Ba ngày sau khi nhập trại, tôi phải đi làm. Ngày đầu tiên khổ sai có ấn tượng rất lớn đối với tôi, mặc dầu suốt ngày đầu ấy không xảy ra điều gì đặc biệt cả, nhưng ít ra thì tôi cũng đã lưu tâm đến tất cả những điều rất đặc biệt trong hoàn cảnh của tôi. Ba ngày đầu tôi đã trải qua với những cảm xúc thật là nặng nề. “Thế là hết những chuyến phiêu du. Tôi đã ở trong trại tù rồi”, - tôi nghĩ như thế từng giây từng phút, - đây đã là bến đỗ của tôi trong những tháng năm dài, là góc đời mà tôi phải bước vào với cái cảm giác bất tín và bệnh hoạn... mà ai biết cho tôi chứ. Cũng có thể nhiều năm sau, khi tôi đã xa rời trại, tôi lại nhớ tiếc hay chăng? - Tôi nghĩ thêm như thế, có pha một chút hả hê, cái cảm giác đôi khi dẫn tới nhu cầu cố tình chạm vào vết thương của mình, tựa hồ muốn quan sát nỗi đau của mình, tựa hồ như trong khi thức nhận tầm vóc vĩ đại của sự bất hạnh ta lại thật sự tìm thấy khoái lạc. Cái ý nghĩ là được ngày ngày thương xót cái góc thân phận người lại làm cho chính tôi đây phải kinh ngạc: ngay từ đó tôi đã dự cảm rằng con người ta dễ thích nghi đến mức ghê gớm. Nhưng đó là chuyện mai sau, còn bây giờ xung quanh tôi tất cả đều là thù địch và khủng khiếp... mặc dù không phải là tất cả, nhưng tôi cho rằng chắc phải như thế. Đó là sự tò mò hoang dã mà với con mắt đó các bạn bè đồng trại nhìn ngắm tôi, đó là sự khô khan bội phần của họ đối với một trại nhân mới thuộc giới quý tộc xuất hiện trong cộng đồng của họ, sự khô khan đôi khi đạt gần tới mức căm thù - tất cả những điều ấy làm tôi kinh hoàng tới mức bản thân tôi chỉ muốn mau mau đi làm để được mau mau thức nhận và nếm trải ngay lập tức nỗi khốn cùng của tôi, để bắt đầu được sống như tất cả bọn họ, để mau chóng được bước đi chung một lối mòn với họ. Hiển nhiên là khi đó còn nhiều điều tôi chưa nhận ra và chưa ngờ tới, rằng ngay trước mũi tôi đây giữa không khí thù địch tôi vẫn chưa đoán ra được đâu là nguồn vui. Tuy nhiên, cũng có đôi ba gương mặt lịch thiệp, dịu hiền mà tôi gặp được thậm chí ngay trong ba ngày đầu tiên cũng ít nhiều khiến tôi sảng khoái. Người dịu dàng và ân cần với tôi nhất là Akim Akimych. Trong số những khuôn mặt đăm chiêu, thù oán của các trại nhân khác tôi không thể không nhận thấy cũng còn một vài người đôn hậu và vui vẻ. “Đâu đâu cũng có những con người tồi tệ, nhưng trong đó vẫn có những con người tốt, - tôi vội nghĩ thế để tự an ủi, ai mà biết được? Có thể, những con người đó nói chung là không tồi tệ hơn những người khác, những người còn lại, những người còn đang ở đây, trong trại tù này”. Tôi nghĩ thế và tôi lại tự lắc đầu trước ý nghĩ của mình, thế mà, lạy Chúa tôi! Giá mà khi đó tôi biết rằng cái ý nghĩ ấy đúng đắn biết bao!
Chẳng hạn như ở đây có một người mà mãi bao nhiêu năm sau này tôi mới nhận chân ra được, trong khi người đó vẫn thường xuyên bên tôi hầu như trong suốt cuộc sống tù đày, đó là anh Sushilov. Bây giờ cứ mỗi khi nói đến các trại nhân, những người không tồi hơn những người khác, thì bất giác tôi lại nhớ đến anh. Anh là người chịu giúp đỡ tôi. Tôi cũng còn một người chịu giúp đỡ khác. Akim Akimych ngay từ đầu, ngay từ những ngày đầu tiên đã giới thiệu cho tôi một trại nhân là Osip. Ông nói rằng chỉ cần ba mươi cô-pếch một tháng là hàng ngày anh ta sẽ nấu cho tôi những món ăn đặc biệt, nếu như tôi không ăn được những món trong trại và nếu như tôi có tiền rủng rỉnh. Osip là một trong bốn đầu bếp được các trại nhân bình chọn đưa vào hai nhà bếp của chúng tôi, mặc dù mọi người vẫn để cho anh có quyền tự do được chấp nhận hay không chấp nhận cuộc bình chọn ấy, và dù có chấp nhận thì anh vẫn có thể ngay ngày mai lại chối từ cũng vẫn được. Các đầu bếp thì không phải đi làm. Nhiệm vụ của họ là nướng bánh mỳ và nấu canh. Ở đây chúng tôi không gọi họ là đầu bếp, mà là hỏa gia thị (danh từ giống cái), thế nhưng đó không phải là khinh thị, ngược lại, được chọn vào nhà bếp là những người thông minh và trung thực hết sức, và vì thế đó là cách gọi đùa thân yêu và các đầu bếp không hề tự ái chút nào. Osip hầu như bao giờ cũng được bầu chọn và hầu như suốt mấy năm liền anh được là hỏa gia thị và cũng đôi khi anh từ chối một thời gian, khi anh có điều gì hết sức đau lòng, ngoài ra anh còn cái thú đi chở rượu nữa. Anh là người đứng đắn và hiền hậu hiếm thấy, mặc dù anh đến đây vì tội buôn lậu. Đó chính là cái anh chàng buôn lậu cao kều, khỏe mạnh mà tôi đã có nhắc đến. Anh ta nhát như thỏ đế, sợ mọi thứ, nhất là roi vọt, anh sống hiền lành, vô tư, ân cần với mọi người, không bao giờ cãi lộn với ai, nhưng lại không thể không đi chở rượu, dù hết sức nhút nhát, chỉ do niềm say mê buôn lậu. Anh cùng với những đầu bếp khác cũng họp nhau buôn rượu, mặc dù, tất nhiên, không tới quy mô chẳng hạn như Gazin, bởi lẽ anh không đủ can đảm chịu rủi ro nhiều. Tôi bao giờ cũng được sống yên ổn bên anh Osip. Còn về khoản tiền nong để có những món ăn ngon thì cũng hết sức ít ỏi. Tôi không nhầm nếu tôi nói rằng mỗi tháng tôi chỉ phải chi cho chuyện ăn uống một đồng rúp bạc, tất nhiên là không nói đến bánh mỳ là khẩu phần của trại, và đôi khi không tính món canh, nếu như tôi rất đói, mặc dù tôi rất ghét món đó, sau này cảm giác đó gần như hoàn toàn hết hẳn. Thường thường tôi mua một miếng thịt bò, một funt cho một ngày. Mùa đông thịt bò tính bằng tiền xu. Đi chợ mua thịt bò ở chợ là một trong số thương binh, mỗi khu trại có một thương binh trông coi trật tự nội vụ, những người này tự nguyện nhận nhiệm vụ hàng ngày đi chợ mua thức ăn cho trại nhân và hầu như không nhận một đồng tiền công nào, cùng lắm cũng chỉ mấy đồng xu nhỏ thôi. Họ làm thế để tự yên tâm, nếu không thì họ cũng không yên trong trại được. Như vậy là họ thường mang về thuốc lá, trà, thịt bò, bánh mỳ và các thứ khác nữa, có chăng chỉ là thiếu rượu mà thôi. Suốt mấy năm liền Osip làm cho tôi món thịt bò rán. Thịt bò được rán như thế nào thì đó lại là chuyện khác, mà vấn đề của chúng ta không phải ở chỗ đó. Điều thú vị là suốt mấy năm tôi không phải nói với Osip một lời nào. Đã nhiều lần tôi định gợi chuyện, nhưng dường như anh ta không biết nói chuyện: anh ta chỉ cười cười hay đáp lại là có hoặc không, thế thôi. Anh ta trông giống cậu bé Héc-quyn 7 tuổi và thậm chí chỉ cần nhìn anh là đã thấy lạ mắt rồi.
Nhưng ngoài Osip ra, trong số những người hay giúp đỡ tôi còn có Sushilov. Tôi không hề nhờ vả anh ta và cũng không tìm kiếm anh ta. Dường như anh ta tự đến tìm tôi, bảo tôi giao việc, thậm chí tôi cũng không nhớ chuyện ấy xảy ra khi nào và như thế nào. Anh ấy nhận giặt giũ cho tôi. Đằng sau khu trại có một hố giặt lớn. Bên trên hố này là các máng giặt quần áo trại nhân. Ngoài việc đó Sushilov còn nghĩ ra hàng ngàn những việc lặt vặt để chiều ý tôi: đun cho tôi ấm trà, chạy đi chạy lại việc này việc kia, đi tìm một cái gì đó, mang cái áo của tôi đi sửa, một tháng bốn lần đánh bóng cho tôi đôi ủng; tất cả những việc đó anh làm cần mẫn, năng nổ, tựa như Thượng đế biết anh phải có những nghĩa vụ gì - tóm lại, anh đã gắn bó số mệnh mình với tôi và nhận gánh vác mọi việc của tôi. Anh chẳng bao giờ nói ra, thí dụ “Ông có từng này cái áo, cái áo khoác của ông rách rồi” v.v... mà chỉ nói “Bây giờ chúng ta có từng này cái áo, cái áo khoác của chúng ta rách rồi”. Rồi anh ta nhìn vào mắt tôi, dường như coi đó là mục đích chủ yếu của cả đời mình. Anh không có nghề riêng gì, anh em trại nhân gọi là nghề tay, và dường như anh ta chỉ kiếm được mấy đồng xu của tôi mà thôi. Tôi trả công cho anh theo khả năng của mình, tức là chỉ mấy xu thôi và bao giờ anh cũng lặng lẽ hài lòng. Anh không thể phục vụ cho bất kỳ ai khác và dường như anh ta chọn tôi chỉ vì tôi sởi lởi hơn những người khác và thẳng thắn hơn trong cách thanh toán. Anh ta thuộc vào những người không bao giờ có thể làm giầu và khấm khá hơn, những người thường nhận việc canh giữ cho mai-đan, phải đứng suốt đêm trong phòng trước lạnh giá để nghe ngóng mỗi tiếng động ngoài sân, canh chừng tên thiếu tá và suốt đêm như thế cũng chỉ nhận được năm cô-pếch bạc, còn nếu canh hỏng thì mất hết đã đành, lại còn đem lưng chịu đòn nữa. Về những người này tôi đã nói rồi. Đặc điểm của những con người này là xóa sạch cá nhân mình vĩnh viễn ở khắp nơi và hầu như trước bất kỳ ai, còn trong những việc chung thì họ đóng vai trò không phải là thứ yếu, mà là đến tam yếu. Những chuyện ấy đối với họ dường như thuộc về bản chất. Sushilov là một anh chàng rất đáng thương, hoàn toàn nhịn nhục và hạ mình, thậm chí khiếp nhược, mặc dù không ai đánh anh, nhưng bản chất anh là vẫn khiếp nhược. Không hiểu sao tôi luôn có lòng thương cảm anh. Thậm chí tôi không thể nhìn anh mà không thấy thương cảm. Vì sao tôi thương cảm thì chính tôi cũng không trả lời được câu hỏi đó. Nói chuyện với anh tôi cũng không thể, vì anh ta cũng không biết nói chuyện, và rõ ràng là đối với anh đó là một công việc lao động to tát. Anh chỉ có thể trở nên sống động khi có người trao cho anh một việc gì đó để làm, yêu cầu anh chạy đi đâu đó làm một cái gì đó để kết thúc cuộc chuyện. Cuối cùng, thậm chí tôi đã tin rằng bằng cách đó tôi đã đem đến niềm thỏa mãn cho anh. Anh có khổ người không cao, không thấp, không tốt mà cũng không xấu, không khôn ngoan cũng không đần độn, không trẻ không già, mặt hơi sần sùi nhưng da khá trắng. Về anh thì không bao giờ có thể nói một điều gì dứt khoát được. Chỉ có thể một điều rằng: như tôi cảm thấy và theo những gì tôi nhận đoán được thì anh đã thuộc vào một nhóm bạn bè như kiểu Sirotkin, và anh chơi với họ chỉ vì một lẽ anh là người khiếp nhược và nhịn nhục. Anh em trại nhân đôi khi diễu cợt anh, chủ yếu chỉ vì anh đã đổi phận trên đường đi, khi cùng tốp tù nhân đến Sibir, và anh đã đổi phận như thế chỉ vì một chiếc áo màu đỏ và một đồng rúp bạc. Chỉ vì cái giá bèo bọt ấy anh đã bán rẻ bản thân mình và bị các trại nhân cười diễu. Đổi phận có nghĩa là đã đổi tên với ai đó và như thế là đổi cả số phận. Mặc dù sự kiện này có vẻ là rất kỳ lạ, nhưng nó có thật, và khi tôi còn ở đấy thì nó vẫn còn tồn tại giữa những trại nhân được dẫn độ đến Sibir, được trở thành truyền thuyết và được định chế bằng một số hình thức. Đầu tiên tôi không tin, mặc dù cuối cùng tôi cũng phải tin như một việc nhỡn tiền.
Sự việc là như thế này. Chẳng hạn, có một tốp tù nhân được dẫn độ về Sibir. Trong tốp có đủ loại người: đi khổ sai, đi nhà máy, đi làm dân, tất cả cùng đi với nhau. Đến một đoạn nào giữa đường, chẳng hạn, đến tỉnh Perm có một người đi đày muốn đổi phận với một người khác. Thí dụ, có một anh chàng là Mikhailov mắc tội giết người hay một trọng tội nào đó, cho rằng đi lao dịch nhiều năm là không lợi cho mình. Cứ cho rằng đó là một anh chàng ma mãnh, lõi đời, biết việc; anh ta nhòm ngó trong tốp tù nhân có một người giản dị hơn, khiếp nhược hơn, nhịn nhục hơn và người đó chịu hình phạt tương đối thấp hơn: hoặc là đi nhà máy một thời gian ngắn, hoặc đi làm dân biệt xứ, hoặc thậm chí là đi lao dịch nhưng thời hạn ngắn. Cuối cùng hắn tìm được Sushilov. Sushilov là con nhà nông nô và chỉ phải đi làm dân biệt xứ mà thôi. Anh đã đi bộ một ngàn năm trăm véc-sta, chắc chắn là không có một xu nào dính túi, bởi vì Sushilov chẳng bao giờ có một xu nào cả, - anh đi bộ đến mệt mỏi rã rời, chỉ trông vào mấy miếng ăn được cấp phát, không có một tí đường ngọt vào miệng, chỉ mặc cái áo được cấp phát, nên phải hầu hạ mọi người lấy mấy đồng xu tàn tệ. Mikhailov đã mặc cả với Sushilov, hai bên gặp nhau, thậm chí chơi với nhau, cuối cùng đến một giai đoạn nhất định thì Mikhailov chuốc rượu cho anh ta. Cuối cùng hắn đề nghị với anh: anh có muốn đổi phận không? Hắn nói rằng tôi là Mikhailov, tôi thế này thế kia, tôi đi lao dịch mà cũng không phải lao dịch, mà là đến “một đơn vị đặc biệt” gì đó. Đơn vị ấy dù là khổ sai, nhưng là khổ sai đặc biệt, chắc chắn tốt hơn. Về cái đơn vị đặc biệt này trong suốt thời gian tồn tại của nó ngay cả giới chỉ huy cũng không phải ai cũng biết rõ, ngay cả ở Peterburg cũng vậy. Đó là một khu đặc biệt, riêng rẽ, một trong những khu của Sibir, và nó vắng vẻ đến nỗi (lúc tôi ở đó thì chỉ có đến bảy mươi người) khó lòng có thể lần ra dấu vết của nó. Sau này tôi gặp những người đã từng làm việc và hiểu biết Sibir, nhưng họ cũng mới lần đầu tiên được nghe tôi nói về sự tồn tại của “phân trại đặc biệt” này. Về phân trại này thì trong các Bộ luật cũng chỉ nói đến có sáu dòng thôi “Thành lập một phân trại đặc biệt trực thuộc một trại tù để giam giữ những phạm nhân đặc biệt quan trọng, cho đến khi ở Sibir mở ra những công trường lao dịch nặng nhọc nhất”. Ngay cả bản thân các phạm nhân của “phân trại” này cũng không biết rằng phân trại đó là vĩnh cửu hay là tạm thời? Thời hạn cũng không quy định, mà chỉ nói - cho đến khi ở Sibir mở ra những công trường lao dịch nặng nhọc nhất, có nghĩa là “nó đi song song” với nhà tù khổ sai. Do vậy, ngay cả Sushilov và bất kỳ ai trong tốp tù nhân đều không biết, không loại trừ cả Mikhailov bị đi đày và cũng chỉ mang máng biết về phân trại đặc biệt thông qua việc đánh giá trọng tội của mình, một tội ác hết sức nặng nề mà vì nó hắn đã trải qua ba hay bốn ngày tù rồi. Từ đó suy ra rằng người ta sẽ không giải hắn đến một nơi tốt lành. Sushilov chỉ phải đi làm dân biệt xứ, như thế còn gì tốt hơn nữa? “Cậu có muốn đổi phận không?” Sushilov đã ngà ngà say, tâm hồn giản dị, đầy lòng biết ơn chàng Mikhailov chăm nom cho mình và chính vì thế mà không dám từ chối. Hơn thế nữa, khi đi trong tốp anh đã nghe nói rằng việc đổi phận là có thể được, những người khác cũng đã đổi rồi, như vậy cũng chẳng có gì là bất bình thường và bất tri kỳ thanh cả. Hai bên đã thỏa thuận. Cái thằng Mikhailov vô lương tâm lợi dụng được tính thuần phác đặc biệt của Sushilov đã mua tên anh ta bằng một cái áo sơ mi màu đỏ và một đồng rúp bạc, trao tay cho anh trước mắt những người làm chứng. Ngày hôm sau Sushilov không còn say nữa, nhưng anh lại được chuốc rượu, mà từ chối thì lại xấu mặt: đồng rúp bạc nhận được đã bị uống hết, cái áo đỏ chỉ ít hôm sau cũng thế. Nếu không muốn thì đưa tiền đây. Mà Sushilov thì lấy đâu ra cả một rúp bạc? Không trả thì hội ấy bắt phải trả: hội ấy theo dõi việc này rất sát sao. Đã hứa rồi là phải thực hiện - hội ấy bắt phải thế. Nếu không thì chúng ăn thịt. Có thể là đánh nhừ tử, hoặc đơn giản là giết chết, ít ra thì cũng dọa cho khiếp đảm.
Thật vậy, nếu hội này gia ân một lần, thì cái lệ đổi tên sẽ chấm dứt. Nếu có thể từ bỏ lời hứa và vi phạm những điều đã mặc cả, trong khi đã nhận tiền rồi, thì sau này còn ai thực hiện nữa? Tóm lại, đây là việc chung của hội và vì thế cả tốp cũng rất nghiêm khắc đối với việc đó. Cuối cùng Sushilov thấy rằng không thể van nài được nữa, anh đành liều đồng thuận hoàn toàn. Toàn tốp được nghe tuyên bố: ai cần thì sẽ được tặng quà và chuốc rượu. Còn Mikhailov hay Sushilov, ai phải đi đến nơi khỉ ho cò gáy thì cũng được; rượu thì đã uống rồi, thết đãi thì thết đãi rồi, còn bây giờ thì cả hai người đều im lặng. Ngay chặng đường đầu họ phải điểm danh. Đến lượt Mikhailov, người ta gọi “Mikhailov!” thì Sushilov kêu lên “Tôi đây!”, khi gọi “Sushilov!” thì Mikhailov kêu lên “Tôi đây!”, và cứ thế mà tập. Về chuyện này không ai nói gì thêm nữa. Đến Tobolsk những người bị đi đày được phân loại. “Mikhailov” được nhập vào nhóm biệt cư, còn “Sushilov” được tăng cường áp tải và được dẫn độ đến phân trại đặc biệt. Sau đó không thể có sự phản đối nào cả; mà thực tế thì lấy gì làm bằng? Sự việc như thế này sẽ còn kéo dài bao nhiêu năm nữa? Hậu quả sẽ ra sao? Cuối cùng thì những người làm chứng đâu rồi? Nếu như họ có thì họ cũng sẽ chối phắt. Kết quả là thế: Sushilov nhận một đồng rúp bạc và một chiếc áo đỏ thì phải đến “phân trại đặc biệt”.
Các trại nhân cười diễu Sushilov không phải vì anh ta đổi phận (mặc dù nói chung người ta vẫn khinh bỉ những kẻ đổi phận, đổi từ việc nhẹ nhàng sang việc nặng nhọc, như khinh bỉ những kẻ ngu đần rơi vào thế bí), mà cười vì anh chỉ lấy có một chiếc áo đỏ và một đồng rúp bạc, là cái giá quá ư bèo bọt. Thông thường người ta đổi phận để lấy một khoản tiến lớn, tất nhiên cũng là xét một cách tương đối. Người ta nhận thậm chí là mấy chục rúp. Nhưng Sushilov là người nhẫn nhịn, khiếp nhược và là vô giá trị đối với mọi người, thế nên người ta cũng không diễu cợt anh nữa.
Tôi sống với Sushilov khá lâu, được đến mấy năm. Dần dà anh gắn bó với tôi quá. Tôi không để ý đến việc đó, nên cũng rất thân với anh. Nhưng một hôm - tôi không bao giờ có thể tha thứ cho mình chuyện này - anh không hoàn thành được một việc gì đó theo yêu cầu của tôi, thế nhưng anh vẫn nhận tiền, nên tôi đã nổi giận mà bảo “Này, anh Sushilov, anh đã lấy tiền mà lại không làm việc”. Sushilov lặng thinh, chạy đi làm nốt việc của tôi, nhưng rồi không hiểu sao mặt bỗng buồn thiu. Hai ngày trôi qua. Tôi nghĩ: không có lẽ anh buồn vì lời lẽ của tôi. Tôi biết rằng có một trại nhân tên là Anton Vasiliev cứ nằng nặc đòi anh một món nợ có mấy xu. Chắc hẳn anh không có tiền, nhưng sợ vay tôi. Ngày thứ ba tôi bảo anh “Này anh Sushilov, chắc anh muốn vay tiền tôi để trả cho Anton Vasiliev phải không? Tiền đây!”. Lúc đó tôi đang ngồi trong lán, Sushilov đứng trước mặt tôi. Chắc là anh rất sửng sốt vì chính tôi lại đưa tiền cho anh, lại nhắc đến tình thế khó xử của anh, hơn nữa thời gian gần đây, theo ý anh, anh đã nhận của tôi quá nhiều tiền rồi, cho nên anh cũng không dám hy vọng rằng tôi đưa thêm nữa. Anh nhìn những đồng xu rồi nhìn tôi, rồi bỗng nhiên anh quay người chạy đi. Toàn bộ sự kiện làm tôi rất kinh ngạc. Tôi đi theo anh và thấy anh ở phía sau trại. Anh đứng cạnh hàng rào, mặt quay về phía cọc rào, một tay ôm đầu, dựa vào cọc. Tôi hỏi: “Anh Sushilov, anh làm sao thế?” Anh không nhìn tôi, và tôi vô cùng ngạc nhiên nhận thấy rằng anh đã sắp khóc. Anh bắt đầu nói, giọng ngắt quãng và cố gắng nhìn đi chỗ khác: “Ông Aleksandr Petrovich... ông nghĩ rằng... tôi cầm tiền... của ông... còn tôi... thì... thì... chao ôi!” Anh quay mặt về phía hàng rào, đến nỗi đụng cả trán vào cọc - và anh cứ thế mà nức nở!... Lần đầu tiên trong trại tôi thấy có người khóc. Tôi cố an ủi anh, và mặc dù từ hôm ấy, nếu có thể được thì anh lại ân cần giúp đỡ tôi hơn và “trông nom tôi” hơn, nhưng qua một số biểu hiện dường như khó thấy tôi vẫn nhận ra rằng trái tim anh không bao giờ có thể tha thứ cho lời nói đụng chạm của tôi được. Trong khi đó những người khác vẫn cười nhạo anh, chọc ghẹo anh những khi có thể, mắng mỏ anh đôi khi nặng nề, - thế nhưng anh vẫn sống với họ êm đềm, thân ái, chẳng bao giờ bực bội cả. Ôi, hiểu được con người quả thật rất khó, thậm chí sau bao nhiêu năm dài quen biết!
Đó là lý do vì sao ngay từ cái nhìn đầu tiên tôi đã không thể hình dung được cảnh tù khổ sai một cách thực sự như mãi về sau. Cũng chính vì thế mà tôi nói rằng nếu tôi nhìn mọi vật với sự chú ý thật cao độ thì tôi vẫn cứ không thể nhìn ra được nhiều những điều vẫn diễn ra ngay trước mũi tôi. Tất nhiên, ban đầu tôi kinh ngạc trước những hiện tượng lớn, nổi bật, nhưng ngay cả những hiện tượng ấy có thể cũng bị tôi cảm nhận sai lầm và chúng chỉ để lại trong lòng tôi một ấn tượng nặng nề, buồn đau vô vọng. Tăng cường thêm rất nhiều cho ấn tượng đó là cuộc gặp của tôi với A., là trại nhân đến sau tôi không lâu và khiến tôi kinh ngạc vì ấn tượng dằn vặt đặc biệt trong những ngày đầu tiên tôi đến trại. Thực ra, ngay từ trước khi nhập trại tôi đã được biết rằng đến trại tôi sẽ được gặp A. Chính anh đã đầu độc thời gian nặng nề đầu tiên này và làm cho nỗi đau lòng của tôi tăng lên. Tôi không thể không nói đến anh được.
Đây là một dẫn chứng ghê tởm nhất, về việc con người có thể sa đọa và trở thành đê tiện đến đâu, và đến mức nào con người có thể giết chết trong lòng mình mọi tình cảm đạo đức không khó khăn gì và không mảy may hối hận.
Tên A. là một thanh niên trẻ tuổi, gốc quý tộc mà tôi đã nhắc đến một phần nào đó bên trên, khi nói rằng hắn ta đã hóng hớt với tên thiếu tá tất cả những gì diễn ra trong trại và đã chơi thân với tên lính hầu của thiếu tá là Fedka. Tiểu sử tóm tắt của hắn như sau: hắn chưa học hết chương trình ở đâu và sau khi cãi nhau với gia đình ở Moskva vì gia đình e ngại những hành vi đồi trụy của hắn, hắn đã về Peterburg, và để kiếm tiền, hắn đã liều làm việc mật báo đê tiện, tức là liều bán máu của cả chục người hòng thỏa mãn ngay tức khắc khát vọng không kìm nén được đối với những thú vui thô bỉ và trụy lạc. Hắn bị Peterburg mê hoặc, bị những cửa hàng kẹo bánh, những phố phường buôn bán mê hoặc, nên cho dù không phải ngu đần, nhưng hắn đã suy đồi đến mức dấn thân làm một việc điên cuồng rồ dại. Chẳng mấy lúc hắn bị lật mặt: trong lời mật báo của mình hắn đã khai nhầm những người lương thiện, những người khác thì hắn lừa dối, và vì tội ấy hắn bị đày đi Sibir mười năm, vào trại chúng tôi. Hắn còn trẻ lắm, đối với hắn cuộc sống mới chỉ bắt đầu. Dường như lẽ ra sự biến động khủng khiếp này trong số phận phải làm cho hắn kinh hoảng, phải khiến bản thể của hắn bừng tỉnh mà chống trả, mà ngoặt sang lối khác. Thế nhưng hắn không hề có một chút bối rối nào khi chấp nhận số phận mới, thậm chí về mặt đạo lý hắn không cảm thấy ghê tởm chút nào trước số phận đó, không sợ hãi gì trong đó, có chăng là chỉ sợ cái yêu cầu bức thiết phải làm việc và phải xa rời những cửa hàng bánh kẹo và ba cái phố buôn bán kia. Thậm chí hắn còn cho rằng cái danh hiệu tù khổ sai chỉ càng nới tay cho hắn làm những việc đê tiện và bỉ ổi hơn nữa. “Tù khổ sai thì đã là tù khổ sai rồi; mà đã là tù khổ sai thì có thể là đê tiện, có gì mà phải xấu hổ”. Ý kiến của hắn đúng là như vậy. Tôi nhắc đến kẻ đê tiện này như một hiện tượng. Suốt mấy năm tôi sống giữa những kẻ giết người, những tên trụy lạc và những kẻ hung ác, nhưng tôi xin thành tâm nói rằng tôi chưa bao giờ trong đời gặp phải một hiện tượng tha hóa đạo đức hoàn bị đến như thế, đồi trụy đến tận cùng như thế và hèn hạ trắng trợn đến như thế. Ở chỗ chúng tôi có một người giết bố đẻ, cũng thuộc nòi quý tộc, tôi có nhắc đến ở trên, nhưng tôi xin đoan chắc rằng căn cứ vào nhiều nét cá tính và sự việc thì con người đó còn cao thượng hơn nhiều và có nhân tính hơn nhiều so với tên A. Theo con mắt của tôi thì trong suốt thời gian tôi ở trại tên A. đã trở thành và sẽ chỉ là một cục thịt có hai hàm răng và cái dạ dày cộng với cái thèm khát không bao giờ no đủ là được thỏa mãn xác thịt một cách thô bỉ nhất và thú vật nhất, và để có được một cơn thỏa mãn nhỏ bé nhất và kỳ cục nhất hắn sẵn sàng giết người, cắt cổ người một cách lạnh lùng, tóm lại, hắn sẵn sàng làm mọi việc, miễn sao bưng bít được sự việc. Tôi nói không ngoa rằng tôi đã hiểu kỹ tên A. Đó là ví dụ cho thấy mặt thể xác con người có thể tiến xa tới đâu và không có một thứ chuẩn mực và luật định nào kìm hãm được nó. Và tôi thấy thật ghê tởm khi cứ phải nhìn thấy cái nụ cười luôn luôn khinh bạc của hắn. Hắn là một thứ quái vật, một tên Quazimodo về mặt đạo đức. Xin bổ sung thêm rằng hắn còn rất tinh quái và thông minh, bảnh trai và phần nào đó lại có học, có nhiều năng khiếu. Không, thà phải chịu hỏa hoạn, dịch hạch và đói khát còn hơn phải có một người như thế ở trong xã hội! Tôi cũng đã nói rằng trong trại có một điều tệ hại là cái trò làm mật vụ và mật báo cứ nở rộ khắp nơi và anh em trại nhân cũng hoàn toàn không cáu giận nữa. Ngược lại, đối với tên A. mọi người đều rất thân thiện và còn tay bắt mặt mừng hơn hẳn đối với chúng tôi. Những ân huệ mà tên thiếu tá say rượu dành cho hắn đã làm cho hắn có giá trị và có trọng lượng trong con mắt của mọi người. Về phần mình hắn cũng đã làm tên thiếu tá tin rằng hắn có thể vẽ được chân dung (còn đối với các trại nhân thì hắn bảo rằng hắn vốn là đại úy cận vệ), và thế là tên thiếu tá yêu cầu cho hắn đến làm việc tại nhà tên đó, chắc hẳn là để vẽ chân dung cho chính thiếu tá. Tại đây hắn đã làm quen được với thằng lính hầu Fedka, thằng này lại có ảnh hưởng rất đặc biệt đến ông chủ, và như thế có nghĩa là có ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong trại. Theo yêu cầu của thiếu tá hắn đã đi rình mò chúng tôi, thế mà tên này lúc say khướt vẫn cho hắn mấy cái tát và vẫn chửi rủa hắn là đồ mật vụ, là đồ hóng hớt. Thế nhưng sau những trận đòn roi tên thiếu tá vẫn ngồi vào ghế bắt hắn phải tiếp tục vẽ. Có lẽ tên thiếu tá thực sự tin rằng tên A. là một họa sĩ có tài gần được như cái ông Bryullov mà hắn có nghe đến tên, nhưng dẫu thế hắn vẫn cho rằng mình có quyền được bạt tai tên A. Hắn vẫn nói rằng dù mày có là họa sĩ đi nữa thì vẫn cứ là một thằng tù khổ sai, dù mày có là một ông kiểu Bryullov đi nữa thì tao vẫn cứ là chỉ huy, có nghĩa là nếu tao muốn làm gì mày thì tao cứ làm. Có nhiều khi hắn bắt tên A. phải tháo ủng cho hắn, phải bưng bê từ trong phòng ngủ của hắn ra đủ các thứ bình lọ, nhưng một thời gian dài hắn vẫn cứ đinh ninh rằng A. là một họa sĩ vĩ đại. Bức chân dung của hắn kéo dài vô tận, gần hết năm rồi. Cuối cùng, tên thiếu tá đồ rằng người ta bịp hắn, và khi biết tỏng rằng bức chân dung không có hồi kết, và ngược lại, càng ngày lại càng không giống với hắn, thì hắn nổi giận bằng cách nện cho tên họa sĩ một trận nên thân rồi tống trở lại vào trại làm lao công nặng. Rõ ràng là tên A. thấy hối tiếc, hắn thấy đau khổ phải dứt bỏ những ngày nhàn hạ, những bữa ăn ân huệ của thiếu tá, dứt bỏ anh bạn Fedka, khỏi những thú vui mà hai đứa bày ra với nhau trong nhà bếp của thiếu tá. Tên A. ra đi thì thiếu tá cũng hết đường truy bức M., một trại nhân mà tên A. đã liên tục phải báo cáo, thế nhưng câu chuyện chỉ là thế này: trong thời gian tên A. vào trại thì M. rất đơn độc. Anh ta rất buồn; chẳng có chuyện gì để nói với các trại nhân khác, lúc nào cũng nhìn mọi người với con mắt sợ hãi, u tối, không nhận ra và cũng không để ý đến những gì có thể tác động đến mình một cách dung hòa, vì thế mà không chơi bời với họ. Những người kia cũng đáp lại bằng cách căm ghét anh. Nhìn chung, tình cảnh của những người như M. trong trại này là rất khủng khiếp. Cái nguyên nhân đưa A. vào trại thì M. lại không biết. Ngược lại khi A., biết được rằng mình đang cọ sát với ai, thì lập tức hắn làm cho M. tin rằng hắn bị lưu đày là vì hoàn toàn bị phản cung, cũng gần giống như cái nguyên nhân khiến M. vào trại. M. xiết bao mừng rỡ vì tìm được một người đồng cảnh, một người bạn. Anh đi theo hắn, an ủi hắn trong những ngày đầu nhập trại, vì cho rằng hắn ta ắt là phải đau khổ lắm, nên đã cho hắn cả đến những đồng tiền cuối cùng của mình, nuôi dưỡng hắn, chia sẻ với hắn mọi thứ đồ dùng cần thiết nhất. Thế nhưng tên A. ngay lập tức đã trở mặt căm ghét anh chỉ vì anh cao thượng quá, vì anh thấy kinh hoàng khi phải đối mặt với mọi sự đê tiện, và cũng vì anh hoàn toàn không giống với hắn, thành thử tất cả những gì M. đã kể với hắn trong những câu chuyện trước đây về nội tình trong trại, thì lập tức có dịp là hắn tâu hót với tên thiếu tá. Vì lẽ đó mà tên thiếu tá đem lòng căm ghét và đày đọa M., và nếu không có vai trò của quan trên thì M. đã gặp đại họa. Tên A. chẳng hề ngượng ngập chút nào khi M. biết chuyện đê tiện của hắn, thậm chí hắn còn thích tìm gặp M. hơn và lúc nào cũng mỉa mai nhìn anh. Có lẽ làm như thế hắn lại thấy thỏa mãn. Chính M. đã mấy lần chỉ cho tôi thấy. Cái tên khốn nạn này về sau đã chạy trốn cùng với một tù nhân và một tên áp tải, nhưng chuyện trốn trại này tôi sẽ kể sau. Thời kỳ đầu hắn cũng xun xoe với tôi, khi nghĩ rằng tôi không hay biết gì chuyện của hắn. Tôi xin nhắc lại rằng chính hắn đã đầu độc những ngày đầu vào trại của tôi bằng một nỗi buồn đau ghê gớm. Tôi cũng rất kinh hãi cái thói đê mạt khốn kiếp mà tôi đã bị đẩy vào, bị buộc phải sống trong đó. Tôi cứ nghĩ rằng trong trại này mọi thứ đều là đê tiện và hèn hạ. Nhưng tôi đã nhầm: tôi đã xét đoán mọi người theo mẫu tên A.
Ba ngày buồn rầu tôi đi lang thang trong trại, rồi tôi nằm dài trong lán. Ông Akim Akimych có giới thiệu cho tôi một anh tù nhân tâm phúc. Tôi nhờ anh này lấy tấm vải mà trại cho để may cho tôi mấy chiếc áo sơ mi, dĩ nhiên là tôi sẽ trả tiền (mấy xu bèo bọt một chiếc), và theo lời khuyên kiên trì của Akim Akimych tôi đã mua được một tấm đệm gấp (bằng thứ phớt có bọc vải lanh thô), cái đệm cực kỳ mềm mại y như là cái bánh tráng và một cái gối nhồi len đặc cứng mà lúc chưa quen thì thấy quá rắn. Akim Akimych vất vả việc này việc kia mới giúp mua được cho tôi những thứ ấy, và tự ông cũng tham gia vào việc bằng cách tự tay mình khâu chăn cho tôi từ những mảnh vụn nỉ cũ của trại được thu gom ở những bộ quần áo bỏ đi mà tôi phải mua lại của những tù nhân khác. Những thứ đồ của trại hết hạn sử dụng thì được coi là của riêng của tù nhân; chúng được bán đi ngay trong trại, và dù chúng có bị dùng cũ đến đâu đi nữa thì chúng vẫn có hy vọng được đặt một cái giá nào đó. Chuyện này ban đầu khiến tôi hết sức kinh ngạc. Nói chung đây là thời gian va chạm đầu tiên của tôi với mọi người. Ngay lập tức tôi đã biến thành một người bình dân, thành một tên tù khổ sai như những tên khác. Những thói quen, cách hiểu, ý kiến của họ dường như cũng chính là của tôi, hay ít ra thì cũng là xét theo hình thức, theo luật lệ, mặc dù về thực chất thì tôi cũng không chia sẻ với họ. Tôi rất kinh ngạc và bối rối, chính xác là vì trước đây tôi không hề nghi ngờ điều đó và không hề nghe được điều gì, cho dù tôi vẫn để ý tìm hiểu và nghe ngóng mọi chuyện. Thế nhưng thực tế đã gây cho ta một ấn tượng hoàn toàn khác so với những gì ta được biết, được nghe. Chẳng hạn, làm sao trước kia có lúc nào đó tôi lại có thể nghi ngờ những thứ đồ như thế này, những thứ đồ dùng cũ kỹ kia lại còn có thể coi là vật dụng được? Thế mà từ những đồ bỏ đi ấy tôi lại có được một chiếc chăn ấm! Khó có thể hình dung được thứ nỉ đem làm áo cho tù nhân này là loại gì. Nhìn bề ngoài thì nó cũng thật giống với nỉ, cũng dày dặn như của lính, thế nhưng chỉ mới dùng ít lâu nó đã tướp như cái lưới cá rồi rách ra một cách đáng ghét. Mặc dù loại áo này chỉ dùng trong thời hạn một năm, nhưng với thời hạn ấy cũng khó giữ được. Tù nhân phải làm việc, phải vác nặng; áo nào rồi chẳng mấy chốc mà sờn rách. Áo tu-lúp thì có thời hạn ba năm và trong thời hạn ấy nó còn được dùng vừa làm áo, vừa làm chăn lại vừa làm đệm. Được cái áo tu-lúp chắc chắn, mặc dù cũng hiếm thấy ai còn giữ được đến cuối năm thứ ba, tức là đến cuối hạn, một chiếc áo tu-lúp dù đã phải vá víu bằng vải thường. Mặc dù thế, cái áo có thể đã rất cũ nát đi nữa, nhưng đến chót hạn nó vẫn được bán với giá đến bốn mươi cô-pếch bạc. Những cái áo được giữ gìn cẩn thận hơn thì có giá đến sáu hoặc bảy mươi cô-pếch bạc mà ở trong trại thì đó là một khoản tiền lớn.
Như tôi đã nói ở trên, trong trại này đồng tiền có giá trị ghê gớm. Có thể nói một cách khẳng định rằng tù nhân mà có một ít lưng vốn thì những đau khổ mà anh ta phải chịu sẽ là mười lần ít hơn những kẻ tay trắng, mặc dù những kẻ này cũng được sở hữu mọi thứ đồ công sản, và như các quan chức vẫn lý sự, tù nhân thì dùng tiền làm gì? Thế nhưng, tôi xin nhắc lại rằng nếu như tù nhân không có khả năng có chút tiền bạc nào thì họ sẽ phát điên lên hoặc là sẽ chết rụi như ruồi bọ (mặc dù vẫn được trang bị đầy đủ) hoặc là họ phải lao đầu vào những tội ác chưa từng thấy - một số thì vì buồn sầu, một số khác thì nhằm mau mau nhờ vào mấy thứ đồ công sản và mấy thứ rẻ rách của mình mà tìm cách “đổi đời” (nói một cách nôm na là như thế). Nếu một trại nhân kiếm được đồng xu bằng mồ hôi và xương máu hoặc liều mạng dùng kế nọ mưu kia mà thường là có kèm theo thói trộm cắp và lừa lọc, nhưng đồng thời lại thiếu suy nghĩ và ngây thơ dại dột tiêu phí đi những đồng tiền ấy, thì nói chung điều ấy cũng không chứng tỏ rằng họ không biết quý trọng đồng tiền, mặc dầu thoạt nhìn thì có vẻ như vậy. Các tù nhân khao khát đồng tiền đến phát run phát rét, đến mờ ám cả lý trí, và nếu như họ thật sự ném tiền qua cửa sổ như rơm rác khi họ nhậu nhẹt, thì họ chỉ ném đi vì cái mà họ coi là đứng cao hơn đồng tiền một bực. Thế thì với tù nhân cái gì cao hơn đồng tiền? Tự do hoặc là một chút mơ ước về tự do. Mà tù nhân thì lại là những nhà đại mơ ước. Về điều này tôi sẽ nói sau, nhưng tiện đây thì phải nói rằng không biết người ta có tin hay không rằng tôi đã được gặp những người bị đi đày hai mươi năm. Chính những người đó nói với tôi một cách rất bình tĩnh những câu như sau: “Ông cứ chờ đấy, lạy Trời phù hộ, mãn hạn tù là tôi...” Toàn bộ ý nghĩa của cái từ “tù nhân” chỉ là con người không có tự do, còn khi tiêu tiền tức là họ được hành xử theo cách tự do của mình. Bất chấp mọi thứ dấu triện, mọi thứ xiềng gông đáng nguyền rủa trong trại che chắn hết cái thế giới thần tiên của họ và vây bủa họ như con thú bị nhốt trong chuồng, họ vẫn có thể kiếm được rượu uống, tức là vẫn tìm được thứ khoái cảm bị cấm đoán khắc nghiệt, vẫn chơi gái được, thậm chí đôi khi (mặc dù không phải bao giờ cũng có) còn mua chuộc được bọn cai quản gần gũi, bọn thương binh và thậm chí cả bọn hạ sĩ để chúng làm ngơ cho cái việc họ vi phạm pháp luật và kỷ cương, thậm chí có thể vượt lên trên cả việc mua bán chúng để tỏ ra hiên ngang - mà đám tù nhân thì cực kỳ thích tỏ ra hiên ngang - tức là đứng trước cả đám bạn bè khẳng định với đám ấy và thậm chí với cả chính mình, mặc dù chỉ trong một lúc, rằng họ có tự do và có quyền lực hơn hẳn những gì mà những người khác cảm thấy, tóm lại là họ có thể chơi bời quậy phá, có thể nhục mạ một người nào đó tới số và chứng minh cho thằng cha đó thấy rằng họ có thể làm được mọi việc, rằng tất cả những chuyện đó đều “nằm trong tay” họ, tức là họ cũng khẳng định cho chính mình cái điều mà tên khốn khổ kia không thể nghĩ tới được. Xin nói thêm rằng có thể đó chính là cái lý do vì sao mà tất cả các tù nhân ngay cả lúc tỉnh táo nhất cũng đều có chung cái khuynh hướng ngang tàng, khoác lác, dương dương tự đắc một cách khôi hài ngớ ngẩn bậc nhất, dù chẳng có bụng dạ gì ác độc. Cuối cùng tất cả các cuộc nhậu nhẹt đều mạo hiểm, có nghĩa những cái trò đó đều có ẩn chứa hoặc một cái bóng nào đó của cuộc sống, hoặc một cái bóng của tự do. Vì tự do thì mất gì mà chẳng được? Có nhà triệu phú nào bị thắt thòng lọng vào cổ mà lại không cống hàng triệu đồng để đổi lấy một hớp khí trời?
Đôi khi ngay cả bọn cai ngục cũng phải ngạc nhiên vì có những trại nhân sống trầm lắng, nhẫn nhục suốt mấy năm liền, thậm chí còn được phong chức tổ trưởng vì hạnh kiểm đáng khen ngợi, thế mà đột nhiên, không hiểu vì cơn cớ gì, cứ như có ma quỉ ám vào, tự nhiên sinh ra quậy phá, nhậu nhẹt, thậm chí đôi khi còn lao vào cả tội ác hình sự: hoặc là có khinh xuất rõ rệt trước mặt thượng cấp, hoặc là giết người, hoặc là hiếp dâm, vân vân... Người ta nhìn những kẻ đó và lấy làm kinh ngạc. Thế nhưng, cũng có thể, toàn bộ nguyên nhân của sự đột phá ấy trong con người ít ai ngờ tới nhất này - đó là biểu hiện ai oán kinh giật của nhân cách, là nỗi buồn bản năng đối với bản thân, là khao khát được tự thể hiện mình, thể hiện cái nhân cách bị chà đạp, khao khát ấy bỗng nhiên bột phát đến mức hung bạo, điên cuồng, đến mờ tối cả lý trí, đến điên loạn và đến kinh giật. Con người tựa như bị chôn sống trong quan tài, tỉnh giấc trong đó, đưa tay đấm vào nắp quan và gắng sức đạp phăng nó ra, dù rằng lý trí đã cả quyết rằng mọi cố gắng đều là hoài công vô nghĩa. Nhưng vấn đề là ở chỗ người đó không cần đến lý trí: đây là chuyện kinh giật. Chúng ta cần phải tính tới một điều nữa: ấy là hầu như bất kỳ cách thể hiện cá tính tự do nào trong con người tù nhân đều được coi là tội lỗi, và trong trường hợp như thế thì tất nhiên đối với người tù biểu hiện lớn hay nhỏ cũng đều như nhau mà thôi. Đã đi nhậu thì là đi nhậu, đã liều thân thì là liều thân, cho dù là đi giết người. Chỉ cần bắt đầu: sau đó con người sẽ say sưa, thậm chí không kìm hãm được nữa! Mà thực ra cách tốt nhất là đừng bước chân vào đó. Mọi người sẽ được bình yên.
Đúng, nhưng bằng cách nào?