Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III - TIẾP TỤC
III TIẾP TỤC

❊ ❊ ❊

Lúc nãy tôi đã nói về các vụ trừng phạt, cũng như về những tên thừa hành các nghĩa vụ thú vị này, chính là bởi vì khi được chuyển vào nằm viện tôi mới có ý niệm sơ bộ về những việc này. Từ trước tôi chỉ được biết qua chuyện kể của người khác thôi. Tập trung về hai phòng bệnh của chúng tôi là tất cả những kẻ can án bị trừng trị bằng roi liễu của tất cả các tiểu đoàn, các trại giam và các đơn vị quân ngũ khác đóng trong thị trấn chúng tôi và ở ngoại ô. Thời kỳ đầu, khi tôi còn mải mê theo dõi cái trật tự kỳ lạ xảy ra quanh tôi, thì những kẻ bị hành tội và sắp sửa bị hành tội lẽ tự nhiên là gây ra cho tôi một ấn tượng mạnh. Tôi bị xúc động, giận dữ và kinh ngạc. Tôi vẫn còn nhớ, khi đó tôi đột nhiên hăm hở đi sâu tìm hiểu các chi tiết của các hiện tượng mới này, lắng nghe đối thoại và câu chuyện theo chủ đề đó của các trại nhân, tự mình đưa ra câu hỏi và đi tìm các giải pháp. Hơn thế nữa, tôi còn muốn biết ngay các mức án và mức thi hành án, các sắc thái thi hành, quan điểm của các tù nhân đối với những chuyện đó, tôi cố gắng hình dung ra trạng thái tâm lý của những người bước ra chịu án. Tôi đã nói rằng trước lúc bị hành xử ít ai có thể lạnh lùng, thậm chí không loại trừ cả những người trước đó đã nhiều lần bị ăn roi gậy. Nói chung người bị kết án bao giờ cũng có một nỗi sợ hãi căng thẳng, nhưng thuần túy là thể chất, nỗi sợ hãi ngoài ý muốn, không tả hết được và đè nặng lên toàn bộ con người đạo lý của anh ta. Sau này, trong suốt mấy năm khổ sai tôi đã vô tình để mắt đến những bị can, những người nằm viện sau khi đã chịu một nửa trận đòn và phải chữa trị cái lưng, rồi sau ra viện để mai mốt lại chịu nốt nửa phần roi gậy. Việc chia đôi khổ hình luôn được thực hiện theo quyết định của vị thày thuốc ngồi dự tra tấn. Nếu số đòn roi lớn quá, tù nhân một lần chịu không nổi, thì phải chia đôi, thậm chí chia ba, tùy theo phán quyết của bác sĩ ngay lúc hình xử, tức là có thể người chịu tội phải bước tiếp chặng đường roi gậy, hoặc là điều đó đi kèm với hiểm họa mạng sống. Thường thường một lần người đó bị đòn năm trăm, một nghìn, thậm chí một nghìn rưởi roi gậy, nhưng nếu lệnh án lên tới hai nghìn, ba nghìn thì phải chia ra hai lần hoặc ba lần. Những người đã được chữa lành cái lưng sau nửa trận đòn, thì ngày xuất viện và ngày trước đó thường là những ngày u ám, buồn tủi, chẳng biết nói cùng ai. Người ta để ý thấy rằng trí óc của họ có phần đờ đẫn, có vẻ đãng trí khác thường. Một người như thế không tham gia vào các cuộc trò chuyện và giữ im lặng nhiều hơn; điều đáng hiếu kỳ hơn cả là bản thân anh em tù nhân không bao giờ nói chuyện với người như vậy và không bao giờ gợi chuyện về những gì sắp xảy ra với anh ta. Không nói thừa một lời nào, không an ủi một câu nào, thậm chí nói chung là ít quan tâm đến một người như thế. Tất nhiên, như vậy cũng là tốt hơn đối với bị can. Cũng có những ngoại lệ, chẳng hạn như anh Orlov mà có lần tôi đã nhắc đến. Sau nửa trận đòn trừng phạt anh ta chỉ bực bội một điều là cái lưng mãi không kín miệng và anh ta không được xuất viện sớm để chịu nốt số đòn còn lại, để được đi cùng đoàn tù của mình đến chỗ đi đày đã định và được đào thoát dọc đường. Nhưng anh ta lại bị phân tâm vì cái mục tiêu, có trời biết được, đã hình thành trong đầu óc anh. Đó là cái bản năng đầy say mê và đầy sức sống. Anh thấy rất thỏa mãn trong trạng thái hưng phấn mạnh mẽ, dù rằng anh đã kìm nén lại những cảm xúc của mình. Vấn đề là ở chỗ ngay trước nửa trận đòn đầu tiên anh nghĩ rằng người ta không ngừng đánh anh và anh tất phải chết. Anh đã nghe được nhiều lời đồn đại về các biện pháp của bọn chỉ huy ngay từ khi anh còn bị tạm giam. Lúc đó anh đã tự chuẩn bị cho cái chết đến. Nhưng, qua được nửa trận đòn anh lại tỉnh ra. Lúc vào viện anh đã rũ rượi, nửa sống nửa chết. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy những vết bầm loét như vậy, nhưng anh lại vào viện với niềm vui trong tâm, với niềm hy vọng rằng anh vẫn sẽ còn sống, rằng những lời đồn đoán kia là thất thiệt, rằng người ta đã ngừng đánh anh đấy thôi, cho nên bây giờ, sau nhiều ngày tháng tạm giam, anh lại bắt đầu mơ đến một con đường, một cuộc trốn chạy, mơ đến tự do, đến những cánh đồng và những rừng cây... Hai ngày sau khi xuất viện anh đã chết cũng trong bệnh viện ấy, cũng trên cái giường cũ ấy vì không chịu nổi nửa trận đòn thứ hai. Nhưng chuyện này tôi đã nhắc đến rồi.

Tuy nhiên, ngay cả những tù nhân đã trải qua những ngày đêm nặng nề trước khi bị trừng phạt, cũng đã vượt qua được cực hình một cách dũng cảm, kể cả những người yếu bóng vía nhất. Ít khi tôi nghe thấy những tiếng rên rỉ thậm chí trong suốt cái đêm đầu tiên vào viện, thậm chí nhiều khi của cả những người bị đánh đập hết sức nặng nề; nói chung người dân bao giờ cũng biết chịu đựng đau đớn. Tôi đã đi hỏi nhiều người về những nỗi đau. Đôi khi tôi muốn tìm hiểu chính xác rằng những nỗi đau ấy lớn đến chừng nào, và cuối cùng, có thể so sánh chúng với cái gì được? Quả thật, chính tôi cũng không biết rằng tôi tìm hiểu như thế để làm gì. Tôi chỉ nhớ một điều, đó không phải là thứ tò mò hão huyền. Tôi nhắc lại là tôi đã rất xúc động và rất kinh ngạc. Nhưng dù tôi có hỏi ai đi nữa thì tôi cũng không thể nào tìm được câu trả lời thỏa đáng cho tôi. Đau cháy như bị lửa thiêu vậy, - đó là tất cả những gì tôi tìm hiểu được, và đấy là câu trả lời duy nhất của mọi người. Đau cháy, và chỉ thế thôi. Cũng trong những ngày đầu tiên này tôi có làm quen với anh M. và đã hỏi han anh ta. Anh trả lời rằng “Đau lắm, cảm giác như là lửa đốt, lưng mình như bị nung trên lửa đỏ”. Tóm lại, tất cả mọi người đều chỉ nói ra bằng có một từ. Tuy vậy, tôi nhớ rằng khi đó tôi đã có một nhận xét kỳ lạ, mà tôi cũng không dám chắc về tính đúng đắn của nó, nhưng cái chung nhất trong cách lên án của chính các tù nhân đã ủng hộ cho nhận xét đó: đó là những ngọn roi, nếu được ra đòn với số lượng lớn, thì đấy là sự trừng phạt nặng nề nhất trong tất cả mọi cách trừng phạt được sử dụng đối với chúng tôi. Thoạt nhìn thì điều đó tưởng chừng như vô lý và không phải như vậy. Tuy nhiên, từ năm trăm roi, thậm chí từ bốn trăm roi đã có thể cắt thịt con người đến chết; còn trên năm trăm thì gần như cầm chắc cái chết. Một nghìn roi một lần thì thậm chí một người có thân hình cường tráng nhất cũng không thể chịu nổi. Thế nhưng năm trăm gậy thì lại có thể chịu đựng được mà không nguy hiểm chút nào đối với mạng sống. Một ngàn gậy có thể chịu được không nguy hiểm đến tính mệnh ngay cả đối với một người có cơ thể không khỏe mạnh lắm. Tất cả tù nhân đều nói rằng đòn roi khủng khiếp hơn là đòn gậy. “Roi ăn vào thịt hơn, - họ nói, - đau đớn cũng dữ hơn”. Tất nhiên là roi đau hơn gậy. Roi kích động mạnh hơn, tác động lớn hơn đến thần kinh, khiến thần kinh căng thẳng quá mức, bị chấn động cao hơn sức chịu đựng. Tôi không biết bây giờ thế nào, chứ còn mới đây có những công tử mà khả năng đánh đến chết nạn nhân của mình đã đem đến cho họ một cái gì đó gợi nhớ đến các hầu tước de Sade[1] và Brenvilliers[2]. Tôi nghĩ rằng trong cảm xúc này cũng có một cái gì đó khiến trái tim của các công tử đó chết dần chết mòn, chết ngọt ngào xen lẫn đớn đau. Có những con người giống loài hổ đói thèm liếm máu tươi. Kẻ nào đã một lần được nếm trải quyền lực đó, đó là sự thống trị không giới hạn đối với thân thể, máu thịt và tinh thần của một người anh em cũng giống như mình, cũng được nặn ra theo luật định của Chúa, kẻ nào đã được nếm trải quyền lực và khả năng hoàn toàn có thể hạ nhục một cách tệ hại nhất một sinh linh khác cũng mang trên mình hình ảnh Chúa, thì kẻ đó vô tình cũng đã không còn quyền lực gì trong những cảm xúc của mình nữa. Bạo hành là một thói quen, nó có bản năng phát triển, cuối cùng nó phát triển thành bệnh. Tôi giữ nguyên ý kiến cho rằng vì thói quen mà một người tốt nhất có thể trở nên thô bạo và ngu độn đến mức thú dữ. Máu tươi và quyền lực làm say lòng người, làm phát triển thói bạo ngược và thói trụy lạc. Những hiện tượng không bình thường nhất cũng trở nên dễ tiếp cận và cuối cùng trở nên ngọt ngào đối với lý trí và tình cảm. Con người nói chung và con người công dân sẽ chết vĩnh viễn trong thói bạo hành, còn con đường trở về với phẩm giá con người, với sự ăn năn, với cuộc tái sinh đối với kẻ đó hầu như là không thể có. Xin nêu một thí dụ: khả năng tự quyền như vậy có tác động lây lan đến toàn bộ xã hội: quyền lực như vậy có sức hấp dẫn lắm. Nếu xã hội nhìn hiện tượng đó một cách thờ ơ, thì tự thân xã hội cũng bị nhiễm bệnh trong căn cốt của mình. Tóm lại, cái quyền của người này được phép hành hạ thân xác người khác chính là một trong những ung nhọt của xã hội, là một trong những phương tiện hùng mạnh nhất để hủy diệt trong xã hội bất kỳ mầm mống nào, bất kỳ ý đồ nào mang tính công dân và là cơ sở đầy đủ khiến nó tàn rữa một cách chắc chắn và không gì cứu chữa được.

Trong xã hội, kẻ hành hình bị mọi người khinh bỉ, nhưng tên hành hình quý tộc thì gần như là không. Vừa mới đây thôi đã có người đưa ra ý kiến ngược lại, nhưng chỉ đưa ra trong sách vở một cách trừu tượng. Ngay cả những người nói ra như thế, nhưng không phải ai cũng dẹp bỏ được trong lòng mình cái nhu cầu được tự tung tự tác. Thậm chí bất kỳ ông chủ xưởng nào, nhà thầu khoán nào cũng nhất thiết phải cảm nhận được niềm thỏa mãn ngây ngất rằng kẻ làm công cho ông ta đang phụ thuộc hoàn toàn, với tất cả gia quyến, một cách duy nhất vào ông ta. Điều này chắc hẳn là như vậy. Không thể ngày một ngày hai mà một thế hệ cắt đứt được những gì là truyền thống kế thừa của nó; không thể ngày một ngày hai con người đoạn tuyệt được với những gì đã ăn vào máu thịt anh ta, đã truyền đời truyền kiếp đến anh ta theo nguồn sữa mẹ. Không thể có những bước ngoặt mau lẹ như thế. Ý thức được sai lầm và tội lỗi là chuyện còn hiếm, rất hiếm. Người ta cần phải học cách để đoạn tuyệt. Mà làm điều đó chẳng mau chóng đâu.

Tôi đã nói đến kẻ hành hình. Những thuộc tính của kẻ hành hình gần như đã có trong mỗi con người hiện tại từ trong trứng nước. Nhưng những thuộc tính thú vật của con người thì phát triển không đồng đều. Nếu trong con người chúng phát triển lấn lướt các thuộc tính khác, thì tất nhiên con người đó trở nên khủng khiếp và vô lại. Kẻ hành hình có hai loại: một loại là tình nguyện, loại khác là bất đắc dĩ. Tất nhiên, kẻ hành hình tình nguyện xét về mọi mặt thì thấp kém hơn loại bất đắc dĩ, chúng lại bị dân chúng khinh bỉ, khinh bỉ kinh khủng, khinh bỉ đến mức khốn nạn, không thèm nhìn mặt, gần như là một thứ sợ hãi huyền bí. Vì sao mà lại có thứ sợ hãi gần như mê muội đối với tên kẻ hành hình này, nhưng lại thờ ơ, dường như là đồng tình với tên kẻ hành hình khác? Đã có những dẫn chứng kỳ lạ đến mức cực đoan: tôi đã quen biết nhiều con người thậm chí là tốt bụng, thậm chí là lương thiện, thậm chí là đáng kính ở trong xã hội, thế mà những kẻ đó lại không thể chịu đựng được một cách lạnh lùng, nếu như kẻ tội đồ không kêu la dưới làn roi gậy, không lạy van và không xin tha. Điều ấy đã thành lệ; điều ấy được coi là thói quen và là cần thiết, và nếu như có một ngày nạn nhân không kêu la, còn kẻ hành hình, tức là người tôi đã biết và là người trong những quan hệ khác có thể được coi là người tốt bụng, thì trong trường hợp này chính kẻ đó lại thấy bực bội. Đầu tiên người đó muốn trừng phạt nhẹ nhàng, nhưng khi không nghe thấy câu nói cửa miệng “Lạy ngài, cha đẻ của con, xin thương lấy con, xin để cho con cầu Chúa cho ngài” v.v... thì người đó nổi cơn tam bành và cho quất thêm năm mươi roi nữa, mong làm bật ra tiếng kêu gào và lời cầu tha, - và rồi điều ấy cũng đạt được. “Không được, thế là thô lỗ” - người đó trả lời tôi rất nghiêm túc. Còn nói về tên kẻ hành hình thực sự, bất đắc dĩ, bị bắt buộc, thì ai cũng biết rằng: đó là một tù nhân thành án và bị kết tội lưu đày, nhưng được giữ lại làm kẻ hành hình, đầu tiên người đó phải đi học kẻ hành hình khác, và khi học được rồi thì được giữ lại vĩnh viễn trong trại, nơi người đó bị giam đặc biệt, có phòng riêng, thậm chí có cả đồ đạc, nhưng gần như luôn luôn có lính canh giữ. Tất nhiên, con người không phải là máy móc; kẻ hành hình đánh người dù là vì nhiệm vụ, nhưng đôi khi cũng say máu, nhưng dù đánh người không phải là không có niềm vui cho mình, thì ngược lại, hầu như người đó chẳng bao giờ có thù oán riêng đối với nạn nhân. Sự ra đòn khéo léo, sự hiểu biết công việc, lòng mong muốn được thể hiện mình trước anh em đồng trại và trước công chúng đã thúc đẩy lòng tự yêu bản thân mình của người đó. Người đó vất vả là vì nghệ thuật. Ngoài ra người đó biết rất rõ rằng mình là kẻ bị tất thảy mọi người ruồng bỏ, rằng nỗi sợ hãi mê muội đang đón gặp và theo đuổi người đó khắp nơi, và ta không thể nào đoan chắc rằng điều ấy không ảnh hưởng gì đến người đó, không làm gia tăng cơn giận dữ trong lòng và không thúc đẩy những xu hướng thú vật. Ngay đến trẻ con cũng biết rằng người đó đã “từ bỏ cả cha lẫn mẹ”. Có điều lạ lùng là dù tôi đã có rất nhiều dịp được gặp mặt những kẻ hành hình, thì tất cả bọn họ đều là những người có đầu óc phát triển, có hiểu biết, có trí khôn và có lòng tự ái phi thường, thậm chí là tự hào nữa. Phải chăng lòng tự hào này trong lòng họ được phát triển là để cân bằng lại sự khinh bỉ mà mọi người vẫn dành cho họ; phải chăng lòng tự hào được thúc đẩy là nhờ ý thức về nỗi sợ hãi của họ đối với nạn nhân, và nhờ tình cảm thống trị đối với nạn nhân, - những điều ấy tôi không biết được. Thậm chí ngay cả tính trang trọng và tính sân khấu trong cách mà họ thể hiện khi bước ra trước công chúng trên đoạn đầu đài cũng thúc đẩy sự phát triển trong lòng họ một chút thói kênh kiệu. Tôi còn nhớ một lần trong suốt một thời gian tôi thường được gặp và quan sát gần gặn một kẻ hành hình. Đó là một anh chàng tầm thước, có cơ bắp, người hơi gầy gò, trạc bốn mươi tuổi, khuôn mặt khá dễ gần và thông minh với mái tóc xoăn. Anh ta lúc nào cũng ra bộ quan trọng và bình tĩnh; bề ngoài có vẻ quí phái, trả lời ai bao giờ cũng ngắn gọn, có lý có lẽ và thậm chí là dịu dàng, nhưng hình như là thứ dịu dàng kênh kiệu, hình như anh ta có gì kiêu căng với tôi. Các sĩ quan tuần tra thường nói chuyện với anh ta ngay trước mặt tôi, thậm chí còn tỏ ra có đôi phần kính nể anh ấy. Anh ta ý thức được điều này và khi gặp thượng cấp vẫn cố tình gia tăng mức độ lịch thiệp, nghiêm nghị và lòng tự trọng. Thượng cấp càng tỏ ra mềm dịu bao nhiêu, thì anh ta lại càng tỏ ra cố chấp bấy nhiêu. Mặc dù anh ta đối xử hoàn toàn không phải là xuất phát từ mức độ lịch thiệp tinh tế nhất, nhưng tôi tin chắc rằng trong giờ phút đó anh ta đã đặt mình cao hơn vị thượng cấp đang trò chuyện với anh ta. Gương mặt anh lộ rõ điều đó. Thường có những chuyện thế này; đôi khi vào một ngày nắng gắt anh ta được sai đi cùng với một tên áp giải cầm một chiếc sào nhỏ và dài để xua đánh những con chó trong thị trấn. Thị trấn này có rất nhiều chó hoàn toàn vô chủ và phóng chạy với tốc độ phi thường. Trong những ngày học sinh nghỉ hè chúng trở nên nguy hiểm, nên theo lệnh chỉ huy kẻ hành hình phải được cử đi tiêu diệt. Nhưng ngay cả cái chức năng hèn mọn ấy rõ ràng là cũng không hề làm anh ta thấy hèn mọn. Muốn hiểu rõ điều đó cần phải nhìn thấy anh ta đi lại khắp các phố phường thị trấn với tinh thần trách nhiệm cao cả bên cạnh tên lính áp giải đã mệt nhoài và chỉ với vẻ bên ngoài của mình đã khiến đàn bà trẻ con sợ hãi, cần phải nhìn thấy anh ta bình thản và thậm chí là cao ngạo nhìn mọi người trước mặt. Tuy nhiên, kẻ hành hình thì phải sống thoải mái. Họ có tiền, ăn rất sang trọng và uống rượu. Tiền họ thu được qua nguồn đút lót. Kẻ bị can dân sự bị trừng phạt theo phán quyết tòa án thế nào cũng phải có lễ vật cho kẻ hành hình, dù là một cái gì đó sơ bộ từ trước, hoặc là khi ra khỏi tòa án. Nhưng đối với bọn dính án giầu có thì chính kẻ hành hình tự thu, tự định ra một khoản tiền tương ứng với khả năng tiền bạc của tù nhân. Với những bị can rất giàu thì họ lại càng mặc cả. Tất nhiên, kẻ hành hình không thể hành hạ quá nhẹ; nếu để lộ ra thì chính kẻ hành hình phải chịu trách nhiệm bằng chính cái lưng của mình. Nhưng để bù lại, với số tiền đút lót đầy đặn kẻ hành hình hứa với nạn nhân là sẽ đánh không đau lắm. Hầu như bao giờ người ta cũng đồng thuận với đề xuất của kẻ hành hình, nếu không thì anh ta sẽ trừng phạt dã man, vì việc đó hoàn toàn nằm trong tay anh ta. Cũng có khi anh ta đòi hỏi một khoản tiền lớn thậm chí đối với một bị can rất nghèo, người nhà bị can phải chạy đôn chạy đáo, mặc cả lên xuống, kêu nài van xin, và thật bất hạnh nếu không làm anh ta thỏa mãn. Trong những trường hợp như thế thì chỉ có nỗi sợ hãi mê muội mới giúp được anh ấy. Người ta đã kể ra biết bao nhiêu chuyện dị thường về những kẻ hành hình! Thế nhưng chính anh em trại nhân lại làm tôi tin rằng kẻ hành hình chỉ ra một đòn là có thể giết chết phạm nhân. Nhưng, thứ nhất, điều ấy đã được thử nghiệm khi nào? Cũng có thể là như thế. Về điều này mọi người nói đến một cách rất chắc chắn. Chính bản thân kẻ hành hình cũng đoan chắc với tôi rằng hắn có thể làm được như vậy. Người ta nói rằng hắn có thể vung hết sải tay mà quất vào lưng bị can, nhưng quất thế nào mà không để lại một vết sẹo và phạm nhân không hề cảm thấy đau đớn. Về những trò vờ vịt và tinh xảo đó thì đã có rất nhiều chuyện nói đến. Nhưng thậm chí nếu như kẻ hành hình có nhận đút lót để trừng phạt nhẹ tay thì ngọn roi hay cây gậy đầu tiên vẫn cứ phải là thẳng cánh và hết sức mạnh. Đối với cả bọn hành hình điều đó đã thành thông lệ. Những đòn sau hắn sẽ nhẹ tay hơn, đặc biệt nếu như đã có đồng tiền đi trước với hắn. Nhưng đòn đầu tiên - dù có trả tiền cho hắn hay không - thì vẫn là ngón đòn của riêng hắn. Quả thật tôi không biết chúng làm như thế để làm gì? Phải chăng là để ngay lập tức dạy cho phạm nhân quen với những ngọn đòn sau theo cách tính toán rằng sau một đòn rất mạnh thì những đòn sau đó nhẹ hơn sẽ là không quá đau đớn, hoặc giả đây chỉ đơn giản là cách lên gân lên cốt đối với nạn nhân, tạo ra hoảng sợ, làm nạn nhân kinh ngạc ngay từ đòn đầu, để nạn nhân hiểu rằng người ra đòn là ai, tóm lại là tự khoe mình. Trong mọi trường hợp, trước khi trừng phạt, bao giờ kẻ hành hình cũng cảm thấy mình trong trạng thái tinh thần hưng phấn, cảm thấy mình có quyền lực, ý thức được rằng mình là chúa tể; trong giờ phút đó hắn là diễn viên; cả đám khán giả đều ngạc nhiên và kinh hoảng, và tất nhiên, hắn không phải là không thỏa mãn khi quát lên với con mồi trước lúc ra đòn đầu tiên: “Nằm im, tao quật đây này!” - đó là những lời bình thường mà nghiệt ngã trong trường hợp này. Thật khó có thể hình dung được là bản tính con người có thể bị bóp méo đi đến là dường nào.

Thời kỳ đầu ở bệnh viện tôi rất chăm chú lắng nghe tất cả những câu chuyện của tù nhân. Tất cả chúng tôi nằm đây đều thấy buồn chán kinh khủng. Ngày nào cũng giống hệt như ngày nào mà thôi! Buổi sáng còn thấy vui vui khi bác sĩ đến thăm bệnh và chẳng bao lâu sau là đến bữa ăn. Thức ăn thì tuy rất đơn điệu, nhưng cũng làm khuây khỏa nhiều. Suất ăn thì khác nhau, được phân theo bệnh án của những người nằm đó. Có những người chỉ được một đĩa súp với một thứ bột gì đó, những người khác thì được toàn cháo, những người khác nữa thì lại được toàn cháo trân châu, là thứ mà rất nhiều người ham muốn. Những bệnh nhân nằm lâu thì sinh ra mềm yếu và ưa thích của ngọt. Những người khá khỏe và khỏe hẳn thì được một miếng thịt bò luộc, mà anh em vẫn gọi là “bò đực”. Suất hảo hạng là của bệnh nhân hoại huyết - thịt bò sào hành, sào củ cải vân vân... đôi khi còn có một ly rượu vodka nữa. Bánh mỳ cũng được chia theo bệnh án, gồm bánh mỳ đen hoặc nửa đen, được nướng rất nghiêm chỉnh. Tính hợp thức và tế nhị trong cách định danh suất ăn chỉ làm bệnh nhân buồn cười. Tất nhiên, có những thứ bệnh mà bệnh nhân chẳng ăn uống gì. Ngược lại, có những người bệnh luôn thấy ngon miệng và ăn tất cả những gì họ thích. Một số người trao đổi suất ăn cho nhau, thành ra suất ăn cho bệnh này lại chuyển sang cho loại bệnh hoàn toàn khác. Những người phải ăn suất ăn ít ỏi thì mua thêm thịt bò hoặc suất ăn của người hoại huyết, mua nước kvas và bia của những người có tiêu chuẩn. Có những người thậm chí ăn đến hai suất. Những suất này cũng được bán hoặc bán lại. Suất nào có thịt bò thì được bán giá khá cao: tới năm cô-pếch tiền giấy. Nếu phòng chúng tôi không có ai bán thì người ta nhờ bảo vệ sang phòng bên mua giúp, nếu bên ấy cũng không có thì sang phòng bệnh của lính, mà chúng tôi gọi là phòng bệnh “tự do”. Những người muốn bán bao giờ cũng có. Những người này chỉ ăn bánh mỳ suông, nhưng ngược lại, họ kiếm ra tiền. Tất nhiên, nghèo đói là thứ bệnh chung, nhưng người nào rủng rỉnh mấy xu thì lại nhờ người ra chợ mua thêm bánh ca-lát[3], thậm chí mấy thứ đồ ngọt v.v... Lính bảo vệ của chúng tôi thực hiện những yêu cầu ủy nhiệm đó hết sức vô tư. Thời gian sau bữa ăn là buồn chán nhất, có người chẳng có việc gì làm thì đi ngủ, có người ngồi tán dóc, có người cãi nhau, có người kể oang oang một câu chuyện gì đó. Nếu không có bệnh nhân mới được dẫn đến thì lại buồn chán hơn nữa. Bệnh nhân mới đến hầu như bao giờ cũng gây ra một ấn tượng gì đó, đặc biệt nếu anh ta chẳng quen biết ai. Mọi người so đo nhìn anh ta, gắng tìm hiểu xem anh ta là ai, đến đây như thế nào, đến từ đâu và vì cơn cớ gì. Trong trường hợp này thì đáng quan tâm nhất là những người bị chuyển viện: những người này cũng có kể lại đôi điều, nhưng không phải là những chuyện riêng tư bí ẩn; về những chuyện này, nếu anh ta không tự nói ra thì cũng không bao giờ có ai xăm xoi, mà chỉ hỏi đại khái như: anh từ đâu đến? ai đưa đi? đi đường nào? rồi sẽ đi đâu? v.v... Có những người thoáng nghe câu chuyện mới, lập tức tựa hồ nhớ ra một chuyện gì đó trong những chuyện của riêng mình: những lần chuyển viện, những đoàn phạm nhân, những tên thừa hành nhiệm vụ và những tên chỉ huy trong đoàn. Những phạm nhân bị quất roi liễu cũng thường đến vào giờ chiều này. Bao giờ họ cũng gây ra ấn tượng khá mạnh, tuy nhiên, điều này tôi cũng đã nhắc đến rồi; nhưng những phạm nhân này không phải ngày nào cũng có đến, và vào những ngày không có họ chúng tôi cảm thấy não nuột bâng khuâng, dường như các gương mặt nơi đây đều đã chán nhau đến tận mang tai, và thậm chí đã bắt đầu cãi lộn với nhau. Chúng tôi ở đây nhiều khi còn thấy vui vui vì có những người điên dại được gửi tới để thử nghiệm. Những kẻ can án vẫn thỉnh thoảng dùng thủ đoạn giả điên để khỏi bị trừng phạt. Một số người có ý đồ đó thì nhanh chóng bị phanh phui, hoặc nói đúng hơn, họ đã tự liều mạng để thay đổi chiến lược hành động của mình, và khi quả cảm liều thân hai ba ngày thì sau đó chẳng còn duyên cớ gì cả, họ bỗng dưng trở nên thông minh, dịu lại và bắt đầu với vẻ thiểu não cầu xin ra viện. Tất cả các bệnh nhân và bác sĩ đều không ai nhắc đến chuyện cũ và cũng không làm họ xấu mặt, khi nhắc đến những trò kia; mọi người lặng lẽ cho xuất viện, lặng lẽ tiễn chân họ, và chỉ hai ba ngày sau họ lại nhập viện sau một trận đòn. Nói chung, những trường hợp như thế là hiếm. Nhưng những người điên thật, được đưa đến để thử nghiệm thì đúng là đợt Chúa Trời trừng phạt phòng bệnh chúng tôi. Một số người điên thì vui vẻ, hoạt động, họ la hét, múa may, ca hát. Anh em đón tiếp họ ban đầu còn có vẻ hào hứng. “Vui quá đi!” - anh em nói với nhau khi nhìn cái anh chàng õng ẹo vừa mới bước vào. Còn tôi thì thấy thật nặng nề và đau lòng nhìn những người bất hạnh ấy. Tôi chưa bao giờ thấy nguội lạnh trong lòng khi thấy người điên.

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, những trò bất an và ưỡn ẹo của người điên vừa được đưa đến và được đón nhận bằng những tiếng cười trào lộng đã khiến tất cả chúng tôi chán ớn và chỉ vài ngày sau chúng tôi đã hoàn toàn không chịu đựng được nữa. Một anh chàng điên được lưu ở phòng chúng tôi đến khoảng ba tuần, chúng tôi chỉ muốn chạy khỏi phòng mà thôi. Thế mà, cứ như là cố tình, đúng lúc đó người ta lại mang đến một anh chàng điên nữa. Anh chàng này gây cho tôi một ấn tượng đặc biệt. Chuyện này xảy ra vào năm khổ sai thứ ba của tôi. Vào năm đầu tiên, hay nói đúng hơn, vào tháng đầu tiên trong cuộc đời khổ sai, vào mùa xuân, tôi đi cùng nhóm tù đến làm việc tại một nhà máy gạch cách đấy hai véc-sta, cùng với mấy thợ lò và một anh bốc vác. Công việc là phải sửa chữa lò để nung gạch vào mùa hè tới. Buổi sáng hôm đó tại nhà máy các anh M. và B. đã giới thiệu cho tôi làm quen với ông hạ sĩ quản giáo ở đó tên là Ostrozhski. Đó là một ông già Ba Lan tuổi chừng sáu mươi người cao ráo, mảnh khảnh, mặt mũi sáng sủa, thậm chí vẻ bề ngoài còn đĩnh đạc nữa. Ông ta làm việc ở Sibir này đã từ rất lâu. Mặc dù xuất thân là thường dân, đã đến đây làm lính trơn từ năm ba mươi, nhưng M. và B. rất yêu mến và kính trọng ông. Suốt ngày ông ngồi đọc kinh thánh. Tôi đã nói chuyện với ông, ông ăn nói thật nhẹ nhàng, thông minh, kể chuyện có duyên, nhìn nhận mọi việc thật rộng lượng và thẳng thắn. Từ đó đã hai năm tôi không gặp ông, tôi chỉ nghe nói, không hiểu vì chuyện gì mà ông bị theo dõi, rồi đột nhiên người ta đưa ông đến phòng tôi với tư cách là bệnh nhân điên. Lúc vào phòng ông gầm rít lên, cười hô hố, rồi với những động tác rất tục tĩu và lố lăng ông cứ nhảy múa trong phòng. Anh em tù sướng lắm, nhưng tôi thì buồn vô hạn... Ba ngày sau thì chúng tôi đều không biết trốn đi đâu cho thoát. Ông ta cãi nhau, đánh nhau, gào thét, ca hát thậm chí cả vào ban đêm, chốc chốc lại có những hành động ghê tởm, khiến mọi người buồn nôn. Ông ta chẳng sợ ai cả. Người ta mặc cho ông ấy chiếc áo dùng cho người sốt cao, nhưng vì chiếc áo ấy chúng tôi lại càng khổ hơn, mặc dù không có áo ông ấy cũng đã hay gây sự cãi nhau và xuống giường đánh nhau gần như không chừa một ai. Trong suốt ba tuần thỉnh thoảng cả phòng chúng tôi lại đồng thanh kêu ầm lên đòi bác sĩ trưởng chuyển ông ta sang phòng khác. Khoảng hai ngày sau bên ấy lại đòi chuyển ông ta về phòng chúng tôi. Có lần phòng chúng tôi cùng một lúc có hai người điên, rất ồn ào và hay gây gổ nên hai phòng cứ phải luân phiên nhau đổi người điên. Nhưng cả hai phòng đều thấy ngày một tệ hơn. Cuối cùng, mãi đến khi người ta chuyển họ đi đâu không biết thì chúng tôi mới thở phào thoải mái.

Tôi cũng còn nhớ một người điên kỳ lạ khác nữa. Một bữa mùa hè người ta dẫn đến một bị can, một người chừng bốn lăm tuổi, dáng còn trẻ trung, vạm vỡ, khỏe mạnh, mặt rỗ hoa xấu xí. Đôi mắt nhỏ đỏ ngầu lấp lánh, vẻ mặt hết sức cau có, thiểu não. Anh ta được bố trí nằm cạnh tôi. Thực ra anh là người rất hiền hậu, không nói chuyện với ai và thường ngồi yên như ngẫm ngợi chuyện gì. Trời sẩm tối, bỗng nhiên anh ta quay sang tôi rồi bắt đầu kể cho tôi nghe một cách thẳng thắn, không có vòng vo rào đón gì hết, nhưng với vẻ mặt như đang thông báo cho tôi một điều bí mật cực kỳ, rằng mấy hôm nữa anh sẽ bị hai nghìn roi, nhưng bây giờ thì chưa, vì con gái viên đại tá G. đang lo chạy chọt cho anh. Tôi nhìn anh ta, không hiểu được, và trả lời rằng tôi nghĩ trong trường hợp đó cô ấy cũng không thể làm gì được. Tôi cũng chưa đoán ra sự thể đầu đuôi; người ta dẫn anh ta đến đây hoàn toàn không như người điên, mà chỉ là bệnh nhân bình thường thôi. Tôi hỏi rằng anh đau bệnh gì? Anh đáp rằng anh cũng không biết người ta đưa anh vào đây làm gì, nhưng nói rằng anh hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng vì cô con gái tên đại tá yêu anh say đắm, rằng hai tuần trước đây đã có lần cô ấy đi ngang qua chỗ lính gác, đúng lúc ấy anh cũng từ trong lỗ chấn song nhìn ra. Vừa nhìn thấy anh, cô ấy lại dậy máu yêu đương. Từ bữa đó, dưới nhiều dạng khác nhau cô ấy đã ba lần xuất hiện ở chỗ trạm gác, lần thứ nhất đi cùng với bố đến chỗ anh trai cũng là sĩ quan lúc ấy đang đi tuần ở chỗ chúng tôi, lần thứ hai đi cùng với mẹ đến phát chẩn, và lúc bước ngang qua, cô ấy đã thì thầm rằng cô ấy yêu anh và sẽ cứu anh. Điều lạ lùng là anh đã kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện viển vông ấy với những chi tiết thật tế nhị, mà rõ ràng toàn bộ câu chuyện được nảy sinh trong cái đầu hỗn loạn và nghèo nàn của anh. Anh đã tin một cách thánh thiện rằng anh sẽ thoát được cực hình. Về việc cô tiểu thư mê mẩn đắm say anh anh đã nói thật bình tĩnh và khẳng định, mặc dù câu chuyện là hết sức viển vông, nhưng ai cũng thấy thật lạ lùng khi được nghe một chuyện tình lãng mạn về cô gái đắm say con người ngót năm mươi tuổi có bộ mặt rầu rĩ, bi ai và dị dạng. Điều kỳ lạ là nỗi khiếp sợ cực hình đã làm nảy sinh câu chuyện hay đến như thế đối với một kẻ rụt rè. Có lẽ anh ta đã nhìn thấy thật sự một người nào đó qua ô cửa sổ, và cái chứng điên dại nhen nhóm trong anh cứ lớn lên từng ngày, nay bỗng tìm được đường ra, đã ăn nhập vào hình bóng ấy. Người lính bất hạnh này, con người mà dường như suốt đời chưa được một lần mơ đến các nàng tiểu thư quí tộc, nay bỗng nghĩ ra cả một thiên tiểu thuyết, khi trực giác của mình vớ được cọng rơm khô. Tôi đã im lặng ngồi nghe và đã thông báo cho các bạn tù khác về anh. Nhưng khi các bạn hỏi đến thì anh ta lại khôn ngoan im lặng. Ngày hôm sau bác sĩ hỏi anh hồi lâu, nhưng vì anh nói anh chẳng ốm đau gì hết, và theo kết quả khám nghiệm thì anh đúng là không bệnh, nên người ta cho anh xuất viện. Nhưng khi các bác sĩ bước ra khỏi phòng, chúng tôi thấy trong giấy xuất viện của anh có ghi chữ sanat[4], nên không thể nói được đó là chuyện gì. Bản thân chúng tôi khi đó cũng không đoán được sự việc chủ yếu là gì. Tuy nhiên toàn bộ vấn đề vẫn là ở chỗ bọn chỉ huy gửi anh ta đến đây đã mắc sai lầm khi không giải thích lý do vì sao gửi đến. Có thể đó là một sự cẩu thả. Cũng có thể những người gửi anh đến cũng chỉ mập mờ đoán ra và cũng không hoàn toàn tin rằng anh bị điên thật, họ cũng chỉ hành động theo những tin đồn lơ mơ và cũng chỉ gửi đi để thử nghiệm mà thôi. Dù thế nào đi nữa thì cũng chỉ hai ngày sau là kẻ bất hạnh bị đưa ra trừng phạt. Có lẽ điều ấy quá bất ngờ khiến anh ta rất đỗi kinh ngạc; anh không tin rằng người ta trừng phạt được anh, cho đến tận phút cuối cùng, khi anh bị dẫn đi dọc theo hai hàng roi thì anh mới kêu lên “Cứu tôi với!”. Sau trận đòn, bệnh viện không xếp anh vào phòng chúng tôi nữa vì không còn giường, mà đưa anh sang phòng khác. Tôi có hỏi thăm về anh và được biết rằng suốt tám ngày ấy anh không nói câu nào với ai, lúc nào cũng cau có và hết sức ủ dột... Sau đó, khi cái lưng anh lên da non, người ta đưa anh đi đâu mất. Đến đây tôi không nghe thêm được chuyện gì về anh ta nữa.

Nói chung, về chuyện chữa trị và thuốc men thì, theo như tôi nhận thấy, những người bệnh nhẹ hầu hết là không thực hiện những chỉ định và không chịu uống thuốc, còn những người bệnh nặng và những người ốm thật sự thì lại rất thích được chữa trị, rất nghiêm túc khi uống các loại thuốc nước và thuốc bột, nhưng họ thích nhất là các loại thuốc dùng bên ngoài. Các loại bầu giác, đỉa hút, cao dán, thông máu vốn được dân gian ưa chuộng, thì ở đây cũng rất được yêu thích và vồ vập. Có một chuyện lạ lùng khiến tôi quan tâm. Chính những con người đã quen nhẫn nhịn và chịu đựng những đòn roi gậy đau đớn kinh hoàng, thì lại nhiều lúc kêu ca, quằn quại và thậm chí rên la vì bị giác hơi. Họ có làm mình làm mẩy quá không hay chỉ là những người thích tỏ ra ta đây, - tôi không biết giải thích thế nào. Quả thật, những bầu giác ở đây rất đặc biệt. Cái thứ thiết bị đưa thuốc vèo qua da đã bị viên y sĩ bỏ quên hoặc đánh hỏng từ đời tám hoánh nào không biết, hoặc là chính nó bị hỏng, vì thế viên y sĩ buộc phải dùng dao chích để cứa lên da. Cứ mỗi bầu giác phải cứa chừng mười hai nhát. Thiết bị giác thì không làm đau. Nếu mười hai con dao con cùng cứa một lúc trong một giây thôi thì cũng không thấy đau đớn. Nhưng cứa bằng dao chích là chuyện khác. Dao chích cứa tương đối chậm, nghe được vết cứa. Chẳng hạn, nếu dùng mười bầu giác thì phải cứa một trăm hai mươi nhát, nếu cộng lại sẽ thấy đau lắm. Tôi cũng qua cảnh đó rồi, nhưng dù bị đau đớn và bực dọc, cũng vẫn có thể cố nhịn và cố không rên. Đôi khi thật buồn cười khi nhìn một người khỏe như voi mà co dúm người lại, vãi cả nước mắt. Nói chung thì chuyện này có thể so được với chuyện là có một người cứng cỏi, thậm chí là bình tĩnh trong những chuyện hệ trọng, nhưng ở nhà thì lại rầu rĩ và đỏng đảnh, khi chẳng biết làm việc gì, không chịu ăn những thứ bày ra, luôn mồm chửi bới, mắng mỏ, cái gì cũng không bằng lòng, cái gì cũng khó chịu, làm như mọi người đều thô bạo, đều làm khổ anh ta - tóm lại đó là chứng dửng mỡ hóa rồ, đôi khi người ta vẫn nói thế đối với các ông bà quí phái, nhưng lại rơi vào cảnh bình dân; còn ở trong trại chúng tôi, trong cảnh sống chung hỗn độn thì những người ấy nhiều lắm. Nhiều khi trong phòng bệnh, chúng tôi hay trêu chọc một người có thói làm bộ. Nói chung, anh ta không bỏ qua một trường hợp nào để không dính vào chuyện người khác. Đó chính là khoái cảm, là nhu cầu, chắc hẳn là do bệnh tật, phần nào đó cũng là do đầu óc thiển cận. Đầu tiên anh ta nhìn nhận vấn đề cũng nghiêm túc và chăm chú, nhưng sau đó lại dùng cái giọng bình thản và kiên định mà lên lớp người khác. Chuyện gì anh ta cũng động đến, tựa hồ anh ta được cắm vào chỗ chúng tôi để theo dõi trật tự và mọi hành vi đạo đức.

- Chuyện gì cũng biết, - anh em tù nhân vẫn thường cười vui. Tuy thế, mọi người vẫn tha thứ và vẫn tránh không cự nự với anh ta, đôi lúc chỉ cười đùa thế thôi.

- Khiếp, anh ta nói suốt từ nãy đến giờ! Thiên hô bát sát.

- Chuyện gì mà nhiều thế? Gặp người ngu không cần ngả mũ, ai chả biết thế. Việc gì mà anh ta phải kêu ca cái dao chích? Muốn khỏi bệnh thì phải chịu thuốc đắng, nghĩa là phải chấp nhận thôi.

- Nếu như là anh thì còn nói làm gì?

- Không phải đâu, các anh em ạ, - một trong số tù nhân ngắt lời, - mặt mũi chúng nó không nói làm gì, tôi đã phải chịu đựng rồi; còn ở đây không có cái gì đau hơn là khi anh bị chúng nó beo tai ra mãi.

Mọi người cười rũ.

- Anh bị beo thật à?

- Anh tưởng là không hả? Mọi người biết cả đấy, beo thật chứ lị.

- Chỉ tại đôi tai anh ngỏng cao quá thôi.

Quả thật là cái anh chàng tù nhân Shapkin có đôi tai quá dài, chĩa thẳng sang hai bên. Anh thuộc số người lang thang giang hồ, anh còn trẻ, năng nổ và trầm tĩnh, khi nói bao giờ cũng có giọng nghiêm túc pha với hài hước, khiến những câu chuyện của anh có nhiều nét hài kịch.

- Vì sao tôi lại phải nghĩ rằng anh bị beo tai? Mà làm sao tôi lại nghĩ ra được điều ấy, hả anh chàng bướng bỉnh này? - Ustiantsev lại tham gia vào câu chuyện, anh bực bội hướng về phía Shapkin, tuy nhiên, anh ta hoàn toàn không phải nói với Shapkin, mà là với cả mọi người, nhưng Shapkin thậm chí cũng chẳng nhìn Ustiantsev.

- Còn anh thì ai beo tai?

- Ai à? Các anh biết thừa là ai rồi còn gì, cái thằng cha quản huấn ấy. Các anh em ạ, nó beo tai vì tội mình lang thang. Hồi ấy chúng tôi đến K., chúng tôi có hai người, tôi và một anh nữa, cũng dân lang bạt kỳ hồ tên là Efim, chẳng có biệt danh gì. Trên đường đi chúng tôi nghỉ lại nhà một bác nông dân ở làng Tolmina. Có một cái làng như thế thật, làng Tolmina. Chúng tôi bước vào, nhìn quanh: được sống thoải mái ở đây cũng hay đấy, bao giờ chán thì trốn. Ở nơi đồng áng này thì bốn phương gió lộng, còn ở thành phố thì rùng rợn lắm - điều ấy ai chẳng biết. Thoạt đầu chúng tôi vào một quán rượu nhỏ, nhìn quanh. Bước ra chỗ chúng tôi là một người da sạm đen, khuỷu tay sầy trớt, mặc áo dài kiểu Đức. Đại loại là thế.

- Đằng ấy thế nào, - ông ta nói, - xin cho phép được hỏi, giấy tờ của các đằng ấy thế nào?[5]

- Không, - chúng tôi nói, - chúng tôi chẳng có giấy tờ gì cả.

- Vậy à. Đằng này cũng không có. Thế là đằng này có thêm hai quý ngài đồng cảnh rồi, - ông ta nói, - cũng là hầu hạ tướng Kukushkin (Cu Cu đây)[6]. Vậy đằng này xin có điều muốn nói, đằng này vừa nhậu một trận, tiền đã cạn. Các đằng ấy làm ơn cho anh em đằng này một chai cay cay, được chứ.

- Vô tư đi, - chúng tôi nói. Thế là chúng tôi uống một trận. Sau đó bọn họ chỉ cho chúng tôi việc thanh toán bàn ăn, tức là phần việc của chúng tôi. Ngôi nhà này nằm ở ngoại vi thị trấn, chủ nhân là tiểu thương giầu có, tiền bạc như nước, ban đêm vẫn có nhiều người thăm viếng. Lúc chúng tôi ở trong nhà ông chủ giàu có thì ngay đêm đó cả năm người chúng tôi bị bắt. Họ mang chúng tôi về một đơn vị, rồi sau đó đến chỗ tên quản huấn. Hắn bảo hắn sẽ hỏi cung bọn tôi. Hắn bước ra, miệng ngậm tẩu, có một tên mang tách trà đi theo sau, hắn người khỏe mạnh, để râu quai nón, ra đến nơi liền ngồi xuống ghế. Trong phòng, ngoài chúng tôi còn có ba người nữa được dẫn vào, cũng là dân giang hồ cả. Anh em ạ, cái dân giang hồ đến là lạ: này nhé, chẳng nhớ gì cả, dù có dùi vào đầu cũng cứ không nhớ, chẳng biết gì cả. Tên quản huấn nói vào mặt tôi: “Mày là thế nào?” Hắn gầm lên như đánh trống vào tai. Các bạn biết đấy, tôi cũng nói như mọi người: tôi chẳng nhớ gì cả đâu, thưa ngài, tôi quên hết rồi.

- Đợi đấy, - hắn nói, - tao sẽ còn nói chuyện với mày, cái mặt mày tao còn lạ gì, - rồi hắn giương mắt nhìn tôi. Thế mà từ xưa đến nay tôi có bao giờ thấy mặt hắn đâu. Rồi hắn lại hỏi người khác: - Mày là ai?

- Bẩm ngài, con là Makhni-dralo[7].

- Mày tên là Makhni-dralo thật à?

- Bẩm ngài, đúng ạ.

- Thôi được, mày là Makhni-dralo. Còn thằng này tên gì? - hắn quay sang người thứ ba.

- Bẩm ngài, con theo anh này.

- Tao hỏi mày tên là gì kia mà?

- Con cũng tên thế. Con theo anh ta, thưa ngài.

- Thằng đểu giả nào đặt tên cho mày như vậy?

- Những người tốt đặt đấy ạ. Bẩm ngài. Ngài cũng biết đấy, trên đời này không thiếu người tốt.

- Thế những người tốt ấy là những ai?

- Bẩm ngài, con nhớ kém lắm. Xin ngài rộng lòng tha cho con.

- Mày quên tất cả mọi người à?

- Bẩm ngài, con quên tất cả thật ạ.

- Thế mày cũng có bố có mẹ đấy chứ?... Mày có nhớ bố mẹ không?

- Bẩm ngài, cũng phải nói là có chứ ạ, nhưng mà con nhớ kém lắm, có thể là cũng có đấy ạ, bẩm ngài.

- Thế trước đây mày sống ở đâu?

- Con ở trong rừng, bẩm ngài.

- Lúc nào cũng ở trong rừng?

- Vâng ạ, lúc nào cũng thế.

- Thế mùa đông thì sao?

- Con chả thấy mùa đông bao giờ, bẩm ngài.

- Mày nói lạ nhỉ. Thế mày tên là gì?

- Con là Đầu Rìu, bẩm ngài.

- Thế thằng này, tên gì?

- Con là Mài Dao Không Ngáp, bẩm ngài.

- Còn thằng này nữa?

- Con là Chắc Là Mài Dao, bẩm ngài.

- Chúng mày không nhớ gì cả à?

- Chúng con không nhớ gì cả thật, bẩm ngài.

Hắn đứng đấy, cười thành tiếng, và cả bọn lang thang cũng nhìn hắn mà cười diễu cợt. Thế mà đến lần khác gặp hắn, lại không biết gì cả. Còn cái đám người này thì bao giờ cũng to cao, lực lưỡng, mỡ màng ra phết.

- Đưa bọn này về trại, - hắn nói, - tao sẽ nói chuyện với chúng sau. - Còn thằng này ở lại đây, - tức là hắn nói với tôi. - Lại đây, ngồi xuống! - Tôi nhìn sang: cái bàn, tờ giấy, cây bút. Tôi nghĩ: “Nó bắt mình làm gì đây?” Hắn nói: “Ngồi xuống ghế, cầm lấy bút, viết - còn chính hắn thì túm lấy tai tôi mà beo. Tôi nhìn hắn như con quỷ nhìn đức cha. Tôi bảo “Bẩm ngài, con không biết viết”.

- Phải viết!

- Xin ngài gia ân, lạy ngài!

- Phải viết, biết chữ nào, viết chữ nấy! - Còn hắn thì cứ kéo tai tôi mãi, kéo mãi không thôi, rồi lại còn kéo xoáy nữa chứ! Các anh em của tôi ơi! Tôi xin thưa rằng, thà hắn đánh tôi ba trăm roi còn hơn, đằng này mắt tôi nổ ra đom đóm. Còn hắn chỉ quát một câu “Viết đi!”.

- Cái thằng ấy hóa dại à?

- Không, hắn không hóa dại đâu. Ở trại T. có một tên thư lại mới đây bỏ việc: anh ta cuỗm tiền của trại rồi bỏ trốn, cũng có hai cái tai vểnh ra. Người ta thông báo đi khắp nơi. Mà tôi thì lại có dấu hiệu giống như thế, vậy là hắn tra tấn tôi, xem tôi có biết viết không và viết thế nào.

- À ra thế, khổ thân cậu! Mà bị beo có đau không?

- Tôi đã bảo là đau mà.

Mọi người được một mẻ cười.

- Thế cậu có viết không?

- Viết cái gì được? Tôi cầm bút ngoáy ngoáy trên giấy, hắn vứt đi liền. Rồi hắn tát tôi đến một chục cái chứ không ít, sau lại tống tôi về trại.

- Nhưng mà cậu có biết viết không?

- Trước kia thì có, nhưng cứ cầm bút lên viết thì lại quên hết...

Đôi khi những quãng thời gian buồn tẻ của chúng tôi trôi đi trong những câu chuyện như thế, nói cho đúng hơn, trong những chuyện tào lao như thế. Lạy Chúa! Làm sao lại có nỗi buồn chán đến vậy nhỉ! Ngày thì dài lê thê và ngột ngạt, ngày hôm nay giống hệt hôm qua. Giá có một quyển sách gì đó thì hay biết mấy! Thế nhưng, đặc biệt là vào những ngày đầu tôi lại thường phải đi nằm viện, đôi khi vì ốm thật, đôi lúc chỉ là đi nằm chơi, đi cho thoát khỏi nhà trại. Ở đó thật là nặng nề, còn nặng nề hơn ở đây, nặng nề hơn về mặt đạo đức. Những sự giận dữ, thù địch, chành chọe, tị hiềm, những vụ cà khịa liên tục đối với chúng tôi, những người quý phái, những bộ mặt dữ tợn, hăm dọa! Còn ở trong bệnh viện này mọi người được sống với nhau bằng vai phải lứa hơn, có tình bằng hữu hơn. Lúc buồn chán nhất trong suốt một ngày là lúc chiều tối, lúc thắp nến và lúc đêm về. Mọi người đi ngủ sớm. Ngọn đèn đêm mờ mờ như một chấm sáng phía xa cạnh cửa ra vào, còn bên chúng tôi thì tối mù mịt. Bây giờ mới là lúc thê lương, ngột ngạt. Có người không ngủ được, đành ngồi dậy trên giường đến một tiếng rưỡi đồng hồ, kê mũ tựa đầu như nghĩ chuyện gì. Bạn hãy nhìn anh ta suốt hàng giờ liền và cố đoán xem anh ấy nghĩ gì, để chính mình cũng phải giết thời gian. Nếu không thì bạn cũng lại mơ ước, lại hồi cố chuyện xưa, lại vẽ ra những khung trời rộng lớn và rực rỡ trong trí tưởng, lại nhớ đến những chi tiết, mà những lúc khác thì không nhớ đến được và không cảm nhận được như phút này đây. Nếu không thì bạn lại ngồi phán đoán tương lai: làm cách nào đào thoát khỏi trại? Đi đâu? Bao giờ thì thoát? Liệu có khi nào về lại cố hương không? Bạn cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, và niềm hy vọng lại cục cựa trong nẻo tâm hồn... Nếu không thì lại có lúc bạn nằm đếm nhẩm: một, hai, ba v.v... để mong ngủ vùi trong lúc mải đếm. Có những lúc tôi đếm đến ba ngàn rồi mà chưa chợp mắt. Rồi thấy có người trở mình. Ustiantsev lại cất những tiếng ho mục rữa của bệnh lao phổi, rồi sau đó rên lên khe khẽ, mỗi lần như thế lại cất tiếng than “Lạy Chúa, con là kẻ có tội!” Thật lạ lùng khi nghe thấy cái giọng ốm yếu, khục khặc và rên rỉ ấy giữa đêm trường tịch mịch. Ở một đôi nơi trong góc cũng có những người không ngủ và cứ nói chuyện, giường nọ nói sang giường kia. Một người kể chuyện gì đó về quá khứ của mình, về thời lang thang đã qua đi xa xưa, kể về các con, về cô vợ, về những lề thói xưa cũ. Chỉ nhờ những tiếng thì thào văng vẳng ấy mà cảm nhận được rằng tất cả những gì anh ta đang kể chẳng bao giờ quay lại được với anh ta, còn chính anh ta, người kể chuyện, là một phần bị cắt rời ra; người khác vẫn đang nghe. Chỉ thấy những tiếng thì thào, đều đặn, giống như tiếng suối róc rách đâu đó xa lắm... Tôi còn nhớ một lần, vào một đêm đông dằng dặc tôi nghe được một câu chuyện. Thoạt đầu câu chuyện như một giấc mơ nóng hổi, tựa hồ tôi lên cơn sốt và tôi đã mơ thấy tất cả trong cái nóng sốt hầm hập và trong cơn mê sảng...

❀ ❀ ❀

[1] Hầu tước Donatien Alphonse François de Sade (1740–1814), người tuyên truyền cho lối sống hoàn toàn tự do. Về mặt tình dục ông cổ súy cho thói bạo dâm. Thuật ngữ bạo dâm (sadisme) bắt nguồn từ tên ông (N.D.).

[2] Nữ hầu tước de Brinvilliers (1630–1676). Tên thật là Marie Madeleine Dreux d’Aubray. Bà nổi tiếng vì đã đầu độc cha mình, con mình, các anh chị em mình nhờ sự trợ giúp của người tình là một nhà giả kim thuật. Sau đó bà trốn sang Anh và nhiều nước khác, nhưng bị phát hiện, bị đưa về nước và bị xử tội chết bằng cách uống thuốc độc (N.D.).

[3] Bánh ngon làm bằng bột mỳ (N.D.).

[4] Lấy gốc từ chữ sanatorium là nhà nghỉ dưỡng (N.D.).

[5] Tức giấy thông hành.

[6] Tức là ở trong rừng, nơi có chim cu. Anh ta muốn nói rằng họ đều là dân lang thang cả.

[7] Theo động từ makhat’ (khoát tay) và danh từ dralo (sự bỏ trốn). Có thể dịch là Khoát tay - bỏ trốn (N.D.).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.