Sắp đến ngày lễ mừng Chúa Ki-tô ra đời. Các trại nhân trông đợi ngày này một cách hết sức trang trọng, và cứ nhìn họ là tôi lại thấy như mình cũng đang chờ đợi một điều gì khác thường. Bốn ngày trước lễ mừng chúng tôi được dẫn đến nhà tắm hơi. Hồi tôi ở đấy, nhất là những ngày đầu tiên, anh em tù nhân rất hiếm khi được dẫn đi tắm hơi. Mọi người mừng lắm và bắt đầu sửa soạn. Có lệnh qui định là sẽ đi sau giờ ăn trưa và vào những giờ đó là không bố trí công việc. Người vui mừng nhất và lăng xăng nhất trại là anh Isai Fomich Bumshtein, tù khổ sai người Do Thái mà tôi đã nói đến trong chương IV của truyện này. Anh thích được xông hơi đến mức mê muội đi thì thôi, và đến bây giờ, cứ mỗi lần có dịp ôn chuyện ngày xưa, nhớ lại nhà tắm hơi của tù nhân khổ sai (nó cũng xứng đáng để không bao giờ bị quên lãng) thì trước mắt tôi lại hiện ra thật đậm nét gương mặt rạng rỡ và thật khó quên của anh chàng Isai Fomich, người bạn tù khổ sai cùng lán trại với tôi. Lạy Chúa! Gương mặt anh sao mà ngộ nghĩnh và tức cười đến như thế chứ! Phần trước tôi đã nói đôi lời về dáng vẻ anh: anh chưa đến ngũ tuần xuân, người còm cõi, nhăn nhúm, có mấy dấu triện đóng trên má và trên trán trông thật dữ dội, lúc nào cũng gày gò, yếu ớt, như con gà con lông trắng. Ấy vậy mà trên gương mặt anh lúc nào cũng lộ ra vẻ thỏa mãn, thậm chí còn là niềm khoái lạc liên tục, không gì kìm hãm nổi. Có lẽ anh không bao giờ hối hận vì phải vào đây. Chính vì anh là thợ kim hoàn, mà thợ kim hoàn trong thành phố này không có, nên anh phải làm việc không ngừng để phục vụ cho các quý ngài và giới lãnh đạo thành phố. Mặc dù không đáng bao nhiêu, nhưng anh vẫn được trả tiền. Anh không có nhu cầu gì, sống khá là giàu có, nhưng anh vẫn để dành tiền đem gửi khắp trại lấy lãi. Anh có riêng một cái ấm samovar, một tấm nệm đẹp, mấy cái cốc và cả một bộ đồ ăn. Những người Do Thái trong thành phố không còn coi anh là chỗ quen biết và là người đỡ đầu của mình nữa. Vào các ngày thứ Bảy hàng tuần anh được lính áp giải đến nhà nguyện thành phố (điều này đã được luật pháp qui định) và đã được sống hoàn toàn thảnh thơi, tuy thế anh vẫn nóng lòng chờ đợi được sống trót lọt hạn tù mười hai năm để “được lấy vợ”. Ở nơi anh có sự hòa trộn hài hước của các loại tính cách: ngây thơ, đần độn, láu cá, xấc xược, sởi lởi, rụt rè, khoác lác và dơ dáng. Tôi rất lấy làm lạ một điều là nói chung anh em trại nhân không ai cười diễu anh cả, hoặc giả chỉ là trêu chọc cho vui mà thôi. Rõ ràng là Isai Fomich đã luôn luôn làm cho mọi người được an ủi và được giải trí. “Ở đây chúng ta chỉ có một mình anh ấy thôi đấy. Không ai được đụng vào Isai Fomich”, - các anh em tù nhân đều nói như thế. Isai Fomich mặc dù cũng hiểu rõ vấn đề, nhưng hiển nhiên là anh thấy tự hào về ý nghĩa của mình, nên anh càng làm cho tù nhân vui vẻ hơn. Anh bước vào trại là đã rất buồn cười rồi (anh vào trại trước tôi, nhưng tôi được mọi người kể lại). Một hôm bất ngờ, trước lúc chiều tối, vào giờ nghỉ việc, trong trại bỗng xôn xao tin đồn rằng người ta sẽ mang đến đây một anh Do Thái, sẽ cạo đầu anh ta trong phòng bảo vệ và rằng anh ta sắp đến ngay bây giờ. Hồi bấy giờ trong trại chưa hề có một người Do Thái nào cả. Tù nhân nóng lòng chờ đợi và khi anh ta bước chân vào cổng thì cả trại bu ra xem. Viên hạ sĩ dẫn anh vào lán dân sự, chỉ cho anh một chỗ nằm. Isai Fomich mang vào một cái tay nải có mấy thứ đồ dùng của trại phát cho và của riêng anh. Anh đặt tay nải xuống, trèo lên giường khoanh chân ngồi đấy không dám ngước mắt nhìn ai. Xung quanh anh, mọi người cười rộ lên, nói những lời bông đùa về nguồn gốc Do Thái của anh. Bỗng chốc từ trong đám đông lách ra một anh chàng trẻ tuổi cầm trên tay mấy cái quần mùa hè cũ kỹ, bẩn thỉu và rách rưới nhất, kèm thêm một đôi xà cạp được cấp phát. Anh này ngồi xuống cạnh Isai Fomich rồi vỗ vai anh ta một cái.
- Anh bạn thân mến ơi, tôi ở đây chờ anh đã hơn năm năm rồi. Anh xem anh trả tôi được bao nhiêu?
Rồi anh này chiềng ra trước mắt Isai Fomich những đồ dơ dáy kia.
Anh chàng Isai Fomich từ lúc bước chân vào trại đã nhút nhát đến mức không dám ngước mắt nhìn lên những gương mặt nực cười, dị dạng và khủng khiếp vây bọc xung quanh, và vì sợ quá nên không dám nói câu nào, nay trông thấy đống đồ đạc bỗng run rẩy đưa mấy ngón tay lật lật đống rẻ rách, rồi thậm chí đưa ra chỗ sáng cho rõ. Mọi người chờ xem anh ấy nói sao.
- Thế nào? Anh không trả được một đồng rúp bạc à? - anh chủ hàng nháy mắt với Isai Fomich.
- Một rúp bạc thì không, chỉ có thể được bảy cô-pếch thôi.
Đó là câu nói đầu tiên của Isai Fomich trong trại, và thế là mọi người cười lăn quay ra.
- Bảy à? Thôi, bảy cũng được: vận may của anh đấy! Nào cầm lấy đi. Anh lấy đầu đảm bảo cho tôi nhé.
- Lãi ba cô-pếch, vị chi là mười cô-pếch, - anh chàng Do Thái cất lên, giọng nói nhát gừng run rẩy, đưa tay vào túi lấy tiền rồi sợ hãi nhìn đám trại nhân. Anh ta vừa rất sợ hãi, nhưng lại vừa muốn cho xong công việc.
- Lãi suất ba cô-pếch tính bằng năm phải không?
- Không, không phải năm, mà là tháng.
- Anh kẹt xỉ quá, anh Do Thái ạ. Mà quý danh của anh là gì vậy?
- Isai Fomich.
- Thôi được, anh Isai Fomich, anh ở với chúng tôi sẽ kiếm được khá đấy! Chào anh.
Isai Fomich một lần nữa nhìn mấy thứ cầm đồ, gấp lại rồi cẩn thận xếp vào trong tay nải giữa tiếng cười kéo dài của đám tù nhân.
Quả thật là dường như anh ta được mọi người yêu mến, không ai làm phật ý anh, mặc dầu hầu như ai cũng mắc nợ anh. Bản thân anh cũng hiền lành như một cô gà mái, và khi thấy mọi người có thiện cảm với mình, anh thấy can đảm hơn, thể hiện chất người khôi hài đôn hậu đến nỗi người ta bỏ qua cho anh mọi chuyện. Luka là người đã quen biết nhiều dân Do Thái, vẫn thường hay khích bác anh, nhưng không phải vì cáu giận, mà chỉ là để cho vui, giống như người ta đùa với một con chó con, một con vẹt, với những con vật thông minh v.v... Isai Fomich cũng biết điều đó, nên không bực mình, mà chỉ khéo léo đùa lại.
- Ê! Anh bạn Do Thái, tôi sẽ cho anh một đòn đấy![1]
- Anh đánh tôi một, tôi sẽ đánh anh mười, - Isai Fomich tươi cười đáp.
- Isai Fomich thật là tuyệt vời! Thôi, đừng trêu anh ấy nữa, anh ta là người duy nhất ở đây đấy! - anh em tù nhân vừa cười lớn vừa quát lên.
- Này, anh Do Thái, chịu đòn rồi vẫn phải đi Sibir phải không?
- Tôi ở Sibir cũng vậy thôi.
- Người ta còn cho anh đi xa nữa đấy.
- Ở những chỗ ấy có Chúa Trời không?
- Có chứ.
- Thế thì không sợ. Có Chúa và có đồng tiền thì ở đâu cũng tốt cả.
- Hay lắm, Isai Fomich, anh nói hay lắm. - Mọi người xung quanh reo ầm lên. Isai Fomich mặc dù thấy mọi người cười đùa mình, nhưng cũng thấy cao hứng; những lời ngợi khen xung quanh khiến anh hài lòng ra mặt, và anh bắt đầu cất giọng mảnh mai hát vang “La-la-la-la-la...” - đó là một giai điệu vô nghĩa, nhưng vui nhộn, một bài ca duy nhất không lời, mà anh còn hát đi hát lại trong thời gian tiếp tục ở trại. Sau này, khi quen thân với tôi hơn, anh thề sống thề chết với tôi rằng đây là bài hát và giai điệu mà cả sáu trăm ngàn người Do Thái từ già chí trẻ đều hát khi vượt qua Biển Đen và rằng mỗi người Do Thái đều được dạy phải hát giai điệu này vào giờ phút trang trọng chiến thắng quân thù.
Trước mỗi ngày thứ Bảy, vào chiều thứ Sáu, có nhiều người từ các lán trại khác cố tình sang bên chúng tôi để xem Isai Fomich sử dụng ngày nghỉ thế nào. Isai Fomich thật ngây thơ cứ tự khoa trương và thích sĩ diện đến mức là việc mọi người đến xem cũng làm anh ta hả hê. Anh thường ra vẻ thông thái rởm và long trọng rởm bày vào trong góc một chiếc bàn bé xíu, trên đó đặt một cuốn sách đang mở, đốt hai cây nến, miệng lẩm bẩm những câu kỳ bí, rồi khoác lên mình chiếc áo tế (mà anh cứ nói nhịu là áo thế). Đó là một tấm khoác sặc sỡ bằng lụa mà anh cẩn trọng giữ gìn trong rương. Anh đeo hai vòng tròn vào hai tay, còn trên đầu, ngay trước trán anh gắn một tấm băng vải có đính một cái hộp gỗ nhỏ, trông tựa hồ như ở trán anh mọc ra một cái sừng ngộ nghĩnh. Sau đó anh đọc kinh. Anh đọc thật ngân nga, to giọng, miệng phì phì, người uốn éo quay quanh, tạo những động tác buồn cười, hoang dã. Tất nhiên, tất cả những điều đó đã được qui định cho nghi thức cầu kinh, chẳng có gì là buồn cười và lạ lùng cả, nhưng chuyện đáng cười là vì Isai Fomich cố tình khoe ra như thế trước mặt chúng tôi và cố tình khoa trương nghi thức của mình. Có lúc anh đột ngột đưa cả hai tay ôm đầu và đọc nức nở. Tiếng nức nở mạnh dần và anh phờ phạc gần như gào thét lên mà gục xuống trang sách mái đầu có cái hộp hình con thuyền Nô-ê, nhưng rồi đột nhiên đang lúc gào thét dữ dội nhất anh lại bắt đầu cười lên kha kha và lại đọc ngân nga bằng một thứ giọng dịu dàng, trang trọng, trầm tĩnh hẳn lại vì niềm hạnh phúc viên mãn. “Chà chà, anh ta mệt quá rồi đấy!” - có lúc anh em tù nhân đã thốt lên. Một lần tôi đã hỏi Isai Fomich rằng những lời nức nở ấy có ý nghĩa gì và vì sao sau đó anh lại chuyển đột ngột từ cảm hứng trang trọng sang cảm hứng hạnh phúc và thỏa mãn như vậy? Isai Fomich rất thích nghe những câu hỏi xoáy ngược hóc búa như vậy của tôi. Ngay lập tức anh giải thích cho tôi rằng tiếng khóc và lời nức nở là thể hiện ý nghĩ về việc mất Jerusalem và rằng luật lệ đã quy định là khi nghĩ đến điều đó thì phải khóc nức nở càng mạnh càng tốt đồng thời phải đấm vào ngực nữa. Nhưng anh cũng nói rằng trong lúc nức nở dữ dội nhất thì chính anh, Isai Fomich, phải đột ngột, tựa hồ như vô tình nhớ lại (việc đột ngột cũng là được luật lệ qui định), rằng đã có lời tiên tri về việc người Do Thái trở lại Jerusalem. Lúc đó anh lại phải ngay lập tức bộc lộ ra niềm vui sướng, phải hát hò, phải cười ngất và phải nói ra những mô-típ sao cho chính giọng nói của mình phải thể hiện được niềm hạnh phúc càng nhiều càng hay, còn gương mặt thì phải biểu lộ được vẻ trang trọng và cao cả càng nhiều càng tốt. Cách chuyển biến đột ngột và trách nhiệm dứt khoát phải chuyển biến như thế là niềm vui của Isai Fomich: anh nhìn thấy đó là thứ trò ảo thuật đặc biệt, không lừa dối và rồi với vẻ khoe mẽ anh nói cho tôi biết cái luật lệ đầy ẩn ý đó. Có một lần trong lúc cầu kinh say sưa thì tên thiếu tá chạy sộc vào nhà cùng với tên sĩ quan tuần tra và mấy tên áp giải. Tất cả tù nhân đều đứng nghiêm cạnh cửa, chỉ riêng một mình Isai Fomich là bắt đầu kêu gào rống lên và quằn quại lăn lộn. Anh biết rằng trong trại cho phép được cầu nguyện, lúc cầu nguyện thì không ai được ngắt quãng và khi gào thét trước mặt tên thiếu tá chắc hẳn anh không thấy có gì rủi ro cả. Nhưng điều vô cùng thú vị đối với anh là anh được vung vẩy chân tay trước mặt tên thiếu tá và được khoe mẽ trước mặt chúng tôi. Tên thiếu tá bước lên một bước về phía anh: Isai Fomich lùi về phía chiếc bàn, nhìn thẳng vào mặt tên thiếu tá, hai tay vung lên, miệng ngân nga đọc những lời tiên tri trang trọng. Chính vì lúc đó anh được quyền thể hiện trên gương mặt mình niềm hạnh phúc và khoan dung lớn lao, cho nên anh cứ làm ngay như thế, cứ nheo mắt lại, cứ cười lên và gật đầu về phía tên thiếu tá. Hắn kinh ngạc quá, cuối cùng cũng phải phì cười, gọi thẳng thừng rằng anh ta một thằng ngốc rồi bỏ đi, còn Isai Fomich thì càng gào thét hơn nữa. Một tiếng sau, khi anh ăn tối, tôi bèn hỏi anh: thế ngộ cái tên thiếu tá ấy chẳng may lên cơn ngốc nghếch mà nổi trận lôi đình với anh thì sao?
- Tên thiếu tá nào?
- Còn tên nào nữa? Chẳng lẽ anh không thấy sao?
- Tôi có thấy đâu.
- Thì hắn đứng ngay trước mặt anh có chừng gang tấc đấy thôi.
Nhưng Isai Fomich tỏ ra hết sức nghiêm nghị khẳng định với tôi rằng thật sự là anh không hề nhìn thấy một tên thiếu tá nào cả, rằng vào lúc đó, khi anh đọc kinh, anh đã rơi vào một cơn mê sảng, cho nên không nhìn thấy và không nghe thấy tất cả những gì diễn ra xung quanh.
Bây giờ thì tôi thấy Isai Fomich khác hẳn, khi anh dạo chơi ngày thứ Bảy khắp các lán trại, chẳng có việc gì làm, đúng theo qui định ở đây. Biết bao nhiêu những câu chuyện giai thoại không biết anh kiếm đâu ra đem kể cho tôi mỗi khi anh hoàn thành giờ nguyện, biết bao nhiêu những tin tức và những lời đồn đoán từ Peterburg không nghe thấy ở đâu như thế anh cũng mang đến cho tôi và đoan chắc với tôi rằng anh nghe được từ những người Do Thái, còn những người Do Thái này lại nghe được từ những nguồn thông tin gốc.
Nhưng thôi, về anh Isai Fomich tôi đã nói quá nhiều rồi.
Trong cả thành phố chỉ có hai nhà tắm hơi công cộng. Nhà thứ nhất có chủ nhân người Do Thái là nhà tắm có phòng riêng, mỗi phòng giá năm mươi cô-pếch và được thiết kế dành cho những người hạng sang. Nhà thứ hai chủ yếu dành cho người bình dân, một ngôi nhà cũ kỹ, bẩn thỉu, chật chội, chính vì thế người ta đã dẫn anh em trại tôi đến đây. Hôm ấy là một ngày giá buốt nhưng có mặt trời. Trại nhân vui mừng bởi lẽ được ra khỏi trại và được ngắm nhìn thành phố. Những lời đùa cợt, những tiếng cười vui cứ vang lên không ngớt suốt dọc đường đi. Cả một trung đội lính, súng đã lên nòng, áp giải chúng tôi khiến cả thành phố kinh ngạc. Vào đến nhà tắm chúng tôi được chia thành hai kíp: kíp hai phải ngồi đợi trong phòng tiền sảnh lạnh giá vì nhà tắm chật chội. Nhưng mặc dù nhà tắm chật đến vậy, nhưng vẫn khó có thể hình dung được rằng làm sao có thể chứa nổi đến một nửa anh em chúng tôi. Cái anh chàng Petrov vẫn không chịu rời tôi nửa bước. Tôi không cần nói gì anh ta cũng đã đến bên giúp tôi, thậm chí còn yêu cầu được kỳ cọ cho tôi nữa chứ. Cùng tự nguyện với Petrov giúp tôi còn có Isai Fomich, anh chàng tù nhân thuộc diện chuyên ban, người mà chúng tôi vẫn gọi là nhà tiên phong, còn tôi thì vẫn nhớ anh là người vui nhất và hiền nhất trong các tù nhân, và quả thực anh là người như vậy. Tôi và anh mới quen nhau sơ sơ. Petrov thậm chí giúp tôi cởi bỏ quần áo, bởi vì ở đây không quen, nên tôi cởi quần áo chậm lắm, mà ở tiền sảnh thì lạnh chẳng kém gì ngoài trời. Xin nói thêm rằng tù nhân cởi quần áo hết sức khó khăn, nếu không học được cách cởi khôn ngoan. Thứ nhất cần phải biết cởi nhanh những nút giây buộc tấm lót xiềng xích. Tấm lót này làm bằng da dài khoảng bốn vershok[2], buộc ở bên ngoài quần áo, lót cho cái vòng sắt ôm chân. Một cặp da lót ấy có giá không dưới sáu mươi cô-pếch bạc, khoản tiền này tù nhân phải tự bỏ ra, vì không có tấm lót thì không đi lại được. Vòng xiềng này không ôm khít chân, giữa vòng xiềng và chân có thể thò được ngón tay, thế nên vòng sắt cứ cọ vào chân, và nếu không có tấm lót thì chân sẽ lở loét. Nhưng tháo tấm lót chưa phải là khó. Cởi được quần áo dưới vòng xiềng thì phải học chán mới làm được. Đó là cả một trò ảo thuật. Cởi quần áo lót, cứ cho là từ phía chân trái thì đầu tiên cũng phải luồn được nó giữa chân mình với cái vòng xiềng, sau đó rút được một chân, rồi mới nhét quần áo trở lại qua vòng xiềng, sau đó mới luồn tất cả những quần áo của bên chân trái qua vòng xiềng bên chân phải, sau đó tất cả những cái qua vòng bên phải lại đưa ngược trở lại. Việc mặc quần áo mới vào người cũng diễn ra hệt như vậy. Tù nhân mới đến thậm chí khó lòng đoán ra được cách làm thế nào. Người đầu tiên dạy chúng tôi cách làm này là anh Korenev hồi ở Tobolsk. Anh là trùm cướp và đã chịu xiềng năm năm. Nhưng tù nhân cũng quen ngay và thao tác không khó khăn gì. Tôi đã đưa cho Petrov mấy cô-pếch để anh mua dự trữ sà phòng và khăn tắm. Thực ra thì các tù nhân cũng được phát sà phòng của trại, mỗi người một miếng bằng đồng hai xu và dầy bằng một lát phó mát mà những người “bậc trung” vẫn được nhận để nhấm nháp. Sà phòng người ta bán ngay tại tiền sảnh cùng với loại nước uống pha mật ong, bánh mỳ và nước sôi. Theo qui định của chủ nhà tắm hơi mỗi tù nhân chỉ được dùng một gầu nước nóng, ai muốn tắm rửa sạch hơn thì phải mua mỗi gầu nước một xu, nước ấy được đưa qua một ô cửa sổ riêng từ tiền sảnh vào đến buồng tắm. Cởi xong quần áo cho tôi, anh Petrov phải dìu tôi đi vì anh thấy tôi mang xiềng đi lại rất khó. “Ông chịu khó kéo xiềng lên trên chỗ mắt cá chân ấy, - vừa nói anh vừa đỡ tôi như một ông cậu, - này, ông cẩn thận đấy, có cái bậu cửa”. Quả thật tôi thấy có đôi chút xấu hổ. Tôi muốn bảo anh Petrov rằng tự tôi tôi cũng có thể bước qua được, nhưng anh ấy không tin. Anh ấy cứ coi tôi như trẻ con, như cậu bé vị thành niên lóng ngóng cần được giúp đỡ. Petrov hoàn toàn không phải đầy tớ, trước hết không phải là đầy tớ, vì vậy nếu tôi làm mếch lòng anh thì rồi anh sẽ có cách đối xử lại với tôi. Anh giúp tôi thế tôi cũng hoàn toàn không hứa hẹn trả tiền, mà anh cũng không cầu xin. Vậy điều gì khiến anh cứ bám riết lấy tôi vậy?
Khi chúng tôi đẩy cửa vào trong buồng tắm, tôi nghĩ rằng tôi đã bước chân vào tới địa ngục. Xin các bạn hãy tưởng tượng một căn phòng dài chừng hai mươi bước chân, chiều rộng ước chừng cũng vậy mà trong đó đông nghẹt tới cả trăm người, ít nhất cũng phải là tám chục, bởi lẽ trại nhân được chia thành hai kíp, mà tổng số anh em chúng tôi đi tắm có khoảng hai trăm. Hơi nước bay lên lóa cả mắt, khói bụi và ghét bẩn nồng nặc. Căn phòng chật chội đến mức không còn chỗ đặt chân. Tôi sợ hãi quá chỉ muốn rút lui, nhưng ngay lập tức Petrov động viên tôi. Chúng tôi hết sức vất vả tìm mọi cách xin những người đang ngồi dưới đất cúi thấp đầu xuống để chúng tôi bước qua đầu họ mà đến chỗ cái quầy gỗ. Nhưng chỗ đứng ở đây cũng hết. Petrov bảo tôi rằng chỗ đứng bây giờ cũng phải mua, và thế là chúng tôi mặc cả với anh tù nhân đứng cạnh cửa sổ. Với giá một cô-pếch anh ta nhường ngay chỗ đứng và nhận tiền từ tay Petrov. Anh chàng nắm chặt tiền trong tay, mắt trước mắt sau lẩn ngay xuống dưới quầy gỗ dưới chân chúng tôi. Chỗ đứng này thật tối tăm, nhầy nhụa, cộng với hơi nước bám dính có dễ dày đến nửa ngón tay. Nhưng chỗ dưới quầy gỗ mọi chỗ đứng đều đã kín đặc, nhung nhúc những người là người. Dưới sàn không còn chỗ nào bằng bàn tay để trại nhân xoay xở mà té gầu nước. Những người khác thì phải đứng thẳng tắp, tay cầm gầu dơ lên cao mà tắm, nước bẩn từ người họ dội thẳng vào đầu trọc của những người đang ngồi ở dưới. Trên các loại bậc bệ đều có những người tắm rúm ró chen chúc vào với nhau. Nhưng họ kỳ cọ thì ít. Những con người bình thường này ít chịu tắm nước nóng và sà phòng, họ chỉ khoái xông hơi rồi ra xối nước lạnh - toàn bộ nhà tắm hơi chỉ có thế. Có năm mươi cái chổi quất để trên kệ được nâng lên hạ xuống đồng loạt, mọi người quất vào thân mình đến mức lao đao chếnh choáng. Hơi xông được bơm lên mỗi phút một lần. Không còn là nóng nữa, mà là hỏa ngục. Tất cả gào thét lên, kêu hộc lên trong tiếng loảng xoảng của hàng trăm bộ xiềng xích dưới đất... Có những người muốn đi qua, lại bị vướng vào xiềng xích của người khác, nên va chạm vào đầu những người ngồi dưới rồi ngã kềnh ra. Họ chửi bới lung tung và kéo theo cả những người bị vướng víu. Bùn ghét lầy lội khắp nơi. Mọi người đều trong trạng thái nửa như lao đao, nửa như phấn khích, tất cả gầm rít lên, kêu gào lên. Ở chỗ cửa sổ tiền sảnh, nơi cấp nước nóng, có vụ chửi bới, cảnh chật chội và cảnh ẩu đả. Nước nóng vừa đưa vào đã bắn tung tóe vào những người ngồi dưới sàn trước khi đến được điểm hẹn. Thỉnh thoảng qua ô cửa sổ hoặc qua cánh cửa mở hé lại ló vào bộ mặt râu ria của một tên lính tay lăm lăm khẩu súng để quan sát xem có cảnh lộn xộn hay không. Những cái đầu trọc lốc và những thân hình xông hơi đỏ au của đám tù nhân trông càng dị hình. Trên tấm lưng xông hơi thường lại hằn lên rõ hơn những vết sẹo, dấu vết của những trận roi và gậy thuở nào. Bây giờ tất cả những tấm lưng này lại một lần nữa như bị thương tật. Những vết sẹo khủng khiếp! khi nhìn những vết sẹo ấy tôi thấy nổi da gà lên. Nếu mở thêm hơi nữa thì hơi nước sẽ thành cả một đám mây nóng đậm đặc bao phủ cả căn phòng. Tất cả đều gào lên, thét lên. Trong đám mây ấy chỉ còn thấp thoáng những tấm lưng roi vọt, những cái đầu không tóc và những đôi chân tay xoắn xuýt vào nhau; và hoàn tất cho quang cảnh này là hình ảnh Isai Fomich đang gào rống lên hết cỡ trên bệ cao nhất. Anh ta xông hơi đến mức mất trí, nhưng cũng có vẻ như không một mức nóng nào làm anh thỏa mãn. Anh bỏ ra một cô-pếch thuê một người xông hơi giúp sức, nhưng cuối cùng anh chàng kia cũng không chịu nổi, đành vứt bó chổi quất và chạy đi xối nước lạnh. Isai Fomich không hề than vãn, anh thuê thêm một người nữa, rồi một người thứ ba: anh đã dám không nghĩ đến chuyện chi phí và đã thay đến năm người giúp đỡ. “Isai Fomich thật là tuyệt vời! Xông hơi giỏi thật đấy!” - đám trại nhân bên dưới hô vang. Isai Fomich cũng cảm thấy rằng trong phút giây đó anh là người cao hơn tất cả, coi mọi người chỉ đến thắt lưng mình. Anh đứng trang trọng, cất giọng chói tai cuồng nhiệt mà ca lên tấu khúc của mình: La-la-la-la-la... bao trùm lên mọi giọng nói khác. Tôi bỗng nẩy ra ý nghĩ rằng nếu một ngày nào đó chúng ta cùng sa xuống hỏa ngục thì hỏa ngục sẽ là rất giống như chỗ này đây. Tôi không thể kìm mình được nữa bèn thổ lộ ngay lời tiên đoán ấy với Petrov. Anh ta lập tức nhìn quanh và lặng yên.
Tôi đã định mua cho anh ta một chỗ cạnh tôi, nhưng anh đã ngồi thụp xuống dưới chân tôi và bảo rằng như thế là rất tốt rồi, trong khi đó thì Baklushin đã mua nước cho chúng tôi, chúng tôi cần đến đâu là anh chuyển vào đến đó. Petrov tuyên bố rằng anh sẽ kỳ cọ cho tôi từ đầu đến chân, rằng “ông sẽ sạch bóng cho mà xem”, và anh ra sức mời tôi xông hơi. Tôi không liều mạng xông hơi được. Petrov tắm cho tôi toàn thân bằng sà phòng. “Bây giờ tôi sẽ cọ đôi ngọc cước cho ông”, - anh kết luận như vậy. Tôi vừa định trả lời rằng tôi có thể tự mình kỳ cọ lấy được, nhưng cũng không chống lại ý của anh và đành để kệ như vậy. Mấy từ hoa mỹ “đôi ngọc cước” hoàn toàn không có âm hưởng nô lệ, mà chỉ đơn giản là Petrov không thể gọi chân tôi là chân, bởi vì những người khác có đôi chân to, còn chân tôi thì lại rất nhỏ.
Tắm cho tôi xong, lại với những thủ tục cũ, nghĩa là xốc nách tôi, cảnh báo cho tôi từng bước đi, tựa hồ như tôi là con người bằng gốm sứ. Anh đưa tôi ra đến tiền sảnh, mặc quần áo cho tôi, và sau khi đã kết thúc mọi việc với tôi rồi, anh mới lao vào xông hơi cho bản thân mình.
Khi về đến nhà, tôi mời anh uống trà. Anh không từ chối, uống cạn một tách rồi cám ơn. Lúc đó tôi bèn nghĩ phải chi tiền thết anh dăm ba chén rượu. Thứ này trong trại tôi vẫn có bán. Petrov hớn hở ra mặt. Anh uống xong, khà một tiếng rồi bảo với tôi rằng tôi đã tiếp cho anh một nguồn sinh khí. Xong đâu đấy anh đứng lên, vội vàng vào bếp, dường như không có anh người ta không thể quyết định được một việc gì đó. Anh vừa đi khỏi thì lại có một bạn tâm giao tìm đến với tôi, đó là Baklushin (người tiên phong). Lúc ở trong nhà tắm tôi cũng đã ngỏ lời mời anh đến chơi uống trà.
Tôi chưa từng thấy một người nào có cá tính dịu dàng hơn Baklushin. Thực ra là anh không khoan dung cho ai, thậm chí anh còn hay cãi nhau, không thích cho ai xía vào công chuyện của mình, tóm lại là rất biết cách tự bảo vệ mình. Nhưng anh cãi nhau thì cũng không lâu, và dường như mọi người ở đây đều yêu mến anh. Anh đến đâu cũng được mọi người chào đón thoải mái. Trong thành phố thậm chí người ta còn biết đến anh như một người vui tính nhất thế giới và chưa bao giờ mất đi tính vui của mình. Đó là một chàng trai cao lớn, tuổi ước ba mươi với gương mặt tráng sĩ chân chất, khuôn mặt khá đẹp với một nốt ruồi lớn. Khuôn mặt ấy đôi khi anh cố uốn éo nhăn nhó khi bất ngờ gặp người qua lại, khiến họ vây quanh lấy anh và không thể nào không cười ồ lên ngây ngất. Anh cũng thuộc loại nhà hề, nhưng không tạo điều kiện cho những kẻ đáng căm giận, đáng khinh bỉ cười cợt, cho nên không ai trách cứ rằng anh là “con người trống rỗng và vô bổ”. Trong lòng anh đầy lửa và đầy sức sống. Anh quen với tôi từ những ngày đầu và thông báo cho tôi biết rằng anh vốn là quan chức hàng tổng, sau đó tham gia vào đoàn khai khẩn và đã được một số nhân vật cao cấp đánh giá cao và được yêu mến, vì thế, hễ cứ nhớ lại là anh lại thấy tự hào. Ngay hồi ấy anh đã hỏi tôi cặn kẽ về thành Peterburg. Anh cũng đã từng đọc nhiều sách. Trước khi đến tôi uống trà, anh đã đi chọc ghẹo khắp trại, đã kể cho mọi người nghe chuyện sáng nay tay đại úy S. mắng cho tên thiếu tá một trận, và khi đã ngồi cạnh tôi, anh mới hể hả kể rằng có lẽ trong trại sắp có diễn kịch. Trong trại này cứ đến lễ hội là có diễn kịch. Người ta công bố các diễn viên, chuẩn bị một ít phông màn. Một số người trong thành phố đã hứa hẹn tặng những quần áo dài cho các vai diễn, thậm chí cho cả các vai nữ, thậm chí thông qua môi giới là một người làm công nhật còn bày tỏ hy vọng là sẽ kiếm được cả một bộ quân phục có tua có ngù đàng hoàng. Chỉ cốt sao tên thiếu tá không có ý định cấm đoán như năm ngoái. Hồi năm ngoái vào dịp Giáng Sinh tên thiếu tá gặp chuyện không may: hắn đã thua bạc ở đâu đó, về trại lại bị giỡn mặt, vì thế hắn giận quá hóa cấm, còn bây giờ có thể hắn cũng không muốn làm khó mọi người. Tóm lại, Baklushin đang trong trạng thái hưng phấn. Ai cũng biết anh là người chủ trò đêm diễn, còn tôi thì đoan chắc rằng thế nào lúc diễn tôi cũng sẽ có mặt. Niềm vui chân thật của Baklushin về thành công của đêm diễn khiến tôi hài lòng. Chúng tôi nói với nhau hết chuyện này sang chuyện khác. Trong câu chuyện anh bảo tôi rằng anh làm việc ở Peterburg không được liên tục, rằng anh đã mắc một lỗi gì đó và bị chuyển đến R., tuy nhiên, vẫn được làm hạ sĩ quan của tiểu đoàn đồn trú.
- Chính là từ đó tôi bị đày về đây, - Baklushin nhấn mạnh.
- Anh bị đày là vì chuyện gì vậy? - tôi hỏi.
- Chuyện gì à? - ông Aleksandr Petrovich, ông có biết là chuyện gì không? Chuyện là vì tôi đã yêu say đắm.
- Chà! Vì chuyện ấy thì người ta chẳng bao giờ đày anh đến đây, - tôi cười phản đối.
- Tôi nói thật đấy, - Baklushin nói thêm, - quả thật là trong chuyện này tôi đã nổ súng giết chết một người Đức ở đó. Nhưng ông thử nghĩ xem, vì một tên Đức thì có nên đày một người không?
- Nhưng mà chuyện thế nào đã chứ? Anh kể tiếp đi, đang đến chỗ hay.
- Chuyện hết sức buồn cười, ông Aleksandr Petrovich ạ.
- Càng buồn cười càng hay. Anh cứ kể đi.
- Ông thích tôi kể à? Thế thì ông nghe đây...
Tôi đã được nghe hết câu chuyện giết người. Chuyện không hẳn buồn cười, nhưng khá kỳ lạ...
- Chuyện là thế này, -Baklushin bắt đầu. - Khi người ta đưa tôi đến R., tôi thấy đây là một thành phố to đẹp, chỉ có điều là nhiều người Đức quá. Lúc ấy tôi còn trẻ tuổi, được cấp trên đánh giá tốt, đi đâu cũng đội mũ lệch sang một bên, gặp mấy cô gái Đức là nháy mắt nghịch. Nhưng có một cô gái Đức tôi thích, tên là Luiza. Cô này và một người phụ nữ nữa là thợ giặt, người này là bà cô. Bà này đã già, tính hay càu nhàu. Hai người sống cũng khá đầy đủ. Đầu tiên tôi cứ đi vòng vo quanh bên cửa sổ, sau rồi chơi thân. Luiza nói tiếng Nga tốt, tuy phát âm hơi đớt. Cô ấy thật là dịu hiền, người như thế tôi chưa hề thấy ở đâu cả. Đầu tiên tôi cũng định gạ gẫm chuyện này chuyện kia, nhưng cô ấy bảo “Không được đâu, anh Sasha, em muốn giữ mình thật trinh bạch để làm người vợ xứng đáng với anh”, và cô ấy chỉ âu yếm tôi nhẹ nhàng, chỉ cất lên tiếng cười lanh lảnh... và vẫn cứ là cô gái trinh nguyên. Những người như thế, ngoài cô ấy ra, tôi không hề thấy ở đâu cả. Chính cô ấy bảo tôi phải lấy cô ấy làm vợ. Ông thử nghĩ xem, làm sao mà lại không lấy cô ấy được chứ! Thế là tôi chuẩn bị gặp tên thượng tá để xin cưới... Thế rồi bỗng nhiên tôi thấy một lần Luiza không đến chỗ hẹn, một lần nữa, rồi lại một lần nữa. Tôi gửi đi một bức thư. Không thấy trả lời. Tôi nghĩ, làm sao thế nhỉ? Nếu cô ấy muốn lừa dối tôi, muốn chơi khăm tôi thì cô ấy cứ đến gặp, cứ trả lời tôi mới phải chứ. Mà cô ấy thì lại không biết nói dối; như thế nghĩa là cô ấy bỏ tôi rồi. Tôi nghĩ, đúng là tại bà cô. Đến gặp bà cô thì tôi không dám; bà ấy thừa biết chuyện chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn cứ làm ra vẻ không có chuyện gì, vẫn lẳng lặng len lén thế thôi. Tôi nóng ruột quá bèn viết một lá thư cuối cùng, bảo rằng “Nếu em không đến thì tôi sẽ gặp bà cô”. Cô ấy sợ thật, liền đến. Cô ấy khóc và nói rằng có một người Đức, họ xa với cô tên là Shults, một người thợ đồng hồ đứng tuổi, giàu có, ngỏ lời lấy cô. Ông ta bảo ông ấy muốn “cho em được hạnh phúc, còn bản thân ông ấy thì không muốn cô độc lúc về già. Ông ấy bảo ông ấy yêu em, từ lâu đã có ý định, nhưng vẫn để bụng, chỉ lẳng lặng chuẩn bị mà thôi. Anh Sasha ơi, ông ta giầu có, và đó chính là nguồn hạnh phúc của em. Chẳng lẽ anh lại muốn tước bỏ của em nguồn hạnh phúc ấy hay sao?” Tôi thấy cô ấy khóc lóc, ôm riết lấy tôi... Chao ôi, tôi nghĩ, cô ấy đã nói ra lý do rồi đấy! Cái thân binh nghiệp của tôi phỏng mà làm gì, cho dù tôi cũng đã là hạ sĩ quan rồi? Tôi bảo “Luiza, vĩnh biệt em, cầu Chúa phù hộ cho em. Anh chả có cớ gì tước đoạt hạnh phúc của em cả. Thế còn ông ấy thế nào, có đẹp người không?” Cô ấy bảo “Không đâu, một ông trung niên mũi dài...” Nói rồi chính cô ấy cũng phải bật cười. Tôi rời xa cô ấy, tôi nghĩ, thế chẳng phải là số phận hay sao! Sáng hôm sau tôi đến chỗ cửa hàng của ông ta, hôm qua cô ấy đã chỉ cho tôi con phố. Tôi nhìn qua cửa kính thấy một người Đức đang ngồi sửa đồng hồ, tuổi chừng bốn mươi lăm, mũi khoằm, mắt lồi, mặc áo đuôi tôm, cổ đứng cao, dáng vẻ long trọng. Tôi nhổ một bãi nước bọt, đã định bụng đập vỡ cửa kính... nhưng lại nghĩ chẳng để làm gì! Chẳng có gì để động chạm đến hắn, thế là hết! Sẩm tối tôi về trại, leo lên giường nằm, và ông Aleksandr Petrovich, ông có tin không, tôi đã khóc như mưa...
Một ngày trôi qua, một ngày nữa rồi một ngày nữa. Luiza tôi không gặp được. Trong khi đó tôi lại nghe thấy một bà mẹ đỡ đầu (cũng là thợ giặt, thỉnh thoảng Luiza có ghé đến) nói rằng tên người Đức kia đã biết chuyện chúng tôi, vì thế hắn quyết định phải ăn hỏi ngay, nếu không thì hắn phải chờ thêm đến hai năm nữa. Hình như hắn đã bắt Luiza thề với hắn rằng nàng sẽ không còn biết đến tôi nữa, rằng dường như hiện nay hắn vẫn đối xử rất tồi tệ với cả bà cô và cả Luiza, rằng cũng có thể hắn sẽ thay đổi ý kiến và rằng giờ đây hắn vẫn chưa hoàn toàn dấn bước chuyện này. Nàng cũng đã bảo với tôi rằng đến ngày kia, tức là chủ nhật hắn sẽ mời cả hai cô cháu đi uống cà phê, và sẽ có thêm một người họ hàng của hắn nữa, đó là một ông già trước kia là thương nhân, nhưng bây giờ thì nghèo lắm lắm, phải làm nghề trông đồ dưới một tầng hầm. Khi biết tin rằng chủ nhật này có thể họ sẽ quyết định mọi chuyện thì máu tôi sôi lên, đến nỗi tôi không thể kìm mình được nữa. Suốt ngày hôm ấy và suốt ngày hôm sau tôi chỉ làm được mỗi một việc là nghĩ về chuyện này. Tôi nghĩ phải làm cách nào thịt được tên Đức.
Sáng chủ nhật, chưa biết mô tê chuyện gì, khi đám lễ nhà thờ vừa tan ra, tôi đã bật dậy, mặc áo khoác, đi thẳng đến chỗ hắn. Vì sao tôi lại đến chỗ tên Đức ấy và tôi muốn nói gì với hắn thì chính tôi cũng không biết. Nhưng để đề phòng bất trắc tôi vẫn giắt vào thắt lưng khẩu súng lục. Đây là cái khẩu súng bé tí đã trục trặc với cái cò súng kiểu cũ mà hồi bé tí tôi đã nghịch ngợm. Từ lâu khẩu súng này đã không bắn được. Tuy nhiên tôi vẫn cứ nạp đầy đạn. Tôi nghĩ rằng một khi mình bị đuổi ra, bị thóa mạ thì tôi sẽ rút súng bắn dọa. Thế rồi tôi đến. Trong xưởng không có ai cả, mọi người ngồi trong phòng trong. Ngoài họ ra thì chẳng còn ai nữa, đầy tớ cũng không thấy. Tên này chỉ vẻn vẹn có một đứa đầy tớ là một cô gái Đức, cô này kiêm luôn cả đầu bếp. Tôi đi qua cửa hàng thì thấy cửa đóng. Cái cửa ấy đã cũ, có cái móc. Tim tôi đập mạnh, tôi dừng lại nghe ngóng: chúng nói gì với nhau bằng tiếng Đức. Tôi co chân đạp một cái mạnh hết sức. Cánh cửa lập tức bung ra. Tôi thấy trên bàn đầy các thứ - một ấm cà phê lớn đang sôi trên bếp cồn. Xung quanh có các thứ bánh khô. Trên một cái khay khác có một bình rượu vodka, một ít cá trích, giò nạc và một chai rượu gì không rõ. Luiza và bà cô mặc áo cánh ngồi trên đi-văng. Ngồi đối diện với họ trên chiếc ghế tựa là chính tên Đức, vị hôn phu, đầu tóc chải mượt, mặc áo đuôi tôm, cổ đứng nhô cao. Ngồi im lặng ở ghế tựa bên cạnh là một tên Đức khác, một người đã già, mập mạp, tóc bạc. Tôi vừa bước vào thì Luiza tái mặt lại. Bà cô nhóm người lên rồi lại ngồi xuống, còn tên Đức thì nhíu mày lại. Hắn cáu giận lắm, đứng bật dậy và đối diện với tôi. Hắn nói:
- Ông muốn gì vậy?
Tôi bỗng cảm thấy bối rối, nhưng cơn giận dữ lại ào đến. Tôi bảo:
- Muốn gì là tùy mày! Nhưng mà mày phải tiếp khách đi chứ! Rượu đâu rót ra! Tao đến đây làm khách kia mà.
Tên Đức nghĩ một giây rồi bảo:
- Ông ngồi xuống đi.
Tôi ngồi xuống ghế.
- Mày đem rượu ra đây, - tôi bảo.
- Rượu đây, - hắn nói, - mời ông.
- Đem rượu ngon ra đây, - tôi nói. Cơn giận dữ làm tôi mờ mắt.
- Rượu ngon đấy ông ạ.
Tôi bực mình vì hắn coi thường tôi quá. Thêm nữa là Luiza đang nhìn tôi. Tôi làm một tợp rồi bảo:
- Thằng Đức kia, sao mày tiếp khách thô bạo thế hả? Mày phải biết thân thiện với tao chứ. Tao đến đây với mày là vì tình bạn kia mà.
- Tôi không thể là bạn của ông được, - hắn nói, - ông chỉ là một tên lính tầm thường mà thôi.
Thế là tôi nổi đóa lên.
- Mày là một thằng mặt thịt. Mày phải biết rằng kể từ phút này đối với mày tao muốn làm gì thì làm, hiểu chưa? Mày có muốn tao rút súng lục hạ thủ mày ngay không?
Tôi rút súng ra, đứng lên sát mắt hắn, kê nòng súng vào đầu hắn, sẵn sàng nhả đạn. Tất cả mấy người ngồi đó nửa sống nửa chết, không dám hé răng. Ông già thì rũ như tàu lá úa, mặt nhợt nhạt, câm lặng.
Tên Đức kinh ngạc, nhưng đã tỉnh ra. Hắn nói:
- Tôi không sợ ông đâu. Tôi mong một người quân tử như ông bỏ ngay cái trò đùa này đi, còn tôi thì tôi không sợ ông một tí nào hết.
- Ồ, mày nói láo, mày sợ rồi đấy. Sợ gì thì mày biết rồi! Trước họng súng mày đã phải ngồi chết dí, cái đầu không dám ngọ nguậy.
- Không đâu, - hắn nói, - ông không bao giờ dám làm việc ấy đâu.
- Vì sao, - tôi nói, - vì sao lại không dám kia chứ?
- Vì rằng, - hắn nói, - đó là việc ông bị cấm đoán nghiêm khắc và rằng nếu làm thì ông sẽ bị trừng trị nặng nề.
Có quỉ mới hiểu được cái thằng Đức ngu xuẩn này! Giá hắn đừng chọc tức tôi thì hắn còn được sống đến tận bây giờ. Tất cả chỉ là vì cuộc cãi lộn ấy. Tôi nói:
- Mày bảo là tao không dám, hả?
- Đúng thế!
- Không dám hả?
- Ông hoàn toàn không dám làm điều ấy với tôi...
- Tao cho mày biết tay này, đồ mặt lợn! - Thế là tôi nã một phát, hắn lăn kềnh trên bàn. Tất cả mọi người kêu ầm lên. Tôi cứ thế trở về pháo đài. Đến cổng tôi vứt súng xuống hào nước.
Vào đến nhà tôi lên giường nằm và nghĩ: bây giờ sẽ có người đến bắt mình đây. Một giờ trôi qua, rồi một giờ nữa, chẳng thấy ai bắt. Chiều sẩm tối, nỗi buồn ập đến, tôi bước ra ngoài, trong lòng cháy bỏng nỗi nhớ Luiza. Tôi đi ngang qua nhà tên bán đồng hồ thì thấy trong nhà có nhiều người, có cả cảnh sát. Tôi đến nhà bà mẹ nuôi bảo gọi Luiza. Chờ một lát thì Luiza chạy đến ôm chầm lấy tôi nức nở “Tất cả là tại em, tại em nghe lời bà cô”. Nàng bảo rằng ngay sau lúc đó bà cô về nhà và khiếp sợ đến nỗi phát ốm và câm như hến. Bà ấy không dám nói với ai và cũng cấm em không được hé răng. Bà ấy sợ; thôi thì tùy, muốn ra sao thì ra. Bà ấy bảo “Này cháu Luiza, cho đến bây giờ không ai nhìn thấy chúng ta cả. Cô hầu thì ông ấy sợ quá cũng cho nghỉ rồi. Cô ta nhìn chằm chằm vào mắt ông ấy, dường như cũng biết rằng ông muốn lấy vợ. Thợ thuyền trong nhà hôm ấy cũng không có ai; ông ấy cũng đã cho nghỉ hết. Chính ông ấy pha cà phê, chính ông ấy chuẩn bị đồ nhắm. Còn cái ông trong họ thì từ trước đến nay suốt đời không nói câu nào, hôm xảy ra sự việc ông ấy là người đầu tiên cầm mũ bước ra. Chắc chắn là ông ấy cũng sẽ im lặng”. - Luiza kể lại với tôi như thế. Mà cũng đúng là như thế thật. Suốt hai tuần không thấy ai đến bắt tôi và cũng chẳng có ai nghi ngờ gì tôi cả. Trong suốt hai tuần lễ ấy, thưa ông Aleksandr Petrovich, ông tin hay không thì tùy ông, tôi trải nghiệm được hết hạnh phúc của tôi. Ngày nào tôi cũng được gặp Luiza. Nàng gắn bó với tôi không thể tả được! Nàng khóc mà nói “Em sẽ đi theo anh mãi, dù người ta đày anh đi đâu chăng nữa, em cũng đi theo. Vì anh, em sẽ bỏ lại hết sau lưng, không tiếc gì cả!” Nàng làm tôi mủi lòng quá và tôi đã quyết sống suốt đời như vậy. Thế nhưng hai tuần sau người ta bắt tôi. Lão già và bà cô đã thỏa thuận tố tôi...
- Nhưng hãy khoan đã, - tôi ngắt lời Baklushin, - với tội danh ấy thì người ta chỉ có thể kết tù anh đến mười năm, cứ cho nhiều nhất là đến mười hai năm, mà chỉ vào tội dân sự thôi. Đằng này lại vào trại đặc biệt. Thế là thế nào nhỉ?
- Dạ thưa ông, đấy lại là chuyện khác, - Baklushin nói. - Khi người ta đưa tôi đến ban chuyên án thì trước tòa tên đại úy lại thóa mạ tôi thậm tệ. Tôi không nhịn được bèn bảo hắn “Mày chửi rủa như thế là thế nào? Thằng khốn nạn, mày không biết rằng mày đang ngồi trước một tấm gương à!” Và rồi phiên tòa diễn ra theo một hướng khác, hoàn toàn mới, gộp kết tất cả mọi tội vào mà phán: phạt tiền bốn ngàn đồng và bị đầy tới đây, vào khu biệt lập: tôi bị trừng phạt thế nào thì tay đại úy cũng bị trừng phạt như thế, có điều tôi bị dẫn qua con đường roi vọt, còn anh ta thì bị tước quân hàm và bị đày đi Kavkaz làm lính trơn. Thôi, xin tạm biệt ông. Lúc nào ông rẽ qua chỗ chúng tôi xem biểu diễn nhé.
❀ ❀ ❀
[1] Hai người nói mấy câu bằng tiếng Do Thái. Không dịch được (N.D.).
[2] Mỗi vershok bằng 4,45 cm (N.D.).