Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I - MỞ ĐẦU
I MỞ ĐẦU

❊ ❊ ❊

Chú tôi, đại tá Egor Iliits Rostanev, được hồi hưu là chuyển ngay về làng Stepantsikovo, một thôn ấp nay đã thuộc quyền thừa kế của ông và mọc rễ luôn ở đó như một địa chủ gốc một đời sống chết với thôn trang, không đi đâu ra khỏi lãnh địa của mình. Có những người vốn dĩ hài lòng với mọi người, hòa hợp với mọi thứ, ngài đại tá hưu trí của chúng ta chính là một con người như vậy. Khó có ai hiền lành hơn, dễ tính hơn. Nếu ai đó nghĩ ra trò nhờ ông công kênh một ai thật cẩn thận đến hai dặm[1] đi chăng nữa, rất có thể là ông sẽ công kênh: ông tốt bụng đến mức đã mấy lần sẵn sàng dốc tuốt hầu bao cho người mới ngỏ lời cầu cứu, chia sẻ đến tấm áo cuối cùng với họ. Ông có dáng vẻ khỏe đẹp ngời ngời của một trang tráng sĩ: người cao, thân hình cân đối, má hồng, răng trắng bóng, ria mép màu hạt dẻ để dài, giọng nói âm vang như tiếng chuông đồng, tiếng cười sảng khoái, dòn tan; nói năng thì tùy lúc, lúc ngắt quãng, ngập ngừng, lúc lướt đến nhanh. Hồi này ông đã bốn mươi xuân và suốt đời là quân nhân khinh kỵ, đâu như từ năm 16 tuổi. Ông lấy vợ rất sớm, yêu vợ hết lòng, nhưng vợ ông mất sớm để lại cho ông niềm thương tiếc khôn khuây, trĩu nặng ân tình. Rút cuộc, sau khi nhận được quyền thừa kế làng Stepantsikovo, nâng tài sản lên mức sáu trăm nông nô thì ông hồi hưu và như trên đã nói, ông chuyển về làng cùng với hai con: thằng Iliusa lên tám (sự ra đời của nó được đánh đổi bằng sinh mệnh của mẹ nó) và bé Sasenka, chị nó, mười lăm tuổi, vốn được cho ăn học ở một trường nội trú Moskva từ ngày mẹ mất. Nhưng rồi chỉ ít lâu sau, ngôi nhà của chú tôi đã chẳng khác nào con tàu cứu nạn của Noe[2]. Chuyện là thế này.

Lúc chú tôi đã nhận được quyền thừa kế và được hồi hưu thì mẹ chú, tướng quân phu nhân Krahotkin đã thêm một lần góa bụa: người tái giá với vị tướng này mười sáu năm về trước, hồi chú tôi hãy còn là một thiếu úy nhưng cũng đã toan lấy vợ. Một thời gian dài, bà mẹ một mực không tác thành cho con, cứ khóc lóc nỉ non mà mắng nhiếc con là ích kỷ, vô ơn, bất kính; người chứng minh cho anh thấy rõ rằng bất luận thế nào, cái gia tư điền sản cỡ hai trăm rưỡi nông nô của anh may lắm mới chu cấp đủ cho gia đình anh (có nghĩa là phụng dưỡng mẹ với đầy đủ bộ sậu những người sống nương nhờ[3], đám chó cảnh tí hon, rồi những là chó Đức, mèo Tàu, đủ thứ) và bất thình lình, ngay giữa những tiếng kêu than, những lời trách móc, người quyết định đi bước nữa, trước cả ngày con trai lấy vợ, mặc dù người đã bốn mươi hai tuổi. Thế mà người còn kiếm được cớ buộc tội ông chú tội nghiệp của tôi: người đoan chắc là người phải lấy chồng chẳng qua là để có nơi nương tựa lúc về già, vậy mà thằng con ích kỷ ngỗ ngược của người chỉ biết chúi mũi vào cái việc xây đắp cái tổ tò vò của riêng chúng nó, cho mẹ ra rìa, hỗn xược hết mức, không thể nào tha thứ được.

Tôi chẳng có cách nào lần ra được cái lý do đích thực khiến một con người đầy vẻ khôn ngoan tỉnh táo như mồ ma tướng quân Krahotkin có thể tiến tới hôn nhân với một bà góa bốn mươi hai tuổi như thế được. Phải chăng ngài đã đồ rằng đám ấy có tiền? Số khác lại cho rằng chẳng qua ngài đang cần một nàng hầu một khi đã dự cảm được hàng đống bệnh sẽ đổ ập lên đầu vào lúc mãn chiều xế bóng. Có một điều thấy rõ là tướng quân thực lòng không tôn trọng vợ trong suốt thời gian chung sống bên nhau và hễ có dịp là lại giễu cợt bà một cách chua cay. Một kẻ kỳ cục. Có thể tạm gọi là người có học, chẳng ngu si đần độn chút nào, vậy mà ngài ngang nhiên khinh miệt mọi người không thiếu một ai, hoàn toàn vô nguyên tắc, giễu cợt mọi thứ, mọi người và về già thì do bệnh nọ chứng kia, hậu quả của một lối sống kém phần mực thước, ngài trở nên hung dữ, nóng nẩy và tàn nhẫn tệ. Ngài đã từng thăng tiến khá hanh thông nhưng rồi vướng phải chuyện gì đó không hay nên đã bị buộc về vườn thay vì phải hầu tòa và thế là mất luôn hưu bổng. Từ đó tính nết ngài trở nên dữ dằn hung hãn làm sao. Chỉ còn lại trong tay một trăm nông nô khốn khó, ngài đành thúc thủ trong suốt quãng đời còn lại, mười hai năm trời, chẳng cần biết mình đang sống bằng gì, được ai cung phụng, tuy thế vẫn đòi hỏi đủ thứ tiện nghi sinh hoạt, vẫn tiêu pha thoải mái, xe ngựa đàng hoàng. Ít lâu sau thì ngài bị liệt chân và mười năm cuối phải ngồi một chỗ trong những chiếc ghế bành cố định với hai gã đầy tớ hai bên để lắc lư ghế theo lệnh và nghe mắng nghe chửi. Xe ngựa, đầy tớ, ghế bành thì đã có cậu con vợ bất kính kia cung đốn; cậu gửi đến cho mẹ đủ thứ trong khả năng còn lại của mình, cầm cố đi cầm cố lại cả điền trang, cắt giảm hết mọi nhu cầu bức thiết của bản thân, vay mượn đến lắm, hầu như còn vượt ra ngoài khả năng thanh toán trước mắt, ấy vậy mà cái tiếng con người ích kỷ, đứa con bội bạc vẫn cứ dính chặt lấy cậu. Nhưng tính chú tôi vốn vậy, rút cuộc thì chính chú cũng tin là mình ích kỷ và cứ tìm cách gửi tiền cho mẹ ngày một nhiều hơn để tự trừng phạt và sửa chữa lỗi lầm. Tướng quân phu nhân thì chỉ biết ngưỡng mộ chồng. Thực tình mà nói, điều người khoái nhất chính là ở chỗ ngài là một vị tướng, nhờ đó người nghiễm nhiên là một tướng quân phu nhân.

Tư thất của người chiếm phân nửa ngôi nhà, nơi người luôn tỏa sáng vai trò một mệnh phụ phu nhân giữa những người phụ nữ được mình cưu mang bao bọc, cánh chị em hay chuyện, thạo tin trong thị trấn và những con chó cảnh. Trong thị trấn của mình, bà là một nhân vật có vai vế. Những chuyện đơm đặt, những lời mời làm mẹ đỡ đầu, làm mẹ danh dự các cô dâu chú rể, tham dự những chiếu bài giải trí, sự trọng vọng của cả xã hội đối với địa vị vợ con nhà tướng của người đã giải tỏa được hết mọi bức bối trong quan hệ gia đình. Giới ngồi lê mách lẻo của thị trấn thường xuyên đến ton hót với người đủ chuyện; lúc nào và ở đâu người cũng được mời lên ghế trên, tóm lại người đã khai thác được mọi lợi thế của cái ngôi vị cao sang nhường ấy: một tướng quân phu nhân. Tướng quân không can thiệp vào tất cả những hoạt động ấy của người; tuy nhiên ngài vẫn công khai nhạo báng vợ một cách trắng trợn, chẳng hạn ngài đã từng tỏ ý phân vân: tại sao mình lại đi rước lấy một “ả nướng bánh” như thế? - và không ai dám ho he. Tất cả những người quen biết dần xa lánh ngài, riêng ngài vẫn rất cần có họ: ngài thích tán gẫu, tranh cãi, lúc nào cũng có người ngồi chịu chuyện. Ngài là người thuộc phái tự do tư tưởng và vô thần kiểu cổ, nên cũng chúa thích huênh hoang, cao đàm khoát luận.

Nhưng thính giả ở thị trấn N này thì không mấy mặn mà với những chuyện cao siêu nên mỗi ngày một thêm thưa vắng. Trong chỗ người nhà, mọi người thử ngồi lại với nhau với những ván bài vui nhưng hầu như cứ đến hồi môn cuộc là tướng quân lại nổi trận lôi đình khiến tướng quân phu nhân cùng đám chị em sống nương nhờ cứ phải run rẩy thắp nến lên làm lễ, rồi bói hạt đậu, bói bài, chia bánh thánh và hồi hộp chờ cho đến cái thời điểm sau bữa trưa, để lại ngồi vào chỗ mà chia bài, gọi cái, sơ suất một tý là bị quát mắng chửi rủa ngay tức khắc, không khéo còn bị ăn đòn. Có điều gì không vừa ý tướng quân thì dù có mặt ai chăng nữa, ngài cũng ré lên như một mụ bà chằn, chửi vung tàn tán như một gã xà ích, có lúc còn xé vụn bài ra vứt tung lên, đuổi sạch bạn chơi, thậm chí còn phát khóc lên vì tức giận mà duyên do cũng chỉ từ cái chuyện bắt con chín lại đụng con bồi[4] gì đó. Cuối cùng, do mắt kém, ngài cần có người đọc hộ. Nhân dịp đó, Foma Fomits Opiskin xuất hiện.

Thú thật tôi đang có phần trịnh trọng khi giới thiệu về nhân vật mới này. Chắc chắn đây là một trong những nhân vật chính của thiên truyện. Vì sao y đáng được độc giả lưu tâm điều này xin miễn giải thích: một câu hỏi như thế cứ để độc giả tự giải đáp lấy hẳn dễ dàng và tế nhị hơn.

Foma Fomits xuất hiện trong nhà tướng Krahotkin để kiếm miếng ăn, đúng là như vậy, không hơn không kém. Người này ở đâu ra - điều này tịnh chẳng ai hay. Song tôi đã cất công dò hỏi và nắm được đôi điều về hoàn cảnh trước đây của con người đáng chú ý này. Trước hết, người ta nói rằng ngày xưa y cũng đã từng giữ một chân nào đó trong bộ máy nhà nước, từng lâm nạn ở một nơi nào đó đâu như “vì sự thật”. Nghe đâu y cũng đã từng hoạt động văn học ở Moskva. Chẳng có gì là lạ, ngay cả những gì tồi tệ trong con người Foma Fomits cố nhiên cũng không thể trở thành vật cản đối với nghề cầm bút của y. Có điều chắc chắn là y đã chẳng làm nên trò trống gì nên đành phải đem thân đến làm gã đọc hầu cho vị tướng ở đây nhưng vả chăng cũng còn đến với ngài như một kẻ tuẫn nạn vì nghĩa lớn. Trong trường hợp này, miếng ăn dường như không đi kèm miếng nhục theo lẽ thông thường. Quả nhiên sau đó, khi tướng quân đã lâm bệnh nặng tới mức khó lòng qua khỏi, bản thân Foma đã bất đồ trở thành một nhân vật quan trọng và đặc biệt, y đã nhiều lần đoan chắc với tất cả chúng tôi rằng trong khi chịu sắm vai một chú hề[5], y đã rộng lòng hy sinh chính bản thân mình cho tình bạn; rằng tướng quân là ân nhân của y; rằng ngài là một con người vĩ đại, bí ẩn và đã thổ lộ với riêng y, Foma, những nỗi niềm thầm kín nhất; và rốt cuộc, nếu như y, Foma, có đem con người mình ra, theo yêu cầu của tướng quân, mà thể hiện những con vật khác nhau, những cảnh trí sống động trên đời là cũng chỉ để mua vui và làm khuây khỏa cơn đau của một con bệnh đáng thương, một người bạn đang khốn khổ vì bệnh tật. Tuy nhiên, những lời thuyết giảng của Foma Fomits đã vấp phải sự nghi ngờ tệ hại; nhưng cũng chính Foma Fomits, trong khi vẫn đang là một chú hề, đã đóng một vai trò khác hẳn trong bộ phận nữ giới trong nhà vị tướng. Y có pháp thuật gì mà hay vậy? Trong lĩnh vực này, người ngoại đạo khó hình dung đấy. Tướng quân phu nhân dốc lòng sùng kính y, một niềm sùng kính thiêng liêng, thần bí lạ lùng. Vì lẽ gì? Không rõ nữa. Dần dà ngày một ngày hai, đối với toàn thể bộ phận nữ giới trong nhà vị tướng, y đã có một ảnh hưởng đáng kinh ngạc, có phần giống với ảnh hưởng của các loại Ivan Iakovlevits[6] khác nhau cùng các nhà hiền triết và tiên tri tương tự thường được vài mệnh phụ phu nhân ái mộ viếng thăm ở các nhà thương điên. Y diễn tấu khá hay những trang sách có nội dung cứu rỗi linh hồn, không cầm được nước mắt cảm động khi giảng giải về đức hạnh những tín đồ Cơ đốc giáo; y còn thuật lại bước đường đời với ít nhiều công tích của bản thân; tham dự lễ mi-xa[7] và cả lễ cầu kinh ban mai, có lúc còn đưa ra đôi lời dự báo, lại tỏ ra thành thạo trong việc giải mộng - cắt nghĩa về những giấc mơ, phê phán nhân vật này nhân vật nọ một cách hùng hồn. Tướng quân vẫn đoán già đoán non về những chuyện mờ ám xẩy ra trong các phòng riêng nên càng thẳng tay hành hạ tên nô bộc của mình. Nhưng Foma càng khốn khổ bao nhiêu thì càng được phu nhân tướng quân cùng toàn bộ phái nữ trong nhà trọng vọng bấy nhiêu.

Cuối cùng, mọi sự đã thay đổi hết. Tướng quân tạ thế. Cái chết của ngài khá độc đáo. Vốn là người của phái tự do tư tưởng, phái vô thần mà ngài lại tỏ ra quá đỗi đớn hèn. Ngài sụt sịt cất lời ăn năn hối hận, tay nâng ảnh thánh, mồm gọi linh mục. Mọi người cắm cúi làm lễ tạ ơn, lễ xức dầu[8]. Nạn nhân thì la hét, bảo là không muốn chết, thậm chí còn van vỉ Foma Fomits thứ lỗi cho mình. Điều đó giúp Foma Fomits có dịp phổng mũi. Tuy nhiên, trước khi hồn lìa khỏi xác, một sự kiện bất ngờ đã xẩy ra với tướng quân. Số là người con gái riêng của tướng quân phu nhân, cô Praskovia Iliitsna của tôi (cô ở vậy không lấy chồng và đã là người luôn có mặt trong nhà tướng quân, chính là một trong những vật hiến sinh yêu quý nhất của tướng quân, cánh tay phải của tướng quân trong suốt mười năm bại liệt, trực tiếp phục dịch tướng quân liên hồi kỳ trận, mà cũng chỉ có cô là vừa ý tướng quân bởi tính tình thuần phác, nhu mì), cô đến bên giường, nước mắt giàn giụa, đưa tay toan sửa lại cái gối dưới đầu ông lão đau khổ thì lão đã quờ tay túm được tóc cô mà giật lấy giật để, nhưng cũng chỉ được đúng ba cái, vẻ đầy tức tối. Mười phút sau lão mất. Mọi người đã báo tin cho ngài đại tá, tuy tướng quân phu nhân đã gióng sẵn rằng bà không muốn nhìn mặt ông con, thà chết còn hơn cho cái ngữ ấy vào nhà vào những lúc như thế. Tang lễ được cử hành trọng thể, tất nhiên bằng tiền của ông con bất hiếu đang bị mẹ không thèm nhìn mặt.

Trong ngôi làng Kniaziovka tiêu điều xơ xác của mấy vị địa chủ, nơi vị tướng của chúng ta vẫn còn đến một trăm nông nô, nghiễm nhiên tồn tại một lăng mộ bằng đá hoa cương trắng muốt mang đầy những dòng chữ tán dương trí tuệ, tài năng, đức độ, ghi rõ tước vị, liệt kê đầy đủ huân chương của người quá cố. Foma Fomits đã hăng hái tham gia soạn thảo văn bản đó. Tướng quân phu nhân còn làm mình làm mẩy khá lâu, nhất định không khoan thứ lỗi lầm cho đứa con ngỗ ngược. Ngay giữa một đám đông gồm những người phụ nữ được cưu mang và lũ chó cảnh, người nức nở sụt sùi cho biết là người sắp phải nhá bánh mì khô, “chiêu bằng nước mắt”, rằng người thà chống gậy đi ăn xin dưới cửa sổ nhà thiên hạ còn hơn là chuyển về Stepantsikovo theo lời cầu xin của đứa con “ngỗ ngược”, rằng người nguyện không bao giờ còn đặt chân đến nhà nó nữa! Nói chung hai chữ đặt chân với ý như thế vẫn được vài ba phu nhân phát âm rất quái, đem lại hiệu quả khác thường. Tướng quân phu nhân cũng diễn xướng tài tình, điêu luyện lắm... Có thể thấy khẩu ngữ dân gian ý vị của chúng ta bị mai một nhiều vô kể. Xin lưu ý rằng ngay giữa những tiếng than vãn kêu ca như vậy, việc “dời đô” về Stepantsikovo vẫn được thu xếp dần dần. Ngài đại tá đã quần đến bở hơi tai tất cả mấy chú ngựa của mình, hầu như hôm nào chúng cũng phải lăn đủ bốn mươi dặm từ làng ra phố và mãi đến hai tuần sau ngày kết thúc lễ tang ông mới được phép vào trình diện đấng sinh thành khổ nhục vì con. Foma Fomits được sử dụng làm trung gian cho những cuộc hòa đàm. Suốt hai tuần lễ ấy, y đã cao giọng quở trách và lên án cách xử sự “bất nhân” của người con ngỗ ngược kia, khiến hắn phải hổ thẹn đến trào nước mắt, thực lòng đau khổ xót xa. Từ thời điểm đó, Foma Fomits bắt đầu có một ảnh hưởng lạ lùng mang tính chuyên quyền bí hiểm đối với ông chú tội nghiệp của tôi. Foma đã bắt được vía đối tượng của mình và lập tức cảm nhận được rằng vai trò chú hề của y đã kết thúc và Foma cũng có thể thành nhà quý tộc như chơi. Đây chính là dịp giúp y lấy lại những gì đã mất.

- Đến lúc đó thì ngài sẽ ra sao, - Foma nói, - nếu như thân mẫu của ngài, người đã trót sinh ra ngài, phải chống gậy lần đi, ngửa hai bàn tay run rẩy, quắt queo vì đói để xin ăn? Đó có phải là điều quái đản hay không, thứ nhất, xét về địa vị một tướng quân phu nhân, hai nữa, xét về phẩm hạnh của người? Đến lúc đó thì ngài sẽ ra sao, nếu như người, cố nhiên là chỉ do nhầm lẫn, nhưng đây vẫn là điều có thể xẩy ra, nếu như người bỗng đến đứng dưới cửa sổ nhà ngài để ngửa tay xin bố thí, trong lúc chính ngài, con đẻ của người, đang ngồi lọt thỏm trong chiếc đệm lông đâu đó trong nhà... vâng, nói chung là trong cảnh xa hoa tráng lệ! Khủng khiếp, thật là khủng khiếp! Nhưng khủng khiếp hơn tất cả, thưa ngài đại tá, - điều khủng khiếp nhất ấy là lúc này ngài đang đứng trước mặt tôi như một vật vô tri vô giác, mồm há hốc, mắt trố ra đến khó coi là... trong lúc tôi tưởng là những lúc thế này thì ngài phải ngất lên ngất xuống, nước mắt tuôn ra như suối, như sông, như hồ, như biển!..

Tóm lại, do quá hăng say, Foma đã nổi loạn lên như pháo cối. Nhưng lối thoát thường xuyên cho khẩu khiếu của y vốn là như vậy. Dĩ nhiên là câu chuyện đã kết thúc có hậu: rút cuộc thì tướng quân phu nhân, cùng cả đám phụ nữ được cưu mang và bầy chó cảnh, Foma Fomits và ả gái già Perepelisina, người tâm phúc của người đã đem lại niềm vinh hạnh và diễm phúc lớn lao cho làng Stepantsikovo bằng sự hiện diện của mình. Người cho biết đây cũng chỉ là về ở thử với ông con xem có đúng là tôn kính thật không. Tình cảnh của ngài đại tá trong thời gian thử thách này mới thảm hại làm sao! Trước hết, với tư cách một góa phụ mới, tướng quân phu nhân thấy mình có bổn phận mỗi tuần đôi ba lần ngồi tĩnh tại trong nhà mà tưởng nhớ về người đã vĩnh viễn ra đi với niềm tiếc thương vô hạn và không rõ vì sao, mỗi lần như vậy nhất thiết phải vời cho được ông con đến ngồi với mẹ. Thỉnh thoảng, đặc biệt vào những hôm có khách, người còn cho gọi cả hai đứa cháu lên: cháu trai Iliusa bé bỏng và cháu gái Sasenka mười lăm tuổi, bắt ngồi cạnh bà nội. Bà nội đưa mắt đau buồn nhìn hai đứa đến lâu như nhìn những đứa trẻ đã tàn đời bên một kẻ làm cha như thế rồi thở dài thườn thượt và cuối cùng thì lặng lẽ tuôn ra hai hàng nước mắt bí hiểm. Cảnh bi thương kéo mãi ra đến một tiếng đồng hồ là ít. Tội nghiệp cho ngài đại tá: ông không sao hiểu nổi những dòng lệ ấy! Mà đã không hiểu lại không biết đường mà lẩn tránh đi; vì quá ngây thơ, con người đáng thương ấy lại cứ như cố ý chường mặt ra vào đúng những lúc mẹ đau buồn nên dù muốn hay không ông cũng rơi vào vị thế một thí sinh trong kỳ sát hạch. Nhưng ông vẫn một mực tôn kính mẹ già, không thể khác. Còn tướng quân phu nhân và Foma Fomits, cả hai đều cảm thấy lưỡi tầm sét của tướng Krahotkin vẫn treo lơ lửng trên đầu họ bấy nhiêu năm đã mất hút rồi, không còn khả năng tái hiện. Nhưng tướng quân phu nhân cũng có những lúc tự dưng lăn đùng ra đi-văng mà ngất xỉu khiến cả nhà nháo nhác cả lên. Ngài đại tá cũng hoảng hồn, run lẩy bẩy.

- Một đứa con tàn nhẫn! - Tướng quân phu nhân bừng tỉnh, bỗng hét toáng lên, - trái tim ta tan nát vì mi... mes entrailles, mes entrailles[9].

- Kìa mẹ, con có làm gì mẹ đâu nào? - ngài đại tá phản đối với vẻ rụt rè.

- Tan nát vì mi! Vì mi! Nó còn dám cãi lại nữa! Nó phỉ báng ta! Một đứa con tàn nhẫn! Ta chết mất!

Ngài đại tá sợ xanh mắt mèo.

Nhưng lần nào cũng thế thôi, tướng quân phu nhân lại dần dần trở lại bình thường. Nửa tiếng sau, ngài đại tá đã lại rủ rỉ với người nào đó:

- Này chú em ạ, người chả là một grande dame[10] mà, một tướng quân phu nhân mà lại! một bà lão cực kỳ tốt bụng; có điều người đã quen với cái môi trường kiểu cách ấy rồi... dúng là không hợp với cái hạng quê mùa cục mịch như ta! Lúc này người đang giận ta đấy. Dĩ nhiên ta có lỗi trong chuyện này rồi. Ta cũng chưa biết đích xác là mình có lỗi gì, chú em ạ, nhưng tất nhiên ta có lỗi rồi...

Thường thì Perepelisina, một ả quá lứa nhỡ thì, bẳn tính ghê gớm, lông mày trụi hoáy, tóc thưa phải dùng độn tóc, mắt ti hí nom dâm đãng thế nào, môi mỏng dính, tay luôn được kỳ cọ bằng nước dưa chuột muối, ả thấy mình có bổn phận phải khuyên răn ngài đại tá:

- Sở dĩ như vậy là vì ngài là đứa con bất hiếu đấy ạ. Sở dĩ như vậy là vì ngài là kẻ ích kỷ đấy ạ, cũng vì thế mà ngài cứ làm nhục mẹ ngài đấy ạ, người thì chẳng chịu nổi cái nước ấy đâu đấy ạ. Người là một tướng quân phu nhân đấy ạ, còn ngài thì chỉ mới là một đại tá thôi đấy ạ.

- Này người anh em ạ, cô ả Perepelisina ấy mà, - ngài đại tá lại to nhỏ với một người khác, - một cô ả tuyệt vời đấy, chỗ dựa vững chắc của mẹ ta đấy! Một phụ nữ hiếm có! Ông chớ cho cô ấy là một kẻ mạt vận sống nương nhờ nhé; cô ấy là một ái nữ nhà trung tá đấy, người anh em ạ. Nói cho mà biết!

Nhưng đó mới chỉ là những chuyện râu ria. Là người chuyên bày đặt đủ trò tai quái làm tình làm tội mọi người, đến lượt mình, chính tướng quân phu nhân lại phải rúm tứ túc trước quyền uy của một kẻ vốn được mình cưu mang bao bọc; Foma Fomits đã làm cho người chết mê chết mệt. Người ngưỡng mộ y đến mức chỉ còn biết nghe bằng tai của y, nhìn bằng mắt của y. Tôi có một ông anh họ xa, cũng là sĩ quan khinh kỵ về hưu, một người còn trẻ nhưng rất từng trải sự đời và từng chung sống với chú tôi một thời gian, đã nói toạc ra với tôi rằng anh ấy tin chắc là tướng quân phu nhân đang có quan hệ bất chính với Foma Fomits. Dĩ nhiên, tôi đã gạt đi ngay, cho là chuyện nhảm. Nhưng không, thực ra không phải thế, song để có thể giải trình cặn kẽ tôi buộc phải giúp độc giả nắm được tính cách của Foma Fomits theo hiểu biết sau này của tôi.

Quý vị hãy hình dung giúp tôi một kẻ hèn mọn, kém cỏi, nhỏ nhen, cặn bã của xã hội, vô dụng, vô tích sự, loại người nhơ nhuốc nhưng vẫn dương dương tự đắc, tuy không có khả năng lý giải được chút nào cái biểu hiện cay cú bệnh hoạn của mình. Xin được báo trước rằng Foma Fomits chẳng những là hiện thân của lòng tự ái tự tôn ghê gớm của mình mà còn là của một kiểu tự ái tự tôn kỳ quặc, cụ thể là tâm lý đó đã phát sinh trong một cảnh huống tuyệt vọng và như ta thường thấy ở đây, đó chính là sự cay cú của kẻ bị hạ nhục, bị đè nén bởi những đổ vỡ triền miên trong quá khứ, sự cay cú đã mưng mủ từ lâu và cũng đã từ lâu chỉ sản sinh ra thói đố kỵ và hằn học trước mỗi thành tựu của người khác. Khỏi phải nói là tất cả những biểu hiện đó đều đi kèm với sự bực bõ vô lối, thói đa nghi rồ dại. Mọi người có thể thắc mắc là cái thói tự ái tự tôn như thế là từ đâu ra vậy? Nó nẩy nở như thế nào trong cảnh huống vô vọng như thế, ở những con người kém cỏi như thế, những con người mà chỉ nhìn vào địa vị xã hội của mình thôi cũng phải thấy ngay được chỗ đứng của mình? Biết nói sao đây? Mà biết đâu cũng có những trường hợp ngoại lệ, trong đó có nhân vật của tôi. Thì y đúng là một trường hợp ngoại lệ rồi; điều này dưới đây sẽ được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, xin được phép hỏi rằng quý vị có chắc là những người đã cam phận thấp hèn, lấy làm hãnh diện và vui sướng được làm một chú hề, được bao bọc, được nuôi ăn, - những người như thế không còn chút tự tôn sĩ diện nào không? Thế còn lòng đố kỵ, thói đơm đặt, thì thào, ném đá giấu tay, những hành vi tệ bạc, phản trắc ngay với quý vị nữa thì sao? Biết đâu ở vài ba số phận hẩm hiu trong số những kẻ lang bạt, những chú hề và những kẻ ngây ngô khờ khạo, lòng tự ái tự tôn chẳng những không tiêu biến vì nhục nhã mà còn bùng phát mạnh hơn do chính nỗi nhục ấy, do sự ngây ngô khờ khạo và tình cảnh một chú hề, tình cảnh ăn nhờ ở đậu, mãi mãi bị lệ thuộc, bị coi thường ấy. Lòng tự ái phình lên một cách quái dị như thế biết đâu chỉ là phản ứng lệch lạc của kẻ bị nhục mạ ngay từ lần đầu, có thể ngay từ thuở ấu thơ bởi sự áp bức, bần cùng, bẩn thỉu, hắt hủi, có thể do chính cha mẹ của đứa phát vãng tương lai ngay trước mắt nó. Nhưng tôi đã nói rằng Foma Fomits cũng chỉ là một trường hợp ngoại lệ như thế mà thôi. Đúng thế. Y đã từng dấn thân vào con đường hoạt động văn học nhưng rồi vỡ mộng, không được công nhận; mà văn chương thì vẫn có khả năng tha hóa con người, đâu chỉ có Foma Fomits, tất nhiên đó là loại văn chương vớ vẩn. Cũng có thể Foma Fomits đã nếm mùi thất bại cả trước khi cầm bút; có thể ngay trong những nghề nghiệp khác, y cũng đã làm chẳng nên ăn với nhiều trắc trở rủi ro. Những điều đó tôi không rõ; nhưng dần dà tôi đã nắm được là năm xưa ở Moskva Foma quả có viết được một tiểu thuyết ngắn cùng một giuộc với loại sách được bôi ra vào những năm ba mươi, mỗi năm đến hàng chục cuốn kiểu như “Giải phóng Moskva”, “Cơn bão Ataman”, “Những đứa con của tình yêu” hay “Người Nga năm 1104” vân vân và vân vân, những tiểu thuyết một thời được coi là những món ăn tinh thần dễ nuốt của nam tước Brambeus[11]. Tất nhiên đó đã là chuyện xa xưa, nhưng con rắn độc của thói tự thị văn chương thỉnh thoảng vẫn đem lại những vết thương nguy hiểm, không sao chữa khỏi, nhất là đối với những kẻ kém cỏi và ngu muội. Foma đã phải ăn quả đắng ngay từ lúc mới đặt chân lên con đường văn học, vậy là gia nhập luôn vào cái đạo quân yếm thế sầu đời từ đó lần lượt nẩy nòi ra những kẻ xuẩn ngốc, giang hồ, lang bạt. Từ bấy, theo tôi, cũng nẩy ra trong hắn cái thói huênh hoang một tấc đến giời, cái khát vọng được khen, được thấy mình nổi trội, được trầm trồ thán phục. Với những vai hề, y cũng tạo được một dúm người hâm mộ gồm những kẻ ngớ ngẩn. Làm thế nào để chứng tỏ được mình là nhất, trên tài thiên hạ, biết trước được sự đời, lòe bịp, huênh hoang - nhu cầu chính của y là như vậy! Không thấy ai khen thì tự mình khen lấy. Tôi đã chính tai nghe thấy những lời Foma nói ở nhà chú tôi trong làng Stepantsikovo, nơi y đã lên ngôi thống soái và chiếm giữ địa vị nhà tiên tri ngoại hạng. “Ta không ở đây lâu được đâu, - thỉnh thoảng y lại lên giọng với vẻ quan trọng bí hiểm, - ta chẳng sống lâu dài ở đây đâu. Ta sẽ sắp xếp đầy đủ cho ai vào việc nấy, chỉ bảo, hướng dẫn xong xuôi là tạm biệt luôn: ta còn phải lên Moskva ấn hành tạp chí! Hàng tháng sẽ có ba mươi ngàn người đến nghe ta thuyết giảng. Tiếng tăm ta sẽ nổi như cồn và cánh thù địch với ta mới biết thế nào là nhục!” Nhưng bậc thiên tài, tuy vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị nổi danh, đã đòi phải có ngay tiền thưởng. Có tiền tạm ứng cho công việc bao giờ chả tốt, nhưng trường hợp này cũng khôi hài thật. Tôi biết rằng y đã đoan chắc với chú tôi là y sắp sửa lập nên kỳ tích, một công trạng cực kỳ vĩ đại và y sẽ lừng danh, hiện nay đêm đêm vẫn có một người có cánh đến hối thúc y hoàn thành công việc. Đại loại như thế. Việc bây giờ là phải hoàn thiện cho được một trước tác uyên thâm có nội dung cứu chuộc linh hồn làm chấn động địa cầu và rúng động nước Nga. Và đến khi cả nước Nga đã rúng động rồi thì y, Foma, vốn là người coi nhẹ vinh quang, sẽ hiến mình cho tu viện và ngày đêm cầu nguyện cho hạnh phúc của Tổ quốc trong những hang động ở Kiev. Tất cả những bài vở đó đã khiến ông chú tôi phải xiêu lòng.

Bây giờ xin quý vị hãy xét xem liệu có thể mong đợi gì ở Foma, một kẻ suốt đời long đong lận đận, thậm chí có thể đã xơ xác dạc dài rồi nhưng vẫn âm thầm háo ngọt và tự đắc tự tôn, có thể mong đợi gì ở Foma - một nhà văn vỡ mộng, ở Foma - một chú hề đang phải lần hồi kiếm sống, ở Foma một kẻ kém cỏi, đớn hèn ôm mộng bá vương, ở Foma - một anh nói khoác gặp thời, ở Foma - kẻ bất đồ chòi lên bục vinh quang, được o bế, tụng ca nhờ một bà bầu ngu ngốc và một ông bầu ưa phỉnh nịnh nghe gì cũng thấy bùi tai, có thể y mới lọt được vào nhà ông sau bao ngày lang thang vất vưởng? Về tính cách của chú tôi thì tất nhiên tôi còn phải giải thích cặn kẽ hơn, không thế thì khó lòng hiểu được những thành công của Foma Fomits. Nhưng xin được nói ngay rằng trường hợp của Foma rất khớp với câu tục ngữ: yêu chó chó liếm mặt[12]. Thôi thế cũng coi như y đã có dịp lấy lại những gì đã mất! Khi đã gỡ được cái ách trên cổ, kẻ tiểu nhân sẽ lại là người đi áp bức. Foma đã từng bị áp bức nên y lập tức thấy mình phải đi áp bức người khác mới xong. Y đã từng phải đem thân làm một chú hề thì bây giờ dưới trướng của y cũng phải có ngay những chú hề mới được. Huênh hoang một tấc đến giời, ỏe họe học đủ điều, hạch đến cả sữa chim, ngang ngược quá xá, vâng, chưa nói đến chuyện tận mắt chứng kiến, chỉ cần nghe kể lại thôi, người tử tế hẳn phải hốt hoảng đưa tay làm dấu, nhổ bọt tứ tung, cho là chuyện điên rồ, ma xui quỷ khiến.

Tôi đã nói về ông chú của tôi. Xin nhắc lại rằng nếu không nói rõ về tính nết lạ đời của chú tôi thì cũng không sao hiểu nổi cái ngạo ngược của Foma Fomits trong nhà người khác, không hiểu được tại sao một chú hề lại hóa thành một vĩ nhân như thế được. Chú tôi không những là một người hết sức hiền lành tử tế mà còn là một con người nhạy cảm (tuy vẻ ngoài hơi mộc mạc), một con người cao thượng, can trường. Tôi dám nói “can trường” vì ông không hề dừng bước trước trách nhiệm và bổn phận, không sợ bất cứ chướng ngại nào. Ông có tâm hồn trong trắng như trẻ thơ. Người ấy đúng là một cậu bé bốn mươi tuổi, đáng yêu như những thiên thần, thường nhận lỗi về mình và phóng đại hết cỡ những phẩm chất tốt đẹp của người khác, thậm chí còn có ảo tưởng về chúng ở những nơi chúng không hề có. Đó là một trong những con người có trái tim hào hiệp và trong sáng nhất, những con người thậm chí còn tự lấy làm hổ thẹn khi nghĩ xấu về người khác, dễ dàng tìm thấy ở người thân mọi đức tính quý báu, vui mừng trước mỗi thành tựu của người khác, luôn sống trong một thế giới lý tưởng; trước mỗi thất bại đều thấy mình có lỗi trước tiên. Hy sinh lợi ích của mình vì lợi ích người khác - đó chính là thiên hướng của họ. Cũng có người kêu ông là lành, là đụt, là hèn. Tất nhiên, ông là người mềm yếu, thậm chí còn quá lành, nhưng không phải vì thiếu cương quyết mà vì sợ làm tổn thương người khác, sợ tỏ ra thô bạo do quá tôn trọng người khác, tôn trọng con người nói chung. Ông chỉ hèn và đụt khi sự việc liên quan đến lợi ích bản thân mình, thứ mà ông thực bụng coi khinh khiến ông suốt đời bị chê cười, mà lắm lúc kẻ chê cười lại chính là người được ông nhường nhịn. Ông không bao giờ tin là mình có kẻ thù; tuy nhiên; ông vẫn có kẻ thù, có điều ông không để ý gì đến họ. Tiếng la hét ầm ĩ trong nhà thì ông vốn sợ như sợ lửa, chỉ còn biết nhường nhịn, chiều theo ý mọi người. Ông nhường nhịn vì vốn tính hay ngại, hay xấu hổ, “thôi thế cũng được”, ông lắp bắp, và rồi, mặc ai muốn nói gì thì nói, ông chấp nhận luôn - “miễn sao mọi người... cùng vui vẻ cả!” Khỏi phải nói ông là người nhẹ dạ cả tin. Chả thế mà có kẻ láu tôm láu cá đã dễ dàng bịp được ông, thậm chí còn lôi kéo được ông vào chuyện bất chính mà vẫn tưởng là tốt đẹp hay ho. Ai nói gì cũng nghe, bảo sao không phạm sai lầm. Sau bao chuyện đau lòng ông mới vỡ ra rằng kẻ lừa đảo ông kia là hạng người xảo trá nhưng trước hết ông vẫn tự trách mình, lắm lúc cứ như chỉ tại ông mà ra cả. Bây giờ xin quý vị hãy lưu ý tới cái bà già ngu ngốc, trái tính trái nết, đầu óc lú lẫn, lúc nào cũng cặp kè với một nhân vật ngu ngốc khác, thần tượng của bà, cái bà từ trước tới nay chỉ biết sợ có mỗi vị tướng của mình, nay không biết sợ hãi là gì nữa, thậm chí còn cảm thấy phải lấy lại tất cả những gì đã mất, cái bà ngu ngốc mà chú tôi vẫn thấy mình có bổn phận phải tôn thờ chỉ vì đó là mẹ mình, cái bà đã bất đồ lên ngôi thống soái trong ngôi nhà yên tĩnh của chú tôi. Người bắt đầu từ việc lập tức vạch tội chú tôi là cục cằn, nôn nóng, hỗn láo và cái chính là quá ư ích kỷ. Điều đáng nói là, bà già ngu ngốc lại rất tin vào luận điểm của chính mình. Theo tôi thì Foma Fomits cũng vậy, chí ít cũng có phần như vậy. Người còn cố nhồi vào óc chú tôi rằng Foma là người được Chúa Trời phái xuống để cứu vớt linh hồn ông, hóa giải cái sân si mê muội của ông, rằng ông là kẻ hợm hĩnh vênh vang cậy tiền cậy của, ngang nhiên rẻ rúng Foma Fomits vì mẩu bánh thừa. Ông chú tội nghiệp của tôi đã vội tin là mình đã quá hư hỏng, chỉ còn biết một mực van vỉ, cầu xin tha thứ...

- Này, ông em ạ, ta đúng là người có lỗi chứ không ai khác, - ông lại rủ rỉ với người nào đó, - ta là người có lỗi trong mọi chuyện! Phải thật tế nhị với người mình mang ơn... ừ đấy... ta phải xử sự như thế đấy! Nhưng ơn huệ cái cóc gì! Vớ vẩn! Chẳng có chuyện ấy đâu; hắn mang ơn ta thì có ấy, hắn nhờ vả ta, chứ có phải ta nhờ vả hắn đâu! Hừm, ta đã rẻ rúng hắn vì mẩu bánh thừa. Khổ, nào có phải là rẻ rúng gì đâu nhưng cũng có khi buột miệng - ta cũng cứ hay buột miệng... Không, xét cho cùng, đó cũng là người từng chịu khó chịu khổ, có công lớn đấy; mười năm, bất chấp mọi đắng cay nhục nhã, chăm sóc một người bạn ốm đau: phải có thưởng chứ! Ừ, mà lại còn nghiên cứu học hành... nhà văn đấy chứ! Người học thức hẳn hoi! Một gương mặt cao quý - tóm lại là như thế...

Hình ảnh chàng Foma có học và bất hạnh phải đem thân làm một chú hề cho một ông lớn oái ăm hà khắc đã khiến trái tim nhân hậu của chú tôi không ngừng thổn thức vì thương cảm. Mọi trò kỳ cục, nhố nhăng của Foma đều được chú tôi tìm thấy nguyên nhân ở những đau buồn, tủi hận của y trong quá khứ... Vốn là một tâm hồn đa cảm và cao thượng, ông vội cho rằng không thể đòi hỏi ở con người đau khổ ấy như ở người bình thường; không những phải tha thứ cho hắn mà còn phải chăm chút chữa chạy vết thương lòng cho hắn, giúp hắn bình phục, hòa giải hắn với đồng loại. Tự đề ra cho mình mục tiêu như vậy, ông trở nên hăm hở, náo nức lạ thường, thành thử cũng đâm ra mù quáng, không thể thấy được người bạn mới của ông thực ra chỉ là giống súc sinh dâm đãng, oái oăm, đứa ích kỷ, đại lãn. Ông đã nhắm mắt tin vào học vấn và thiên tài của Foma. Tôi cũng còn quên chưa nói rõ rằng cứ nghe nói đến “khoa học”, “văn chương” là ông chỉ biết sùng kính một cách ngây thơ chứ ông cũng chưa học cái gì bao giờ.

Đó cũng là một trong những nét kỳ cục chủ yếu và hồn nhiên nhất ở ông.

- Ông ấy viết sách đấy! - ông vừa nói vừa rón rén đi lại ở phòng bên này, tuy còn cách phòng làm việc của Foma Fomits đến hai phòng nữa. - Ta không biết cụ thể, - ông nói thêm với vẻ tự hào và bí ẩn, - đâu như là một bộ tạp văn... một bộ tạp văn theo nghĩa tốt. Nói thế là có người người ta khắc hiểu, chứ cứ như ta với ông thì đúng là chuyện đánh đố rồi, người anh em ạ... Đâu như về lực lượng sản xuất cái gì gì đấy, chính ông ấy bảo thế mà. Đúng rồi, chuyện chính trị đấy. Đấy rồi xem, ông ấy sẽ lừng danh! Lúc bấy giờ nhờ ông ấy, anh em mình cũng nổi tiếng theo. Chính ông ấy đã nói với ta như thế đấy, người anh em ạ...

Tôi biết rõ ràng theo lệnh của Foma, ông chú tôi buộc phải cạo bỏ bộ râu quai nón màu hạt dẻ tuyệt đẹp của mình đi. Foma có cảm tưởng rằng nếu để râu như thế, chú tôi nom giống người Pháp, như vậy thì lòng yêu nước ở ông sẽ giảm sút ngay[13]. Foma đã dần dà can thiệp vào việc quản lý điền trang và đưa ra những lời khuyên ra vành ra vẻ. Hóa ra rặt những lời khuyên chết người. Nông dân đã nhanh chóng hiểu rõ nguồn cơn, thấy được chân tướng ông con giời và ngã ngửa người ra. Về sau tôi cũng đã chính tai nghe được cuộc trò chuyện giữa Foma Fomits với cánh nông dân: chuyện này thú thật tôi đã nghe trộm được. Foma đã từng tuyên bố là y rất thích trò chuyện với một gã mugic Nga thông minh. Lần này y đề cập đến cái kho lúa gặt; trao đổi với cánh mugic về nông nghiệp, bản thân y lại không phân biệt được kiều mạch với tiểu mạch; lấy giọng ngọt nhạt giải thích về nghĩa vụ của người nông dân với ông lớn của mình xong lại đá sang vấn đề điện đóm và phân công lao động, những chuyện mà rõ ràng y đang mù tịt, cuối cùng, sau khi giảng giải về đường đi của trái đất bên cạnh mặt trời, y đã trổ tài hùng biện, say sưa hót về các vị bộ trưởng. Tôi hiểu chuyện này. Pushkin có kể về một anh bố trẻ cứ lải nhải với thằng con lên bốn của mình rằng “bố con quả là người thâm thúy, đến đức vua cũng hết lòng yêu quý”... Chả là anh bố nọ đang cần đến vị thính giả lên bốn là gì? Cánh nông dân thì bao giờ mà chả rụt rè khúm núm, cứ việc dỏng tai lên mà chịu chuyện Foma Fomits.

- Này, ông bạn, ông hưởng lương vua như vậy có được nhiều không nhỉ? - từ trong đám mugic, một lão già bé nhỏ tóc bạc có biệt danh là Arhip Ngắn cũn, rõ ràng đang có ý định lấy lòng lấy bề, bỗng cất tiếng hỏi Foma Fomits, nhưng y cảm thấy câu hỏi có vẻ suồng sã, mà bây giờ thì y không chịu được sự suồng sã nữa.

- Việc gì đến lão, hở cái lão cù lần? - y đưa mắt khinh bỉ nhìn lão mugic bé nhỏ tội nghiệp. - Lão há cái mõm thối ra với ta làm gì vậy: muốn nhổ vào mặt à?

Foma Fomits luôn nói chuyện với “gã mugic Nga thông minh” với giọng như thế đấy.

- Ngài chẳng khác gì một người cha của chúng tôi... - một gã mugic khác nói ngay, - chúng tôi chả là bọn người ngu tối mà. Có thể ngài là thiếu tá hay đại tá, hay đại thần gì, quả tình chúng tôi chưa biết thưa bẩm thế nào cho phải.

- Đồ cù lần! - Foma Fomits nhắc lại nhưng giọng đã dịu đi. - Lương bổng cũng có năm bảy loại, chứ đâu phải cứ lương là lương, đúng là cái loại đầu đất! Có người cũng quân hàm cấp tướng đấy nhưng có lương hướng gì đâu, - làm gì đâu mà ăn lương: chẳng đem lại lợi ích gì cho Nga hoàng cả. Cái ngày ta giúp việc bộ trưởng thì lương ta phải đến hai chục ngàn nhưng ta có lấy đâu, ta tình nguyện cống hiến vì danh dự, ta có tiền của ta rồi. Còn tiền lương phục vụ trong ngành giáo dục quốc gia thì ta đã xin chuyển hết cho nạn nhân hỏa hoạn ở Kazan rồi đấy.

- Ồ đấy, thế là ngài đã làm cho mọi người càng phải quan tâm hơn tới Kazan, đúng không ạ? - gã mugic nói tiếp, càng không hết ngạc nhiên.

Cánh mugic nói chung đều bái phục Foma Fomits.

- Chứ sao nữa, ta cũng có bổn phận phải góp phần, - Foma đáp với vẻ miễn cưỡng như đang tự trách mình sao lại cứ tiếp chuyện bằng nhằng một kẻ như thế.

Với chú tôi thì những cuộc chuyện trò lại thuộc dạng khác.

- Trước đây ngài là người như thế nào nhỉ? - chẳng hạn, Foma vừa nói vừa duỗi người ra trong chiếc ghế bành êm ái sau bữa chén no nê, có đầy tớ đứng sau lưng tay cầm cành gia tươi để xua ruồi. - Trước ngày có tôi bên cạnh thì ngài đã giống ai? Còn giờ đây tôi đã gieo vào lòng ngài tia lửa thiêng liêng làm bùng lên ngọn lửa thượng giới đang soi sáng tâm hồn ngài. Có phải tôi đã gieo vào lòng ngài tia lửa thần cao cả ấy không? Ngài trả lời đi: có phải tôi đã gieo vào lòng ngài tia lửa ấy không?

Thực ra thì chính Foma cũng không biết y hỏi thế để làm gì. Nhưng sự im lặng và bối rối của chú tôi đã lập tức khiến y nổi đóa. Vốn là kẻ nhẫn nhục và nhu nhược, vậy mà bây giờ y cứ nổ loạn lên như thuốc nổ trước bất cứ mâu thuẫn nhỏ nào. Chú tôi cứ ngẩn ra như vậy làm y bực lắm, phải căn vặn cho bằng được.

- Ngài trả lời đi: trong lòng ngài có lóe lên tia lửa nào không?

Chú tôi vẫn thừ ra không biết nói sao.

- Xin ngài biết cho: tôi đang chờ, - Foma cất giọng bực bõ.

- Mais répondez donc[14], Egoruska! - Tướng quân phu nhân phụ họa, nhún vai.

- Tôi hỏi: trong lòng ngài có lóe lên tia lửa ấy không? - Foma nhắc lại với giọng trịch thượng sau khi đưa tay nhón một chiếc kẹo ở cái hộp kẹo mỹ miều lúc nào cũng đặt trên bàn ngay trước mặt y. Đó là lệnh chỉ của tướng quân phu nhân.

- Lạy Chúa, ta không biết, Foma ạ, - rút cuộc chú tôi đã trả lời với vẻ thất vọng hiện lên trong ánh mắt, - hẳn cũng có một cái gì đại loại... Tốt nhất ông đừng hỏi nữa, khéo ta lại phịa ra...

- Thôi được! Như vậy theo ngài tôi là một kẻ hèn kém không đáng được trả lời, - ngài định nói thế chứ? Thôi thế cũng được; tôi là kẻ hèn mọn.

- Không phải thế, Foma, lạy Chúa! Ta định nói thế bao giờ?

- Không, đúng là ngài đã định nói như thế đấy.

- Ta thề là không!

- Thôi được! Thế thì tôi là một kẻ xảo trá! Thôi được, theo ý ngài, tôi là kẻ cố ý gây sự; đó cũng lại là điều đáng phỉ nhổ - tôi xin chịu hết...

- Mais, mon fils[15]... - tướng quân phu nhân hốt hoảng kêu lên.

- Foma Fomits! mẹ! - chú tôi kêu lên với vẻ chán chường, - Lạy Chúa, con không có lỗi! Đúng là con không cố ý, con lỡ mồm thôi!.. Ông đừng để ý, Foma ạ: chẳng qua ta là một kẻ ngu đần - tự ta ta biết chứ; ta cảm thấy được, nghe thấy được... con người mình nó thật chẳng ra sao... Ta biết rồi, Foma ạ, ta biết hết! Ông cũng đừng nói nữa! - Chú tôi phẩy tay và nói tiếp. - Ta đã có mặt trên đời được bốn mươi năm và mãi cho đến ngày được biết ông, ta vẫn nghĩ mình là người... ừ thì cũng gọi là đứng đắn đi... Nhưng cũng mãi cho đến lúc bấy giờ ta vẫn chưa thấy được mình là kẻ tội lỗi đầy mình, ích kỷ ghê gớm và đã gây ra hàng núi những điều ác hại!

- Vâng, ngài là kẻ quá ích kỷ! - Foma nhận xét, vẻ hể hả.

- Ừ đấy, bây giờ tự ta cũng thấy là mình ích kỷ rồi thôi! Mà không, như thế cũng đủ lắm rồi! ta sẽ sửa chữa và nhất định sẽ khá hơn!

- Lạy Chúa lòng lành! - Foma Fomits kết luận, thở dài với dáng vẻ một con chiên ngoan đạo, rời ghế bành đứng lên, vỗ cái bụng no căng mà đi đánh một giấc trưa như thường lệ.

Để khép lại chương này, xin độc giả cho phép được nói rõ về những mối quan hệ thân tình giữa hai chú cháu tôi và giải thích về việc bằng cách nào mà bỗng nhiên tôi lại rơi vào vị thế trực tiếp đối đầu với Foma Fomits và bất ngờ rơi vào vòng xoáy của những sự kiện trọng đại nhất từng xẩy ra trong ngôi làng Stepantsikovo tôn quý. Tôi có ý định kết thúc phần mở đầu như vậy để chuyển sang phần chính của thiên truyện.

Từ khi tôi là một đứa trẻ bơ vơ côi cút, chú tôi đã thay thế cha tôi, đứng ra nuôi dạy tôi nên người, tóm lại, ông đã làm cho tôi tất cả những gì mà ngay đến một người cha đẻ không phải lúc nào cũng làm được. Ngay từ ngày đầu tiên được chú đón về, tôi đã gắn bó với chú bằng tất cả tâm hồn. Năm đó tôi lên mười và đến nay tôi vẫn nhớ là chú cháu tôi đã nhanh chóng trở nên hòa hợp và hoàn toàn hiểu nhau. Chúng tôi đã cùng nhau chơi trò đánh quay và đã đánh thó cái mũ trùm đầu của một bà già quyền quý khoảnh ác, có họ với cả hai chú cháu tôi. Cái mũ được tôi buộc ngay vào đuôi chiếc diều giấy để thả lên trời. Nhiều năm sau tôi mới được gặp lại chú tôi một thời gian ngắn ở mãi tận Peterburg trong giai đoạn kết thúc chương trình học tập do chú tôi chu cấp. Lần đó tôi đã gắn bó ngay với chú tôi bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi thanh xuân: có cái gì đó hào hiệp, dịu hiền, chân thật, vui vẻ và cực kỳ trong sáng trong tính cách của chú đã khiến tôi kinh ngạc và hấp dẫn bất cứ ai. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi lưu lại ở Peterburg một thời gian không lâu, tạm thời không làm gì và như thường thấy ở lớp trẻ mới lớn, cứ chắc mẩm là chỉ ít lâu sau tôi sẽ làm được vô khối việc cực kỳ xuất sắc, thậm chí còn vĩ đại nữa. Tôi không muốn rời bỏ Peterburg. Tôi trao đổi thư từ với chú khá thưa thớt, chỉ đến lúc cần tiền mới viết thư, mà chẳng lần nào chú không cho. Hồi đó, từ một gia nhân của chú có việc phải lên Peterburg, tôi được tin là ở Stepantsikovo đang xẩy ra những chuyện lạ lùng. Mới nghe qua tôi đã rất ngạc nhiên, nóng lòng muốn biết rõ thực hư. Tôi bắt đầu chăm viết thư hơn. Ông luôn trả lời tôi một cách mù mờ, là lạ thế nào, thư nào cũng chỉ nói đến việc học hành, mong tôi đạt được thật nhiều thành tựu trong học tập, tự hào về những thành quả sau này của tôi. Đột nhiên, sau một thời gian im lặng khá lâu, tôi đã nhận được một bức thư kỳ lạ của ông, khác hẳn những bức thư trước. Bức thư đầy những câu bóng gió mơ hồ nghe rất lạ tai, lủng củng những điều trái ngược lẫn nhau, lúc đầu tôi hầu như chẳng hiểu gì cả. Rõ ràng người viết đang trong tâm trạng lo lắng khác thường. Điều duy nhất tôi nắm được trong bức thư là: trên tinh thần nghiêm túc, chú tôi khẩn khoản, gần như là van vỉ, đề nghị tôi hãy mau mau kết hôn với cô con nuôi cũ của ông, con gái một vị có họ là Ejevikin, một công chức hàng tỉnh nhưng gia cảnh đã quá sa sút; cô gái đã tốt nghiệp xuất sắc một học viện ở Moskva, vốn được chú tôi lo cho ăn học thành tài và đã từng là gia sư của hai con ông. Ông viết rằng cô gái thật bất hạnh, rằng tôi chính là người có thể đem lại hạnh phúc cho cô ấy, rằng tôi chắc chắn sẽ là người có nghĩa cử cao cả; ông kêu gọi lòng nghĩa hiệp của tôi và hứa sẽ có món hồi môn cho cô gái. Riêng khoản này ông đã đề cập một cách rụt rè và cuối thư ông van tôi hãy tuyệt đối giữ kín mọi chuyện này cho. Bức thư đã khiến tôi choáng váng, đầu óc quay cuồng. Liệu có chàng trai trẻ nào như tôi, một kẻ mới chập chững vào đời, lại có thể dửng dưng trước một lời đề nghị như thế, dù chỉ bởi cái âm hưởng tình tứ du dương của nó? Mà tôi lại còn nghe nói cô gia sư trẻ măng này rất xinh nữa chứ. Tuy nhiên, dù chưa biết phải làm sao, tôi vẫn viết ngay cho chú tôi rằng tôi sẽ sớm thu xếp để về Stepantsikovo. Chú tôi đã gửi tiền đi đường cho tôi ngay trong bức thư sau. Tuy thế, do nghi hoặc, thậm chí còn e ngại nữa, tôi cứ nay lần mai lữa ở Peterburg đến ba tuần. Bỗng nhiên tôi tình cờ bắt gặp một người đồng sự cũ của chú tôi, bác này vừa ghé thăm chú tôi ở Stepantsikovo trên đường từ Kavkaz về Peterburg. Bác đã luống tuổi và là người chín chắn, sống độc thân đã lâu. Với thái độ bất bình, bác kể cho tôi nghe về Foma Fomits và cho biết ngay một chuyện quá bất ngờ, đúng là ngoài sức tưởng tượng của tôi: Foma Fomits cùng tướng quân phu nhân đã rắp tâm buộc chú tôi phải kết hôn với một cô gái quá lứa, tính khí ẩm ương gàn dở, lai lịch khác thường nhưng lại có món hồi môn gần nửa triệu rup; tướng quân phu nhân đã kịp làm cho ả tin rằng hai nhà là họ hàng với nhau để lôi kéo ả; chú tôi tất nhiên là đã chán ngấy rồi nhưng hẳn trước sau gì cũng phải chấp nhận cái đám có hồi môn nửa triệu ấy thôi; cuối cùng, hai đầu óc tinh khôn là tướng quân phu nhân và Foma Fomits đã bắt đầu phùng mang trợn mắt ra sức xua đuổi cô gia sư tội nghiệp, thân cô thế cô, quyết tống khứ cô ra khỏi nhà bằng được, chắc là vì sợ ngài đại tá lại đi yêu cô ấy, mà có khi đã phải lòng rồi cũng có. Câu cuối cùng này đã khiến tôi sửng sốt. Tôi cứ gặng mãi là liệu chú ấy đã say chưa thì người kể chuyện lại cứ như không thể hay không muốn nói rõ, nói chung bác ấy có phần dè dặt, miễn cưỡng, tránh đi vào chi tiết. Tôi bỗng thấy tin tức hôm nay mâu thuẫn lạ lùng với bức thư và lời đề nghị của chú tôi!.. Không chần chừ được nữa. Tôi quyết định về Stepantsikovo với mong muốn lớn lao: không những chỉ khuyên giải và an ủi chú, mà còn ra sức cứu chú qua cơn hoạn nạn, có nghĩa là tống cổ Foma, hủy bỏ cái đám cưới nẫu ruột với ả gái già và cuối cùng, sau khi tự xác định dứt khoát rằng cái gọi là tình yêu của chú tôi chẳng qua chỉ là câu đặt điều kiếm chuyện của Foma Fomits, tôi đã nguyện đem lại hạnh phúc cho cô nàng bất hạnh nhưng tất nhiên là lý thú, bằng lời cầu hôn của tôi, vân vân và vân vân. Tôi dần dà lấy lại được tinh thần, phấn chấn hẳn lên; cũng do tuổi trẻ, lại đang lúc thư nhàn, tôi đã nhẩy từ thái cực này sang thái cực khác: từ phân vân nghi ngại bỗng trở thành hừng hực khát khao, phải mau mau đến với những chiến công hiển hách thần kỳ. Tôi thậm chí còn có cảm tưởng là mình đang thể hiện một tinh thần hào hiệp phi thường, khảng khái hy sinh bản thân mình để đem lại hạnh phúc cho một sinh linh trong trắng đáng yêu, - tóm lại, tôi vẫn nhớ tôi đã cảm thấy rất hài lòng với chính mình trong suốt chuyến đi. Đang giữa những ngày tháng bảy; nắng vàng rực rỡ; tôi đang trôi giữa những cánh đồng lúa chín mênh mông... Vậy mà tôi đã ru rú bao ngày ở Peterburg, điều đó khiến tôi có cảm giác rằng mãi đến lúc này đây tôi mới thực sự được đưa mắt ngắm nhìn cõi thế gian từng hiển hiện dưới bàn tay Chúa!

❀ ❀ ❀

[1] versta (đơn vị đo chiều dài cũ ở Nga) = 1,06 km (Tất cả các chú thích trong bản dịch này đều của người dịch).

[2] Theo Kinh thánh, đây là con tàu đã cứu sống Noe cùng cả gia đình và đàn gia súc trong trận Đại hồng thủy dìm cả thế gian trong biển nước.

[3] Những người đàn ông hoặc đàn bà, có thể là con nhà gia thế nhưng đã phá sản hoặc trí thức, thương gia đang cơn nguy biến được nhà giàu cưu mang bao bọc, cho ở hẳn trong nhà, hòa nhập với gia đình, thường không có chức năng cụ thể, chủ yếu để “cho vui”.

[4] Tên những quân bài.

[5] Loại gia nhân nhà quyền quý chuyên diễn trò hề để mua vui cho gia chủ cùng khách khứa của họ.

[6] Ivan Iakovlevits Koreisa (1780–1861) - một nhà tu khổ hạnh Moskva bị tẩu hỏa nhập ma nhưng rất nổi tiếng trong giáo hội về tài tiên tri.

[7] Lễ cầu kinh chính của đạo chính thống, tiến hành trước bữa ăn trưa.

[8] Một nghi lễ đạo Chính thống dùng dầu ô-liu xoa khắp cơ thể người ốm nặng hoặc đang hấp hối để giải tội.

[9] Ruột gan ta, nỗi lòng ta (tiếng Pháp).

[10] Bà lớn (tiếng Pháp).

[11] Nam tuớc Brambeus - bút danh của Osip Ivanovits Senkovski (1800–1858) nhà văn, nhà báo Nga, chủ bút tạp chí “Thư viện cầm tay”. Đoạn văn này thể hiện quan điểm của tác giả đối với một số tiểu thuyết ngụy lịch sử xuất hiện khoảng 1835–1840 ở Nga.

[12] Nguyên văn: Cứ mời cái ngữ ấy ngồi vào bàn xem, hắn sẽ gác chân lên bàn ngay tức khắc - tục ngữ Nga.

[13] Ý nói về lệnh cấm để râu đối với công chức ngạch dân sự có hiệu lực từ 02-4-1837 của Nga hoàng Nikolai I.

[14] Trả lời đi chứ! (tiếng Pháp)

[15] Kìa con! (tiếng Pháp)

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.