Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VIII - ĐỒNG CHÍ
VIII ĐỒNG CHÍ

❊ ❊ ❊

Tất nhiên, tôi ngả nhiều hơn về phía chúng tôi, tức là về phía “quý tộc”, đặc biệt là trong thời gian đầu tiên. Nhưng trong số ba nhà quý tộc Nga có mặt trong trại (Akim Akimych, mật vụ A. và một người được gọi tên là kẻ giết cha) thì tôi chỉ quen biết và nói chuyện với ông Akim Akimych. Cũng phải thú nhận rằng tôi đến với Akim Akimych là vì chán nản, trong những giờ phút hết sức buồn phiền và khi trông đi trông lại ngoài ông ấy ra tôi chẳng còn biết đến với ai nữa. Ở chương sách bên trên tôi đã định thử phân loại mọi người, nhưng bây giờ, khi nhớ lại Akim Akimych, tôi nghĩ rằng có thể bổ sung một loại người nữa. Quả thật, chỉ riêng ông ta thôi đã đủ là một loại người rồi. Đó là loại tù nhân hoàn toàn thờ ơ. Những người hoàn toàn thờ ơ là những người bất cần đời, sống tự do cũng được, mà trong tù cũng xong, những người này chắc hẳn ở đây không có và không thể có, nhưng có lẽ Akim Akimych là loại đặc biệt. Trong nhà tù ông đã tự thu xếp như thể ông định sống ở đó suốt đời: xung quanh ông tất cả mọi thứ, từ tấm thảm dệt, mấy cái gối bông, từ đồ gia dụng đều được sắp xếp thật gọn ghẽ, chắc chắn và lâu bền. Không thể thấy có gì là tạm bợ, là nhất thời ở nơi ông cả. Thời gian ở trại của ông còn nhiều năm, nhưng chắc gì đã có lúc nào ông nghĩ đến ngày xuất trại. Nhưng nếu như ông có chấp nhận cảnh đời này thì có lẽ không phải xuất phát từ chỗ trái tim, mà có lẽ lại là cam chịu, thế nhưng đối với ông cả hai cái đó cũng chỉ là một. Ông là người tốt bụng và thậm chí ban đầu ông còn khuyên tôi nhiều điều và giúp tôi nhiều việc; nhưng tôi phải thú thật rằng đôi khi, đặc biệt vào những ngày đầu, ông cũng vô tình gây ra cho tôi một nỗi buồn vô hạn, khiến tâm trạng tôi đã ủ dột lại càng thê lương. Chính vì buồn chán mà tôi lại phải nói chuyện với ông. Ở đời ai chả khao khát một lời nói có sinh khí, dù là một lời cục cằn, khó nghe, dù là giận dữ đi nữa, tôi mong chúng tôi cùng nhau trút hết bực bội lên đầu số phận; còn ông thì cứ im lặng, ngồi dán mấy cái đèn con, hoặc chỉ nói về một cuộc duyệt binh năm nào, ai là sư đoàn trưởng, tên họ ông ấy là gì, có hài lòng về cuộc duyệt binh hay không và những tín hiệu cho lính phát hỏa bị thay đổi thế nào vân vân... Với chất giọng đều đều, trang trọng những chuyện ông kể cứ như nước chảy thánh thót từng giọt một. Thậm chí ông gần như hoàn toàn không thấy hào hứng khi kể rằng nhờ tham gia vào một công vụ gì đó ở Kavkaz mà ông đã được nhận huân chương “thánh nữ Anna”. Chỉ có giọng nói của ông lúc ấy là có vẻ quan trọng và nghiêm nghị lạ thường; ông hơi hạ giọng, thậm chí hạ đến mức huyền bí khi phát âm mấy từ “thánh nữ Anna”, rồi sau đó chừng ba phút ông lại trở nên lặng lẽ và trang nghiêm đặc biệt. Trong năm đầu tiên ấy tôi có những giờ phút ngu ngốc, khi tôi (thường bao giờ cũng là bất ngờ) bắt đầu gần như ghét bỏ ông Akim Akimych, không biết vì sao, và âm thầm nguyền rủa số phận vì đã bố trí cho tôi và ông ta nằm cùng một lán, đầu sát bên đầu. Thường cứ sau một giờ như vậy tôi lại trách cứ bản thân. Nhưng đó chỉ là chuyện năm đầu tiên, sau này tâm hồn tôi đã chịu chung sống với ông và tôi thấy xấu hổ vì sự ngu ngốc trước đây của mình. Tuy thế, đối với bên ngoài, như tôi vẫn nhớ, thì tôi và ông chưa hề cãi nhau bao giờ.

Ngoài ba người Nga đó ra, trong thời tôi ở đấy còn có thêm tám người nữa. Đối với một số người trong số đó, tôi qua lại với họ cũng khá ngắn ngủi và thậm chí là thoải mái, nhưng không phải là với tất cả. Trong số đó thì những người tốt nhất lại có vẻ như bệnh hoạn, lạc lõng và khó chịu ghê gớm lắm. Có hai người sau này tôi hoàn toàn không thể nói chuyện được. Có học vấn cao trong đó là ba người: ông B., ông M. và ông Zh. Ông Zh. trước kia dạy toán ở đâu đó, - là một ông già hiền lành, tốt bụng, rất lập dị, và ngoài kiến thức ra thì ông là người hết sức hạn hẹp. Các ông M. và B. thì khác hẳn. Tôi đi lại gần gũi với ông M. ngay từ lần đầu gặp gỡ, không bao giờ to tiếng với ông, rất tôn trọng ông, nhưng không bao giờ có thể yêu mến ông, gắn bó với ông được. Đó là một con người rất không tin ai và cục cằn, nhưng biết giữ mình đến mức đáng phải kinh ngạc. Cái kỹ năng hết sức to lớn ấy ở nơi ông tôi lại không thích: hình như tôi cảm thấy rằng ông sẽ chẳng bao giờ để ngỏ tâm hồn với bất kỳ ai. Tuy nhiên, cũng có thể là tôi bị nhầm. Đó là một bản tính mạnh mẽ và hết sức cao thượng. Sự khôn khéo tột cùng, thậm chí có đôi phần quỷ quyệt và tính thận trọng của ông trong khi tiếp xúc với người đời đã nói lên thói hoài nghi sâu sắc và tiềm tàng của ông. Thế nhưng đó cũng là dạng tâm hồn đã chịu nhiều cay đắng bởi tính hai mặt: chủ nghĩa hoài nghi và niềm tin bất di bất dịch vào những niềm xác tín và những hy vọng của chính mình. Tuy nhiên, mặc dù có những thói khôn ngoan đời thường, ông vẫn là kẻ thù không đội trời chung với ông B. và bạn của ông ta là T. Ông B. là người ốm đau, có chiều hướng bị ho lao, hay bị kích động và yếu thần kinh, nhưng bản chất lại cực kỳ tốt tính, thậm chí còn là độ lượng. Khả năng bị kích động ở nơi ông đôi khi đạt đến mức không thể chịu đựng được và đến mức thất thường. Tôi cũng không chịu đựng được tính nết đó và sau này đã phải chia tay với B., nhưng bù lại, tôi không bao giờ hết yêu ông ta. Còn với M. thì tôi không bao giờ cãi nhau, nhưng tôi lại chưa bao giờ yêu ông ta cả. Chia tay với B. thì lại xảy ra chuyện tôi phải chia tay với T., anh bạn trẻ tuổi nhất, mà tôi có nhắc đến ở chương trước, khi tôi kể chuyện yêu sách. Tôi lấy làm tiếc lắm. T. không phải là người có học vấn, nhưng tốt bụng, can đảm, hào phóng. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ anh ta yêu mến và kính trọng B. đến mức tung hô ông ấy trước mặt ông ấy, đến mức coi tất cả những người hơi hơi xa lánh ông đều gần như là kẻ thù. Anh đã đoạn tuyệt với M. có lẽ chỉ là vì ông B., mặc dù anh ta với ông M. gắn bó với nhau khá lâu. Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều là những người bệnh hoạn về tinh thần, đều hay giận dỗi, cáu bẳn và nghi kỵ. Cũng dễ hiểu thôi: tâm trạng họ nặng nề, nặng nề hơn chúng tôi nhiều lắm. Họ phải sống xa quê hương. Một số người phải chịu tù dài hạn đến mươi mười hai năm, nhưng điều chủ yếu là họ mang những định kiến sâu sắc để nhìn xung quanh, họ thấy bọn tù khổ sai chỉ là ác thú và họ không thể, thậm chí là không muốn nhìn thấy trong đám tù khổ sai một nét nào là nhân hậu, là con người, và điều này cũng thật dễ hiểu: Họ rơi vào cách nhìn bất hạnh ấy là do hoàn cảnh, do số phận xui khiến. Một điều dễ thấy là chính nỗi buồn phiền đã bóp nghẹt họ trong trại tù này. Họ có dịu dàng, niềm nở với người trerkes, người tatar, với Isai Fomich, nhưng họ vẫn thấy ghê tởm và phải tránh xa những tù khổ sai khác. Chỉ duy có một tín đồ cựu giáo người gốc Starodub là được họ hoàn toàn kính trọng. Nhưng lại có một điều đáng nói là trong suốt cả thời kỳ tôi ở trại trong số anh em tù khổ sai không một người nào nói động đến nguồn gốc, tín ngưỡng và lối sống của họ, điều này được bộc lộ trong cách ứng xử của thường dân đối với người nước ngoài, đặc biệt là đối với người Đức, tuy rằng rất ít gặp. Tuy nhiên, đối với người Đức anh em cũng chỉ là cười nhạo thế thôi. Đối với dân thường Nga thì người Đức đáng nực cười lắm. Còn đối với dân quý tộc ở đây thì anh em tỏ thái độ thậm chí là kính trọng, kính trọng nhiều hơn đối với chúng tôi là những người Nga thường và không hề đụng chạm gì đến họ cả. Nhưng những người quý tộc thì có lẽ lại không hề muốn nhận ra điều đó và không muốn nghĩ đến. Tôi cũng đã nói về anh T. Khi người ta chuyển họ từ trại đày thứ nhất đến pháo đài chúng tôi thì chính anh T. là người vác ông B. gần như suốt cả chặng đường, vì ông này yếu dệt và đã bị mệt từ lúc trên đường. Trước đó họ bị đưa đến địa điểm U. Theo họ kể lại thì ở đó họ được sống tốt, tức là tốt hơn so với pháo đài chúng tôi. Nhưng ở đó họ lại bắt đầu một công việc chẳng có tội lỗi gì là trao đổi thư từ với các bạn tù khác ở các thị trấn khác, và vì thế bọn quản lý thấy cần thiết phải chuyển ba người trong số họ về pháo đài chúng tôi để họ phải sống gần với con mắt quan sát của thượng cấp. Người bạn thứ ba của họ là ông Zh. Trước khi họ về đây, ở trong trại ông M. chỉ có một mình, vì thế ông ta rầu rĩ suốt năm đầu tù ngục.

Ông Zh. là cái ông suốt ngày đêm ngồi tụng niệm, mà trên kia tôi đã nói đến. Tất cả những tội đồ chính trị ở đây đều là những người trẻ tuổi, một số thậm chí còn rất trẻ, chỉ riêng ông Zh. đã ngoài năm mươi. Tất nhiên, ông là người chính trực, nhưng hơi lập dị. Các bạn B. và T. đều rất không yêu mến ông, thậm chí không nói chuyện với ông. Khi nhận xét về ông họ bảo ông hay ương ngạnh và hay gây gổ. Tôi không biết trong trường hợp này thì họ đúng được đến bao nhiêu phần trăm. Trong trại này, cũng như các nơi khác tương tự, người ta tụ tập thành nhóm không phải là do ý muốn, mà là do bị ép buộc, thì tôi có cảm giác rằng con người có thể dễ dàng cãi cọ với nhau, thù ghét nhau nhiều hơn ở ngoài. Có nhiều hoàn cảnh xô họ vào đó. Hơn nữa ông Zh. quả là người khá ngốc nghếch và có thể là không dễ mến. Tất cả bạn bè đều có trục trặc với ông. Tôi với ông dù chưa bao giờ cãi nhau, nhưng cũng không đi lại với nhau nhiều. Có lẽ là ông am hiểu môn toán học của ông. Tôi nhớ rằng ông đã ráng sức giải thích cho tôi bằng thứ tiếng Nga ú ở của ông một hệ thống thiên văn nào đó đặc biệt do chính ông nghĩ ra. Có người bảo tôi rằng hệ thống này ông đã cho in ra hồi nào đó, nhưng giới khoa học chỉ cười mũi. Tôi cho rằng lòng tự trọng của ông bị sứt mẻ vì cách nhận định đó. Suốt nhiều ngày liền ông quỳ gối cầu nguyện cho được cả trại kính yêu và được hưởng ân phước đó tới chết. Ông đã qua đời ngay trước mắt chúng tôi trong bệnh viện sau một trận ốm nặng. Thế nhưng lòng kính yêu thì ông đã được đón nhận trong toàn trại ngay từ lúc bước chân vào đây sau câu chuyện xảy ra với tên thiếu tá. Trên đường từ U. đến pháo đài này họ không được cạo râu, mặt mũi ai cũng xồm xoàm, thế nên khi được dẫn tới chỗ tên thiếu tá thì hắn phát điên lên vì bị cho là coi thường thượng cấp, mà họ hoàn toàn không có lỗi gì cả. Hắn gào lên:

- Mặt mũi làm sao thế này! Đây là bọn giang hồ, là bọn cướp đường!

Ông Zh. lúc đó còn chưa rành tiếng Nga, còn đang suy nghĩ câu hỏi: họ là ai? Dân giang hồ hay quân cướp đường? Ông bèn trả lời:

- Chúng tôi không phải giang hồ, mà là tù nhân chính trị.

- Sa-a-a-o-o! Mày chửi à? Mày văng bậy à? - hắn gào lên. - Đem thằng này sang phòng bảo vệ! Đánh trăm roi, đánh ngay bây giờ, ngay phút này!

Ông già bị đòn vọt. Ông nằm dưới lằn roi không nhúc nhích, môi bậm vào tay và chịu trận không một tiếng kêu rên, không hề cử động. Cũng đợt đó B. và T. vào trại, ông M. đã đón họ ở cổng, ôm chầm lấy họ, mặc dù trước đó họ chưa hề thấy nhau bao giờ. Bị chấn động vì cuộc gặp thiếu tá, họ kể cho ông M. nghe về ông G. Tôi còn nhớ ông M. kể lại cho tôi: “Tôi bị choáng. Tôi không hiểu người ta làm gì tôi. Tôi run lên như bị sốt rét. Tôi chờ ông Zh. ở cổng. Ông sẽ phải đi thẳng từ nhà bảo vệ, nơi bị hành hạ, vào đây. Cánh cổng bỗng mở. Ông Zh. không nhìn ai, mặt tái nhợt, môi run rẩy, đi vào sân giữa các tù nhân, những người vừa hay tin có nhà quý tộc bị trừng phạt, đi thẳng đến chỗ mình ở, rồi không nói một lời nào, quỳ sụp xuống và bắt đầu cầu Chúa”. Anh em khổ sai lấy làm kinh ngạc và thậm chí rất xúc động. Ông M. nói: “Khi tôi nhìn thấy ông già ấy, con người đầu bạc, đã bỏ lại vợ con ở chốn quê nhà, khi tôi thấy con người bị trừng phạt khốn khổ ấy quỳ xuống khấn vái, thì tôi lao mình đi khắp các lán trại suốt hai tiếng đồng hồ liền, như tên mất trí, tôi thật sự bị hoảng loạn...” Từ đấy anh em tù nhân rất kính trọng ông Zh. và lúc nào cũng giữ phép lễ độ với ông. Họ rất thích ông không hề kêu rên dưới làn roi vọt.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ sự thật: qua dẫn chứng trên đây ta cũng không thể nào đánh giá được cách ứng xử của bọn cầm quyền ở Sibir đối với những người quý tộc bị đi đày, dù họ là ai đi nữa, là người Nga hay người Ba Lan. Tấm gương trên chỉ cho ta thấy rằng ta có thể đụng đầu với một kẻ ngang tàng, ở đâu đó hắn ta có thể là một viên chỉ huy độc lập hoặc là chỉ huy cấp trên, thì số phận của tù nhân, một khi đã bị hắn trù ghét, sẽ là rất ít được đảm bảo. Nhưng cũng không thể không thừa nhận rằng cấp chỉ huy cao nhất ở Sibir, người quyết định mọi giọng nói và khí thế của tất cả mọi chỉ huy khác, đối với những kẻ lưu đày là quý tộc lại có thái độ rất rành mạch và thậm chí trong nhiều trường hợp lại cố gắng gia ân cho họ nhiều hơn là đối với các tù nhân khác dòng dõi thường dân. Nguyên nhân thì cũng đã rõ: Thứ nhất, những người chỉ huy cao nhất bản thân họ cũng là quý tộc. Thứ hai, trước đây cũng đã có những trường hợp một số người quý tộc chưa chịu đòn roi bao giờ và đã làm dữ với các nhà chức trách, vì thế mà xảy ra những chuyện hãi hùng. Thứ ba, và tôi cho rằng đây là điều chủ yếu, là từ lâu rồi, từ cách đây ba mươi lăm năm, bỗng dưng xuất hiện một nhóm đông các nhà quý tộc bị đi đày ở Sibir, và trong suốt ba mươi năm họ đã biết cách xếp đặt vị trí của mình và tự lăng-xê mình ở khắp vùng Sibir, đến nỗi các hàng quan chức chỉ huy đến bây giờ vẫn theo thói quen và truyền thống cũ mà nhìn các tù nhân quý tộc thuộc một loại tù nào đó bằng một con mắt khác so với những kẻ lưu đày khác. Theo gót các bậc chỉ huy cao cấp, những tên chỉ huy cấp dưới cũng đã quen nhìn bằng những con mắt như thế, tức là họ đã vay mượn cái nhìn và giọng nói từ các cấp trên, tuân thủ và thần phục cấp trên. Tuy nhiên trong số các sĩ quan cấp thấp có nhiều người chỉ biết nhìn hẹp hòi, họ thầm phê phán mệnh lệnh cấp trên và họ rất vui mừng nếu như không ai cản trở họ được tự mình ra lệnh theo cách của riêng mình. Tôi có cơ sở chắc chắn để suy nghĩ như thế, và đó là vấn đề. Loại tù thứ hai, mà tôi được tồn tại trong đó, là loại tù trong pháo đài phải làm việc dưới quyền các chỉ huy quân sự, họ bị sống khổ sở hơn nhiều so với hai loại tù kia, tức là loại tù thứ ba (làm việc trong công xưởng) và loại tù thứ nhất (làm việc trong hầm lò). Loại tù này khổ cực không phải là đối với riêng các nhà quý tộc, mà là đối với tất cả các tù nhân, bởi vì bọn chỉ huy và cơ cấu tổ chức của loại tù này đều theo kiểu quân sự, rất giống với các trung đội tù nhân ở nước Nga. Bọn chỉ huy quân sự thì nghiêm khắc hơn, nội quy thì chặt chẽ hơn, tù nhân lúc nào cũng bị xiềng xích, bị áp giải, bị khóa cửa; điều này lại xảy ra không đến mức như thế đối với hai loại tù kia. Ít ra thì các bạn tù của tôi cũng nói lại như vậy, trong số họ cũng có những người am hiểu tình hình. Họ có thể vui mừng gia nhập vào loại tù thứ nhất, mà theo luật thì đó là loại tù nặng nhất, và thậm chí họ mơ ước được vậy. Về các đội tù ở nước Nga tất cả anh em tù chúng tôi, những người đã từng sống trong đó, đều nói với nỗi sợ hãi và đều đoan chắc rằng trên toàn nước Nga không đâu cực khổ hơn là các đội tù ở các pháo đài, và rằng ở Sibir thiên đường được so sánh với cuộc sống ở đó. Suy ra, nếu với nội dung nghiêm khắc như trong trại chúng tôi, với một bọn chỉ huy quân sự, ngay trước mắt viên tướng tỉnh trưởng, và tất nhiên, vì có những trường hợp (mà những trường hợp này đôi khi cũng đã xảy ra rồi) là có cả những người ngoài, nhưng là những nhân vật bán chính thức, vì giận dữ hoặc vì ghen tị với các nhà chức trách, mà sẵn sàng mật báo tới những nơi cần thiết, rằng có những tù nhân thuộc loại này nọ đã được hưởng ân huệ của những vị chỉ huy không chính trực, - tôi xin nói rằng nếu ở trong vị thế như vậy thì người ta sẽ nhìn vào các tù nhân quý tộc bằng con mắt có phần khác đi so với khi nhìn các tù khổ sai khác, và lại càng hơn như thế nữa khi người ta nhìn họ rộng lượng hơn nhiều so với tù nhân loại một và loại ba. Suy ra, căn cứ vào nơi tôi đã sống thì về mặt này có lẽ tôi có thể xét đoán được cả toàn vùng Sibir. Tất cả những tin đồn đoán và những câu chuyện lọt đến tai tôi từ những tù nhân loại một và loại ba về vấn đề này đã khẳng định cho kết luận của tôi. Thực ra, đối với tất cả anh em quý tộc chúng tôi trong trại bọn chỉ huy đều nhìn bằng con mắt ráo riết và thận trọng. Đối với công việc chúng tôi chẳng được thụ hưởng một chút gì là ân huệ và bao dung cả đâu: cũng là công việc như các anh em khác, cũng xiềng gông, cầm cố - tóm lại, mọi thứ đều giống như các bạn tù cùng trại. Ngay cả việc giảm nhẹ công việc cũng không có. Tôi biết rằng trong thị trấn này, trong cái thời ngày xưa gần nhất có biết bao nhiêu là những kẻ ton hót, bao nhiêu mưu mô thủ đoạn, bao nhiêu hố bẫy bạn bè, đến nỗi chính bọn chỉ huy cũng phải kinh sợ những câu ton hót kia. Thời đó còn có gì kinh hãi hơn là lời mật báo nói rằng một bọn tội đồ nào đấy đang được hưởng ân huệ! Rõ ràng là ai cũng sợ, và chúng tôi vẫn sống ngang bằng với tất cả anh em khổ sai, tuy rằng những nhục hình thể xác thì hơi có phần ngoại lệ. Chúng tôi có thể bị đòn vọt rất dễ dàng, nếu như chúng tôi đáng phải chịu, tức là chúng tôi có mắc vào tội gì đó. Đứng trước nhục hình thể xác thì nghĩa vụ của quan chức và sự bình đẳng đòi hỏi phải thế. Tuy nhiên, dẫu sao thì người ta cũng không hành hạ chúng tôi một cách nhẹ dạ, còn đối với các tù nhân thường thì điều đó đã từng xảy ra, đặc biệt khi có mặt các quan chức tấp tểnh ngoi lên và những kẻ háo hức được ra lệnh và gây ấn tượng trong mọi trường hợp. Chúng tôi được biết rằng tên chỉ huy trưởng, khi biết chuyện đối xử với ông già G., đã nổi cơn tam bành với tên thiếu tá và đã buộc tên này trong thời gian tới phải giảm bớt các trò ấy. Chuyện này thì ai cũng kể với tôi cả. Ở đây người ta còn biết rằng bản thân ông tướng tỉnh trưởng, người đã tin cậy viên thiếu tá và phần nào đó đã yêu quí tên này như một thuộc hạ và coi là người có một số năng lực, thế mà khi biết chuyện này, cũng phải lên tiếng quở trách. Còn tên thiếu tá từ đó cũng phải dè chừng. Chẳng hạn, hắn ta đã muốn với tay đến ông M., người mà hắn rất căm ghét qua chuyện đổ oan của A., nhưng hắn không thể nào đánh đòn ông được, mặc dù đã tìm đủ mọi cớ, nên đành xua đuổi ông và để mắt đến ông. Về chuyện ông Zh. sau này cả thị trấn đều biết và dư luận chung là chống lại tên thiếu tá; nhiều người lên án hắn, những người khác tỏ ra khó chịu. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ đến cuộc gặp hắn lần đầu tiên. Hồi ấy chúng tôi, tức là tôi và một ông bạn quý tộc cùng bị đi tù khổ sai, khi còn ở Tobolsk đã bị hoảng hồn vì những câu chuyện về tính cách khó chịu của con người này. Những nhà quý tộc nằm tù hai mươi lăm năm đã có cảm tình sâu sắc khi gặp chúng tôi và thường xuyên có quan hệ với chúng tôi, đã cảnh báo khi chúng tôi ngồi ở sân trạm trung chuyển về tên chỉ huy tương lai của chúng tôi, và hứa sẽ làm tất cả những gì có thể làm được thông qua những người quen biết để tránh cho chúng tôi khỏi bị theo dõi. Thực sự là vào thời gian này có ba cô con gái của ông tướng tỉnh trưởng từ nước Nga tới đây thăm cha đã nhận được của họ mấy lá thư và có lẽ đã nói tốt cho chúng tôi. Nhưng ông ta có thể làm gì được? Ông ta chỉ nói với tên thiếu tá là hắn phải minh bạch rõ ràng hơn chút nữa mà thôi. Đến ba giờ chiều chúng tôi, tức là tôi và ông bạn tôi, đến thị trấn và bọn áp giải đưa ngay đến gặp tên chỉ huy đó. Chúng tôi đứng ở phòng ngoài chờ đợi, trong lúc họ cử người đi tìm tên hạ sĩ quan. Khi tên này xuất hiện thì tên thiếu tá cũng bước ra. Bộ mặt ửng đỏ, đầy mụn trứng và dữ dằn của hắn gây cho chúng tôi một ấn tượng thật buồn chán: giống hệt như một con nhện hung ác chạy ra vồ con ruồi con khốn khổ sa vào mạng lưới.

- Tên mày là gì? - hắn hỏi ông bạn tôi. Hắn nói liến thoắng, gắt gỏng, giật cục, rõ ràng là muốn ra oai.

- Tên tôi là thế này.

- Còn tên thằng này là gì? - Hắn dí cặp kính trắng vào mặt tôi, hỏi.

- Tên tôi là thế này.

- Hạ sĩ! Đưa ngay chúng vào trại, vào phòng bảo vệ gọt đầu cẩn thận, ngay lập tức, nhớ gọt nửa đầu thôi. Ngay ngày mai đóng xiềng. Những áo khoác này là thế nào? Ở đâu ra đây - hắn đột nhiên hỏi, khi quan sát thấy những áo khoác màu xám có in những vòng vàng trên lưng, mà có người cho chúng tôi khi còn ở Tobolsk, và chúng tôi đang khoác trước cặp mắt rực sáng của hắn. - Đây là đồng phục mới đây! Đúng, đây là một loại đồng phục mới... Còn đang được thiết kế... mang từ Peterburg đến đây... - hắn nói, khi bắt chúng tôi lần lượt quay người. - Chúng có mang theo cái gì không? - hắn bất chợt hỏi tên cảnh sát áp giải chúng tôi.

- Bẩm ngài, chỉ có quần áo cá nhân thôi ạ, - tên cảnh sát trả lời, giọng cố tình kéo dài, thậm chí có đôi chút run sợ. Hắn là người ai cũng biết, ai cũng nghe đến và ai cũng phải sợ.

- Lấy hết đi, chỉ để lại cho chúng một bộ đồ lót, mà là bộ đồ trắng, nếu có những cái có màu thì lấy đi hết. Tất cả những cái khác ấy là để đem bán đấu giá. Tiền bán được sung vào quỹ thu. Tù nhân không được có sở hữu riêng, - hắn nói tiếp, mắt nghiêm khắc nhìn chúng tôi. - Chúng mày hãy coi chừng, giữ mình cẩn thận! Đừng để tao nghe thấy điều gì! Nếu không... tao quật mất xác! Sai phạm một chút là ăn đòn ng..a..a..y!

Buổi tối hôm ấy do mất thói quen nên tôi gần như phát ốm sau cuộc tiếp nhận. Thế nhưng, ấn tượng ấy còn được nhân lên nữa bởi những gì tôi được thấy trong trại. Nhưng chuyện vào trại thì tôi đã kể ở trên rồi. Bây giờ tôi xin nhắc lại rằng người ta không hề tạo ra và cũng không dám tạo ra bất kỳ ân sủng nào cho chúng tôi, không hề nhẹ tay chút nào trong công việc trước những tù nhân khác. Tuy nhiên, có một lần người ta thử làm: tôi và ông B. suốt ba tháng liền đi làm văn thư ở xưởng cơ khí, nhưng cũng là làm dấu dấu giếm giếm, và là do ban quản đốc xưởng quyết định. Có lẽ một số người khác cũng biết, nhưng làm ra vẻ không biết. Chuyện xảy ra ngay trước mắt ông chỉ huy G-kov. Ông thượng tá G-kov này xuất hiện như tự trên trời rơi xuống, ở chỗ chúng tôi chỉ có ít tháng. Nếu tôi không nhầm thì chỉ có chưa đầy nửa năm, thậm chí còn ít hơn nữa, - rồi lại quay về Nga, để lại một ấn tượng lạ thường trong lòng tất cả trại nhân. Ông không những được anh em yêu mến, mà còn sùng kính nữa, nếu có thể dùng được chữ ấy. Ông ấy làm thế nào thì tôi không biết, nhưng đã chinh phục được họ ngay từ lần đầu. “Bố ơi, bố ơi! Bây giờ thì không cần có bố thật nữa rồi!” - các trại nhân thường nói câu ấy trong suốt thời gian ông quản lý bộ phận cơ khí. Về khoản rượu chè thì có lẽ ông thuộc hàng ghê gớm. Thế nhưng ông lại hiền dịu với anh em trại nhân, gần tới mức trìu mến, và quả thật là ông yêu mến họ như cha yêu con. Vì lẽ gì mà ông yêu tù nhân - điều ấy tôi không thể nói được, nhưng ông thì không thể gặp tù nhân mà lại không nói đôi lời dịu dàng, vui vẻ, mà lại không cười với họ, đùa với họ, và điều chủ yếu là ở nơi ông không thấy có vẻ gì quan cách, dù chỉ là một cử chỉ nào đó cho thấy sự trìu mến không bình đẳng hoặc thuần túy cấp trên. Ông đúng là một người đồng đội, một người trong nhà ở mức độ cao nhất. Nhưng dù cho ông có bản tính dân chủ như thế, thì anh em trại nhân cũng chưa bao giờ làm cái gì tỏ ra bất kính hoặc sỗ sàng với ông. Ngược lại là khác. Bao giờ mặt mũi tù nhân cũng rạng rỡ khi gặp người chỉ huy, và khi người chỉ huy đến gần thì anh ta ngả mũ, ngẩng mặt tươi cười. Còn nếu người chỉ huy nói một câu gì thì đó chính là bạc tiền trao tặng. Ở đời vẫn có những con người hòa đồng như vậy. Người chỉ huy trông thật phong độ, dáng đi thẳng thắn, đàng hoàng. Anh em trại nhân thường nói về ông “Đại bàng đấy!”. Tất nhiên, ông không thể nương tay với ai, ông chỉ quản lý công việc cơ khí thôi, thứ công việc mà nếu những người khác chỉ huy thì vẫn phải được tiến hành theo những qui định pháp lý thường nhật. Chỉ có điều, khi thấy công việc đã hết thì ông không giữ anh em những giờ phút còn lại, mà cho phép về trước khi có hồi trống báo. Anh em mến ông vì ông có lòng tin vào tù nhân, không có tính tủn mủn, cáu bẳn, hoàn toàn không có những hình thức nhục mạ anh em theo kiểu cấp trên. Tôi nghĩ rằng, giá như ông có đánh rơi đến một ngàn rúp thì ngay như anh chàng ăn cắp hàng đầu của chúng tôi nhặt được cũng đem về trả lại cho ông. Đấy, tôi tin là như thế đấy. Với lòng cảm thông sâu sắc anh em trại nhân biết được rằng vị chỉ huy đại bàng của mình đã một lần cãi nhau chí chết với tên thiếu tá đáng căm ghét. Chuyện xảy ra vào tháng đầu tiên khi ông tới đây. Tên thiếu tá đã có một hồi là đồng sự của ông. Hai người gặp lại nhau như những người bạn sau một thời gian dài cách biệt và uống với nhau một trận túy lúy. Thế mà bỗng chốc họ chia tay nhau. Họ đã cãi nhau, và ông G-kov đã thành kẻ thù sống chết với hắn. Anh em còn nghe nói rằng lúc đó hai bên đánh nhau. Đối với tên thiếu tá chuyện ấy có thể xảy ra được lắm: hắn vẫn thường đánh nhau mà. Khi anh em nghe được chuyện đó, họ hể hả không sao nói hết. “Đáng đời con ác quỷ! Ông đại bàng của chúng ta...” Tiếp đó họ còn thêm những lời không tiện in ra thành sách. Họ rất háo hức muốn biết trong hai người ai nện được ai. Nếu như tin đồn về cuộc ẩu đả không phải là thật (chuyện đó cũng có thể xảy ra lắm chứ), thì có lẽ anh em tù nhân khổ sở lắm. Họ bảo “Không, chỉ huy của chúng ta phải thắng. Ông người nhỏ con, nhưng lại can trường, còn thằng kia chắc phải đo ván hộc máu”. Nhưng chẳng bao lâu sau ông ra đi, và anh em lại rơi vào sầu thảm. Những người phụ trách cơ khí đều tốt bụng cả: thời tôi ở đấy đã thay đổi đến ba ông hoặc bốn ông, thế nhưng vẫn không thể có một người như vậy, anh em tù nhân bảo rằng ông ấy là đại bàng, con đại bàng che chở. Đúng là ông G-kov yêu thương tất cả chúng tôi, những người quý tộc, và hồi cuối đã ra lệnh cho tôi và ông B. đôi khi được vào văn phòng. Sau khi ông đi, việc đó coi như nghiễm nhiên. Trong số kỹ sư có những người (đặc biệt một người) chúng tôi rất có cảm tình. Chúng tôi đến chép lại các giấy tờ, thậm chí chữ viết của chúng tôi cũng đẹp ra, thế mà bỗng nhiên thượng cấp ra lệnh cho chúng tôi trở lại ngay làm việc cũ: lại có kẻ nào ton hót đây! Tuy nhiên, thế cũng là tốt: hai anh em chúng tôi đã chán ngấy công việc văn phòng. Sau đó gần như suốt hai năm tôi và B. cùng đi làm một việc không hề rời nhau nửa bước, thường là đi vào xưởng thợ. Chúng tôi nói chuyện tào lao với nhau về những hy vọng, những niềm xác tín. Ông là con người tuyệt vời, nhưng những niềm tin của ông đôi khi lại rất kỳ lạ, rất độc đáo. Thường thì những người thuộc một loại nào đó rất thông minh đôi khi lại ôm những khái niệm hết sức kỳ quặc. Nhưng vì những khái niệm đó mà người ta phải chịu biết bao đau khổ trong cuộc đời, phải trả bằng cái giá hết sức đắt, mà rời bỏ chúng cũng cực kỳ đau đớn, hầu như không thể kham nổi. Ông B. rất đau lòng khi tôi phản đối ông và ông thường trả lời một cách chua chát. Tuy nhiên, nói chung thì có lẽ ông đúng hơn tôi, tôi cũng không biết nữa; cuối cùng chúng tôi chia tay nhau, điều ấy dày vò tôi dữ dội: chúng tôi đã chia sẻ với nhau nhiều chuyện quá rồi.

Trong khi đó thì ông M. lại dần dần ngày thêm héo hon, ủ dột. Nỗi buồn xâm chiếm lòng ông. Trước kia, thời kỳ đầu tôi ở trại, ông còn quảng giao hơn, ông bộc lộ tâm hồn mình nhiều hơn và thường xuyên hơn. Lúc tôi nhập trại ông đã ở đây hơn hai năm rồi. Ban đầu ông quan tâm nhiều thứ trong số những chuyện xảy ra trong hai năm ấy mà ông ngồi trong trại không hề có khái niệm gì về chúng; ông hỏi tôi, lắng nghe và sinh lo lắng. Nhưng rồi, cùng với tháng năm tất cả dường như thu gọn vào trong tâm khảm. Than tàn, tro phủ. Những cơn giận dữ trong ông ngày một nhiều hơn. “Je haïs ces brigants” - ông thường nhắc lại với tôi khi căm giận nhìn những người tù khổ sai mà tôi đã quen nhiều hơn và những cách lý giải của tôi về họ chẳng có tác động gì đến ông cả. Ông không hiểu tôi nói gì, thế nhưng đôi khi ông lại lơ mơ đồng ý, nhưng đến mai ông lại nhắc lại “Je haïs ces brigants”. Xin nói thêm rằng tôi với ông thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, vì thế tên cảnh sát theo dõi công việc tên là Dranishnikov, không biết nghĩ gì trong đầu mà gọi chúng tôi là bọn Tây học. Ông M. được đà, toàn đem chuyện mẹ ra kể. “Mẹ tôi đã già, lại ốm đau nữa, - ông bảo tôi, - bà ấy yêu tôi nhất ở trên đời, còn bây giờ tôi ở đây, không biết mẹ tôi sống chết ra sao. Chỉ cần bà ấy biết được rằng tôi bị đòn roi thì...” Ông M. không phải quý tộc và trước ngày đi đày đã bị nhục hình thân thể rồi. Nhớ lại chuyện ấy ông nghiến răng và cố nhìn đi chỗ khác. Thời gian cuối ông hay đi dạo một mình. Một lần vào khoảng mười hai giờ trưa ông bị gọi lên gặp chỉ huy. Tên chỉ huy cười vui đón ông:

- Chào ông M. đêm qua ông mơ thấy gì? - hắn hỏi.

Lúc ông M. quay trở về chỗ chúng tôi, ông kể: “Tôi run bắn lên. Tim như bị chọc thủng”.

- Tôi mơ thấy nhận được thư mẹ, - ông đáp.

- Còn hơn thế, còn hơn thế! -tên chỉ huy phản đối. - Ông được tự do! Mẹ ông đã khẩn cầu... và lời khẩn cầu ấy đã đi thấu. Đây là thư của bà ấy và đây là lệnh cho ông. Bây giờ ông được xuất trại.

Ông quay về chỗ chúng tôi, mặt mày nhợt nhạt, đầu óc vẫn chưa hồi lại sau thông báo đó. Chúng tôi chúc mừng ông. Ông nắm tay chúng tôi bằng đôi bàn tay run rẩy, lạnh cóng. Nhiều anh em đến chúc mừng ông và lấy làm vui sướng trước hạnh phúc đó.

Ông xuất trại theo chế độ định cư và ông đã ở lại thị trấn chúng tôi. Ít lâu sau ông được cung cấp chỗ ở. Ban đầu ông thường hay đến trại, và khi có thể được thì thông báo cho chúng tôi mọi thứ tin tức. Ông thường đặc biệt quan tâm đến những tin chính trị.

Trong số bốn người còn lại, tức là ngoài các ông M., T., B., và Zh., thì hai người hãy còn rất trẻ, bị đày ngắn hạn, học thức kém, nhưng lương thiện, giản dị và thẳng thắn. Người thứ ba là A., rất giản dị và chẳng có gì đặc biệt, nhưng người thứ tư là B., là người đã đứng tuổi và gây ra cho chúng tôi một ấn tượng cực kỳ ghê tởm. Tôi không biết bằng cách nào hắn ta lại rơi vào loại tội phạm như vậy, còn bản thân hắn ta thì phủ nhận điều đó. Đó là một tâm hồn thô lỗ, lắt léo, với những thói quen và nguyên tắc của kẻ chợ búa quen cóp nhặt từng đồng xu nhỏ làm giàu. Hắn chẳng được học hành gì cả và chẳng quan tâm gì cả ngoài công việc kiếm sống của mình. Hắn là thợ quét vôi, nhưng là thợ quét vôi ngoại hạng, tay nghề tuyệt vời. Ít lâu sau ban chỉ huy biết hắn tài nghệ, và thế là cả thị trấn đua nhau kiếm hắn về quét tường, quét trần. Trong suốt hai năm hắn tô vẽ được gần hết các căn hộ của nhà nước. Các chủ nhà trả tiền tùy ý và hắn sống được rủng rỉnh. Nhưng còn một điều tốt hơn là người ta phải cử cả những bạn hắn đi cùng. Trong số ba tên thường đi cùng với hắn thì có hai tên học nghề của hắn, còn tên thứ ba là T-zh thì quét vôi không kém gì hắn. Tên thiếu tá cũng đi thuê nhà nhà nước và cũng yêu cầu B. đến tô vẽ cả tường cả trần. B. rất cố gắng: đến nhà của tướng quân tỉnh trưởng cũng không được làm đẹp đến thế. Ngôi nhà một tầng bằng gỗ, khá là ọp ẹp, bề ngoài trông sần sùi: hắn vẽ bên trong như là cung điện và tên thiếu tá mừng lắm... Hắn xoa tay nói rằng bây giờ sẽ lấy vợ ngay. “Với căn hộ thế này thì không thể không lấy vợ được”, - hắn nói thêm rất nghiêm túc. Hắn ngày càng hài lòng về B. và từ đó hài lòng cả về những người cùng làm với B. Công việc kéo dài suốt tháng. Trong tháng đó tên thiếu tá đã thay đổi hẳn ý kiến của mình về anh em chúng tôi và bắt đầu che chở cho anh em. Rồi đến một hôm hắn bỗng nhiên yêu cầu ông Zh. từ trong trại đến nhà hắn.

- Chào ông - hắn nói. - Tôi đã đánh xúc phạm ông. Tôi đã từng ông vô lối. Tôi biết. Bây giờ tôi hối hận. Ông có hiểu không? Tôi, tôi, tôi - tôi hối hận.

Ông Zh. đáp rằng ông hiểu điều đó.

- Ông có hiểu rằng tôi, tôi, tôi là chỉ huy của ông, tôi mời ông đến đây để ông tha lỗi cho tôi! Ông có cảm thấy điều ấy không? Ông là ai trước mắt tôi? Là con sâu! còn bé hơn con sâu nữa kia: ông là thằng tù! Còn tôi ơn Chúa[1] được là thiếu tá. Thiếu tá! Ông có hiểu không?

Ông Zh. trả lời rằng điều đó ông cũng hiểu được.

- Thế nhé. Từ nay tôi sẽ dàn hòa với ông. Nhưng ông có cảm nhận được đầy đủ không, có thật hoàn toàn không? Ông có đủ khả năng để thấu hiểu và cảm nhận được không? Ông chỉ cần nghĩ thế này: tôi, tôi, thiếu tá...

Chính ông Zh. kể lại cho tôi toàn bộ màn kịch này. Quả thật là trong cái con người nát rượu, càn bậy và vô lối ấy vẫn có tình người. Chỉ cần nghĩ đến những khái niệm của hắn và cách phát triển khái niệm thì đã thấy cách ứng xử như vậy có thể coi gần như là độ lượng. Tuy nhiên, vẻ say sưa của hắn đã giúp nhiều cho cách ứng xử.

Giấc mơ của hắn không thực hiện được: hắn không lấy vợ, dù đã quyết tâm lắm, khi công việc tu bổ căn hộ kết thúc. Đáng lẽ lấy vợ thì hắn lại phải ra tòa và được lệnh phải nộp đơn từ chức. Tại đây mọi tội lỗi cũ của hắn được lôi ra. Trước đây, như chúng ta còn nhớ, hắn đã có thời là người đứng đầu thị trấn này... Cú đòn này giáng vào đầu hắn thật bất ngờ. Trong trại tin đó làm mọi người mừng vui khôn tả. Đó là một ngày hội, một ngày hội lớn! Người ta kháo rằng tên thiếu tá gào rống lên như một bà già, nước mắt đầm đìa. Nhưng biết làm thế nào được. Hắn phải nghỉ việc, phải bán đi hai con ngựa xám, sau đó bán cả điền trang rồi rơi vào cảnh túng quẫn. Sau này chúng tôi có gặp hắn mặc chiếc áo đuôi tôm sờn rách, đội mũ lưỡi trai có cả quân hiệu. Hắn nhìn anh em tù nhân vẻ bực dọc. Khi hắn bỏ bộ quân phục ra thì không còn vẻ gì là hấp dẫn nữa. Mặc quân phục vào thì hắn là cơn giông cơn bão, là thánh là thần. Còn mặc áo đuôi tôm thì hắn hoàn toàn là con số không và trông hao hao như tên đày tớ. Bộ quân phục nơi những con người ấy thật có ý nghĩa. Kỳ lạ thế đấy.

❀ ❀ ❀

[1] Đây là một lối nói mà trong thời của tôi không phải chỉ mình tên thiếu tá này sử dụng, mà là lối nói của nhiều tên chỉ huy cấp thấp, chủ yếu là những tên mang quân hàm nhỏ. (Chú thích của tác giả.)

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.