài cái khoanh đất ấy. Đầu tiên mọi người còn hay đến xem, còn xua cả chó đến nữa. Con Sharik hùng hổ lao vào, nhưng rõ là cu cậu cũng sợ đến gần, khiến đám tù nhân rất khoái trá. Mọi người bảo “Thú hoang mà! Không chơi được đâu!” Sau đó cả đến con Sharik cũng làm nó bực bội điên cuồng. Nỗi khiếp sợ đã qua đi, và khi bị xua vào, con Sharik đã khôn ngoan cắn vào bên cánh đau của nó. Con đại bàng dùng móng vuốt và mỏ nhọn chống trả quyết liệt một cách vừa tự hào vừa man dại, giống như một vị vua bị trúng thương phải ngồi một góc nhìn mọi người tò mò đến ngắm. Cuối cùng rồi mọi người cũng chán, cũng bỏ rơi nó và quên nó đi. Tuy vậy, ngày nào bên cạnh nó cũng có một miếng thịt tươi và một bát nước uống. Có một người nào đó vẫn quan tâm theo dõi nó. Đầu tiên nó không muốn ăn, nó không ăn gì vài ba hôm, nhưng rồi nó cũng mổ mấy miếng, nhưng không bao giờ nó ăn trên tay ai hoặc trước mắt ai. Tôi cũng đã có dịp được mấy lần quan sát nó từ xa. Khi không nhìn thấy ai, nó ngỡ rằng chỉ có một mình, nó mới thỉnh thoảng bước ra ngoài mươi bước dọc theo hàng cọc rào, rồi lại trở lại, rồi lại bước ra, dường như đó là cách đi dạo lấy sức vậy. Chợt nhìn thấy tôi, nó thu hết sức, vừa đi lò dò vừa nhảy, trở về chỗ cũ, rồi nó ngoảnh đầu ra phía sau, há miệng thật to, xù lông ra và lập tức thủ thế chiến đấu. Tôi dùng mọi cách vỗ về mà không sao làm nó dịu lại được: nó cắn đớp và dãy dụa, tôi cho thịt nó không ăn, và cứ lúc nào tôi đứng cạnh nó là nó nhìn chằm chằm vào mắt tôi bằng cái nhìn dữ dằn, xuyên thấu của nó. Nó chờ đợi Thần Chết trong cảnh cô đơn và trong trạng thái hung dữ, không tin tưởng ai và không khoan nhượng với ai. Cuối cùng mọi người chợt nhớ đến nó. Mặc dù không ai quan tâm, suốt hai tháng không ai nhắc gì đến nó, nhưng đột nhiên một nỗi cảm thông bỗng day dứt mọi người. Người ta bảo rằng phải thả nó ra “Thôi, nó chết thì nó chết, nhưng không thể giam nó trong trại” - một số người nói thế. Một số khác đá theo:
- Các bạn biết đấy, nó là chim trời, sống đời gió bụi, ta không thể ép nó vào trại.
Có người nói thêm:
- Biết rồi, nó không như chúng ta.
- Chứ gì. Nó là chim, còn chúng ta là người.
- Anh em ạ, đại bàng là chúa sơn lâm... - Anh chàng Skuratov định nói, nhưng lần này không ai nghe anh. Một hôm, sau giờ ăn trưa, khi trống báo ca chiều nổi lên, người ta bắt con đại bàng, có người lấy tay khóa chặt mỏ nó, vì nó bắt đầu chiến đấu điên cuồng, rồi mang ra khỏi trại, đi đến chỗ bờ đê. Nhóm này có khoảng mười hai người. Họ tò mò muốn xem chú chim này bay đi đâu. Thật kỳ lạ: mọi người như có điều gì hài lòng lắm, dường như phần nào đó họ được tự do vậy.
- Chó má thật: mình làm cho nó bao nhiêu điều tốt mà nó vẫn cắn đuổi! - đó là tiếng nói của anh chàng lúc nãy giữ nó, giờ thì như đang tràn ngập tình yêu nhìn con thú hung bạo.
- Anh Mikitka, thả nó ra đi!
- Đừng bắt nó sống kiếp sống trong va ly. Hãy trả cho nó tự do, tự do hoàn toàn, mà nó có quyền được hưởng.
Từ mặt đê con chim đại bàng được tung vào thảo nguyên. Lúc ấy đang vào tiết trọng thu, một ngày lạnh giá, âm u. Gió rít lên từ ngoài thảo nguyên trơ trụi rồi kêu rào rào trên mặt cỏ vàng úa, xác xơ, khô héo. Con đại bàng bay thẳng đi, nó vẫy cả chiếc cánh đau, dường như vội vã trốn xa chúng tôi tới phương trời tít tắp. Anh em tù nhân đau đáu nhìn theo, khi bóng chim chỉ còn thấp thoáng giữa biển bờ cỏ dại. Một người nói:
- Thế là hết!
- Nó không thèm nhìn lại! - một người khác nói thêm. - Anh em ơi, không một lần ngoái cổ, nó biến thật rồi!
- Thế anh tưởng nó phải quay lại cám ơn à? - một người khác nhận xét.
- Biết rồi, tự do. Nó được nếm mùi tự do.
- Tự do là thế.
- Mà chúng ta thì chưa được, anh em à...
- Làm sao cứ đứng đực ra thế? Lên đường! - Bọn áp giải hô lên, và mọi người lặng lẽ lê bước đi làm.
❀ ❀ ❀
[1] Tên ngựa Gnedko bắt nguồn từ tính từ “gnedoy” nghĩa là “màu tía” (N.D.).
[2] Dân tộc sống ở vùng Dagestan và Azerbaidzhan (N.D.).