Bây giờ đã bắt đầu tháng Tư, đã sắp đến tuần thánh. Những công việc mùa hè cũng chớm đến. Mặt trời mỗi lúc một ấm áp hơn và rực rỡ hơn, không khí phả ra hơi thở mùa xuân và kích động toàn cơ thể. Những ngày tươi đẹp đang đến này khiến cả những con người bị gông xiềng cũng thấy xao động, làm nảy sinh trong lòng họ những ham muốn, những khao khát và cả nỗi thê thiết. Có thể là họ thấy buồn hơn khi nghĩ đến cuộc sống tự do dưới ánh mặt trời rực rỡ hơn là trong một ngày đông hoặc một ngày thu âm u, và điều ấy được thấy rõ ở tất cả các tù nhân. Họ dường như vừa vui mừng với những ngày rực sáng, nhưng đồng thời lại vừa thấy nôn nao, bồn chồn khó tả. Tôi đã nhận ra rằng, quả thật vào mùa xuân những cuộc cãi lộn trong trại cũng xảy ra thường xuyên hơn. Mọi người phải nghe nhiều hơn những chuyện ồn ào, những tiếng kêu la, phải thấy nhiều chuyện xảy ra, và đồng thời cũng đôi khi thấy ở đâu đó trong khi lao động có một ánh mắt trầm tư, lắng đọng hướng về nẻo xa nào xanh ngắt, hướng tới phía xa xăm nào bên kia bờ sông Irtysh, nơi bắt đầu thảm cỏ tự do của vùng Kirgizia bạt ngàn vô tận đến khoảng một ngàn năm trăm véc-xta; có thể bắt gặp đâu đó một tiếng thở dài sâu nén, trút hết lồng ngực, tựa hồ như nó lôi cuốn con người phải thở hít hết bầu không khí tự do xa xăm kia và làm nhẹ nhõm mảnh tâm hồn vốn bị ghì căng, thít chặt. “Chao ôi!” - cuối cùng một anh trại nhân thốt lên và bất chợt, tựa hồ tự mình rũ sạch những ước muốn và những suy tư, anh ta chậm chạp và ủ dột cầm lấy cái mai hoặc lôi chồng gạch mà anh phải kéo đi chỗ khác. Một phút sau anh lại quên đi cái cảm giác thoáng qua, lại bắt đầu cười đùa, cãi cọ, khi đánh giá nhau qua tính cách, nếu không thì bỗng nhiên, với một thứ nhiệt huyết bất thường vượt quá cả nhu cầu cần thiết, anh ta đứng ra làm mẫu một bài học lao động, nếu anh ta được giao làm nhiệm vụ ấy, và anh bắt đầu làm việc, làm việc hết sức mình, tựa như muốn dùng khối công việc nặng nề mà kìm nén trong lòng một cái gì đó đang ghì chặt và thít bóp trái tim. Tất cả họ là những con người mạnh mẽ, phần lớn là những người đang độ tuổi hoa niên và sung sức. Vào thời gian này xiềng xích cũng thấy thật là nặng nề! Lúc này đây tôi cũng không thi vị hóa điều gì, và tôi tin rằng những nhận xét của tôi là đúng. Ngoài ra, trong không khí ấm áp, trong ánh trời rực rỡ, khi con người, bằng chính tâm hồn và ngũ giác mình, được nghe thấy và cảm thấy cả thiên nhiên xung quanh đang hồi sinh với một sức mạnh vô song, thì cái cảnh tù đày giam hãm, cảnh áp giải và trạng huống nô lệ phụ thuộc vào ý chí người khác lại trở nên nặng nề hơn. Ngoài ra, trong những ngày xuân này, ở khắp Sibir và khắp nước Nga cùng với những tiếng chim họa mi đầu tiên là bắt đầu cuộc sống giang hồ: những đứa con Trời ở khắp các trại thi nhau trốn đi để sống lẩn khuất trong rừng. Sau cái hố địa ngục ngột ngạt, sau những ngày xử án, xiềng xích và roi vọt, bây giờ họ đi lang thang tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn ngó nghiêng, dừng bước ở đâu cũng được, kiếm được cái gì trời cho thì uống, thì ăn, đêm đêm ngủ khò yên tĩnh đâu đó trong rừng hoặc trên cánh đồng, chẳng phải lo nghĩ chi nhiều, chẳng chịu nỗi buồn đầy ải, họ giống những cánh chim đại ngàn khi tạm chia tay một đêm với sao trời để ngủ dưới đôi mắt Chúa. Ai mà chẳng nói thế! Đôi khi “phục vụ cho tướng Cu Cu” cũng thật là vừa vất vả, vừa đói khát lại vừa mệt mỏi. Đôi lần suốt nhiều ngày đêm không nhìn thấy một mẩu bánh mỳ, phải trốn lủi tất cả mọi người, phải tự vệ, rồi phải ăn cắp, ăn cướp, và có lúc phải cắt cổ người khác. Ở Sibir người ta nói về người nhập cư thế này “Người nhập cư là đứa trẻ thơ, nhìn cái gì cũng thấy vừa mắt”. Cái câu ấy thật hết sức đúng, và thậm chí còn hơi thừa đúng để dùng cho kẻ lang thang. Kẻ giang hồ hiếm khi không là kẻ cướp và hầu như bao giờ cũng là kẻ cắp, hắn là kẻ cắp do nhu cầu nhiều hơn là do ý nguyện. Có những kẻ giang hồ thâm căn cố đế. Có những kẻ chạy trốn khỏi chỗ nhập cư, thậm chí ngay cả sau khi đã mãn hạn khổ sai. Có vẻ như người đó hài lòng ở nơi nhập cư và được no đủ. Nhưng không! Lúc nào anh ta cũng bị cuốn hút đi đâu đó, bị kêu gọi đi đâu đó. Cuộc sống nơi rừng rú tuy nghèo đói và kinh hoàng, nhưng lại tự do và đầy những cuộc phiêu lưu, có một cái gì đó hấp dẫn, có vẻ đẹp say mê huyền bí đối với tất cả những ai đã một lần nếm trải, và rồi bạn sẽ thấy rằng có người chạy trốn là con người thậm chí khiêm nhường, đúng mực, con người đã từng hứa hẹn là sẽ tự cải hóa mình thành kẻ định cư tốt tính, thành người chủ nhà chăm chỉ làm ăn. Có người còn lấy vợ, sinh con, năm năm liền sống yên một chỗ, thế mà bỗng nhiên, vào một buổi sáng đẹp trời nào đó, anh ta biến đi đâu mất, bỏ lại sau lưng người vợ hiền, đàn con ngơ ngác và cả cái thôn xã mà anh đã đăng ký được làm công dân. Trong trại tù có người đã chỉ cho tôi một trong những kẻ trốn lủi như thế. Anh này không gây ra bất kỳ một tội lỗi gì đặc biệt cả, ít ra thì cũng chưa ai nghe thấy nói gì về anh theo hướng đó, thế nhưng anh vẫn cứ chạy trốn, chạy trốn suốt đời. Anh đã từng sống cả trên phần đất phía Nam nước Nga bên bờ sông Dunai, cả ở vùng thảo nguyên Kirgizia, cả ở Đông Sibir, cả ở Kavkaz, tóm lại là anh ở khắp nơi. Ai mà biết rằng, có thể, trong những hoàn cảnh khác anh trở thành một Robinson nào đó cũng nên, một chàng Robinson có niềm say mê xê dịch. Tuy nhiên, tất cả những chuyện ấy lại do những người khác nói lại với tôi, còn chính anh trong trại này lại kín miệng, chỉ khi cần thiết lắm mới thưa thốt đôi lời. Đó là con người nhỏ thó, tuổi đã năm mươi, sống rất nhu thuận với gương mặt hết sức điềm tĩnh, thậm chí là ngốc nghếch, điềm tĩnh đến mức ngây dại. Mùa hè anh thích ngồi sưởi nắng, và thế nào cũng lầm nhẩm một bài hát gì đó, nhưng khẽ khàng lắm, đến nỗi đứng cách anh chỉ năm bước chân thôi là không nghe thấy gì cả. Nét mặt anh cứng đơ như thớ gỗ, anh ăn ít, phần lớn là ăn bánh mỳ, anh không bao giờ mua bánh ca-lát hoặc mua bia, và hình như cũng chẳng bao giờ có tiền trong túi, thậm chí hình như còn không biết đếm nữa là khác. Đối với mọi chuyện đều ứng xử hết sức bình tĩnh. Đôi khi anh tự tay mình cho chó ăn. Lũ chó trong trại chẳng bao giờ có ai cho ăn cả, mà nói chung thì người Nga không thích cho chó ăn. Người ta kể rằng anh đã có vợ, thậm chí là hai đời vợ, rằng anh cũng đã có con ở đâu đó... Vì sao anh phải vào trại thì tôi hoàn toàn không biết. Mọi người ở đây đều nhẩm đoán rằng anh sẽ trốn chúng tôi mà đi; nhưng, hoặc giả thời điểm ấy chưa đến, hoặc giả năm tháng đã qua nhiều, nhưng anh đã sống yên ổn và tỏ ra có ý thức thấu hiểu đối với toàn bộ môi trường kỳ cục xung quanh. Tuy nhiên, có thể cũng không tin được, vì sao anh ấy lại phải đào thoát, trốn chạy như thế anh được lợi gì? Thế nhưng, nhìn chung thì cuộc đời rừng rú, cuộc sống lang thang vẫn cứ là thiên đường so với đời trại. Điều này thật dễ hiểu, mà cũng chẳng thể có gì so sánh được. Dẫu là số phận gian lao, nhưng thế nào cũng vẫn là số phận của mình. Vậy nên ở nước Nga bất kỳ một tù nhân nào, dù ở trại nào đi nữa, thì cứ đến mùa xuân với những ánh mặt trời đầu tiên vẫy gọi, lại thấy trong dạ bồn chồn. Chẳng phải ai cũng có cái tâm trốn trại, nhưng có thể nói một cách khẳng định rằng cứ một trăm người thì chỉ có một người dám làm việc đó khi tính hết những khó khăn và trách nhiệm của mình, ngược lại, chín mươi chín người kia dù vẫn mơ ước là mình có thể chạy đi được và cũng biết phải chạy đi đâu, nhưng cũng chỉ giữ mình ở mức độ mơ ước, ở mức hình dung ra khả năng mà thôi. Cũng có người nhớ lại hồi trước đã có lần đào thoát. Đấy là tôi đang nói về những người đã thành án. Nhưng quyết ý trốn chạy, thông thường hơn và cũng có số lượng nhiều hơn, là những người chưa thành án. Những người thành án có thời hạn thì chỉ chạy vào thời kỳ đầu đi tù. Khi đã sống qua hai ba năm khổ sai anh ta bắt đầu định giá những năm tháng đó và dần dần thuận lòng rằng tốt hơn hết là kết thúc một cách hợp pháp thời hạn khổ sai của mình và trở về làm dân nhập cư, còn hơn là lao vào rủi ro, và nếu thất bại thì tức là lao vào cõi chết. Mà thất bại là có thể lắm chứ. Trong mười người thì chỉ có một người là có thể thay đổi được số phận của mình. Liều mạng nhất trong những người thành án là những người bị xử với thời hạn tù quá lâu. Mười lăm, hai mươi năm có thể được coi là vô tận, và với thời hạn ấy tù nhân thường xuyên sẵn sàng mơ ước đến chuyện đổi đời, dù anh ta đã mất mười năm trong trại. Tất nhiên dấu ấn triện phần nào đó cũng ngăn cản thói liều trốn trại. Đổi đời là một thuật ngữ kỹ thuật. Trong các cuộc hỏi cung, nếu bị phát hiện là đào thoát, thì tù nhân trả lời rằng anh ta chỉ muốn đổi đời. Cái lối nói hơi có vẻ sách vở đó được áp dụng thật là chính xác trong việc làm này. Bất kỳ kẻ chạy trốn nào cũng hình dung được rằng anh ta không được hưởng tự do hoàn toàn, - anh biết rằng điều đó hầu như không thể có được, - nhưng hoặc là anh ta sẽ rơi vào một cơ sở khác, hoặc được làm dân nhập cư, hoặc lại bị xử án một lần nữa, lần này là do một tội mới mà anh mắc phải khi sống lang thang, tóm lại, anh đi đâu cũng được, miễn sao không trở về chốn cũ, không về trại xưa, nơi anh đã chán ngấy rồi. Tất cả những người chạy trốn ấy, nếu trong suốt mùa hè không tìm được cho mình một chỗ nào ngẫu nhiên, đặc biệt để có thể sống qua mùa đông, nếu như, chẳng hạn, không tìm được một người nào đó bao dung, che dấu cho những con người trốn lủi, để người ấy được một món lợi lộc gì đó, nếu như, cuối cùng, không kiếm được cho mình, đôi khi bằng cách giết người, một cái giấy thông hành để có thể sống được khắp nơi, - thì đến mùa thu tất cả bọn họ, nếu không bị bắt sớm, thì cũng tự mình họp nhau túm tụm thành một đám đông kéo về các thị trấn và các trại giam với tư cách là những kẻ giang hồ, chịu ngồi tù cho qua mùa đông, và tất nhiên, vẫn chưa hết lòng ham muốn lại chạy đi vào mùa hạ tới.
Mùa xuân có ảnh hưởng nhiều đến tôi lắm. Tôi vẫn nhớ rằng hồi ấy đôi khi tôi vẫn say sưa nhìn qua kẽ ngón tay và vẫn đứng hồi lâu, cúi đầu trên hàng rào trại, để đau đáu nhìn thảm cỏ ngày một xanh tươi trên dẻo đất quanh pháo đài và ngắm nghía bầu trời cao xa xôi kia cứ xanh rờn, xanh ngút. Lòng dạ tôi ngày một bồn chồn, vương vấn, và trại tù cũng ngày một đáng căm ghét hơn. Lòng căm ghét mà tôi, với tư cách là một nhà quý tộc, vẫn luôn luôn phải chịu đựng trong suốt những năm đầu tiên từ phía những trại nhân, đã trở nên không thể chịu được nữa, nó tàn phá cả cuộc đời tôi như một liều thuốc độc. Trong suốt những năm đầu tiên ấy tôi thường vào nằm bệnh viện, dù chẳng có bệnh gì cả, chỉ duy nhất là cốt sao không có mặt trong trại, cốt sao thoát được cái lòng đại căm ghét cứ bám riết lấy tôi không có cách gì khuây giải được. “Các ông như những mũi sắt, kẹp chặt chúng tôi!” - anh em trại nhân bảo chúng tôi thế và tôi thường lấy làm ghen tị với những người bình dân đến trại! Những người ấy ngay lập tức làm bạn được với mọi người. Và chính vì thế mà mùa xuân, hình bóng của tự do, những cảnh tươi vui ngập tràn khắp nơi trong thiên nhiên cứ tác động đến tôi khiến tôi cứ thấy buồn buồn và xốn xang thế nào ấy. Vào cuối tuần chay, hình như là vào tuần thứ sáu, tôi có đi lễ. Ngay từ tuần đầu tên hạ sĩ trưởng đã chia chúng tôi ra làm năm ca để đi nhà thờ tính theo tuần ăn chay. Số người mỗi ca ước độ ba chục. Tôi rất thích tuần đi lễ này vì được nghỉ làm. Chúng tôi đến nhà thờ ở gần trại, mỗi ngày hai ba lần. Đã lâu lắm rồi tôi không đi nhà thờ. Những buổi lễ hoành tráng mà tôi đã được biết từ lúc còn thơ bé trong nhà bố mẹ, những lời cầu khấn trang trọng và những con người khấu đầu lạy Chúa - tất cả những cái đó làm chập chờn hiện lên trong tâm hồn tôi cái thời quá vãng xa xôi, xa lắm, khiến tôi nhớ lại ấn tượng của những năm tháng thơ ngây và tôi vẫn nhớ rằng hồi ấy tôi rất thích mỗi buổi sáng trên nền đất còn lạnh cóng qua đêm người ta dùng súng đã lên đạn để áp giải chúng tôi đến nhà thờ cầu nguyện. Tuy nhiên, lính áp giải không vào nhà thờ. Trong nhà thờ chúng tôi đứng túm tụm lại với nhau ở cạnh cửa ra vào, ở sát tận ngoài, cho nên chỉ nghe thấy được giọng cầu kinh đều đều của thầy trợ tế và thỉnh thoảng mới thấy từ trong đám đông bước ra một bóng áo tế màu đen và cái đầu hói của cha cố. Tôi vẫn hay nhắc lại rằng hồi nhỏ, khi đứng trong nhà thờ tôi nhìn đám người bình dân chen chúc nhau nơi cửa ra vào và lại khúm núm tản ra tránh lối cho một đôi vai đeo ngù, cho một nhà quý tộc to béo hay cho một bà quí tộc đỏm dáng, nhưng lại hết sức sùng đạo, những người này thế nào cũng phải len lỏi lên được những hàng ghế đầu tiên, và sẵn sàng bất kỳ phút nào cũng có thể cãi vã giành lấy chỗ ngồi số một. Ở chỗ lối vào lúc đó tôi có cảm giác là mọi người cầu nguyện không giống như ở chỗ chúng tôi, mọi người cầu nguyện một cách nhẫn nhịn, nhiệt thành, đầy chất trần thế và có phần nào đó ý thức được đầy đủ cái phận hèn kém của mình.
Bây giờ chính tôi lại phải đứng vào đúng những cái chỗ này, thậm chí còn không được là những chỗ này nữa; chúng tôi đã bị ép chặt và bị nhục mạ, chúng tôi ngày một bị xa lánh, thậm chí dường như người ta còn sợ chúng tôi, lần nào người ta cũng bố thí cho chúng tôi, và tôi vẫn nhớ rằng thậm chí đã có lần tôi thấy vui sướng, có được cái cảm giác đặc biệt tế nhị thể hiện trong niềm thỏa mãn kỳ diệu đó. “Nếu được thế thì cũng là tốt đấy chứ!” - tôi nghĩ như vậy. Anh em trại nhân cầu nguyện thật sùng kính, cứ mỗi lần đến nhà thờ là mỗi anh em đều mang đến một đồng xu nhỏ nhoi làm tiền dầu đèn hoặc bỏ vào hòm công đức. Tù nhân, khi bỏ tiền vào nhà thờ, có thể suy nghĩ: “Tôi cũng là con người chứ sao. Trước Chúa mọi người đều được bình đẳng….” Chúng tôi thường đến đây sau buổi lễ sớm. Khi đức Cha cầm bình nước trên tay và bắt đầu đọc: “...Xin Người tiếp nhận, dù là một kẻ ăn cướp” - thì hầu hết tất cả mọi người phủ phục xuống đất, xiềng xích vang lên loảng xoảng, dường như chính họ cũng tiếp nhận những lời cầu ấy.
Nhưng bây giờ mới đến phần lễ trọng. Ngay từ đầu mỗi người chúng tôi được chia một quả trứng và một lát bánh mỳ đại mạch. Từ thị trấn lại đổ về cho trại tù bao nhiêu đồ từ thiện. Lại có cha cố cầm thánh giá đến thăm, lại có đoàn lãnh đạo trại đến thăm, lại có món súp củ cải đỏ béo ngậy, lại có bữa nhậu túy lúy và có dịp đi lại lang thang - tất cả giống hệt như tuần Giáng sinh, chỉ có một điều khác biệt là bây giờ được ngao du khắp sân và được sưởi ấm dưới ánh xuân dương. Trời đất dường như sáng hơn, rộng hơn hồi mùa đông, nhưng không hiểu thế nào đó mà lại sầu não hơn. Một ngày mùa hè dài đến vô tận có vẻ như không thể chịu nổi trong những ngày lễ hội. Vào ngày thường thì ít ra ngày cũng ngắn đi nhờ có việc làm.
Công việc mùa hè hóa ra lại nặng nề hơn công việc mùa đông. Nhiều nhất là việc xây dựng. Tù nhân phải xây nhà, đào đất, một số khác phải làm thợ nguội, thợ mộc, thợ hồ khi sửa chữa các ngôi nhà công sở. Một số khác nữa thì đến xưởng đóng gạch. Công việc này chúng tôi coi là nặng nhọc nhất. Nhà máy gạch cách chỗ chúng tôi ước độ ba bốn véc-sta. Suốt mùa đông, hàng ngày từ sáu giờ sáng đã có một đoàn tù nhân chừng năm mươi người ra đi đóng gạch. Bị chọn đi làm việc này là những anh em phu phen, tức là những người không có tay nghề gì và cũng không thuộc nhóm nghề nào. Họ phải mang theo bánh mỳ, vì chỗ làm ở xa, không tiện đường về nhà ăn trưa, vì như vậy lại phải đi thêm tám véc-sta vô ích, nên chỉ khi về trại họ mới ăn tối. Phần công việc này được giao làm suốt ngày và cả ngày lao động đó trại nhân phải vật lộn với nó. Thứ nhất, phải đào đất và mang đất về, phải tự mình đi xách nước, phải tự mình dùng chân nhào đất trong một cái hố, rồi sau dùng đất ấy đóng thành nhiều viên gạch, khoảng hai trăm viên, thậm chí gần đến hai trăm rưởi. Tôi chỉ có hai lần phải đi nhà máy này. Mãi chiều tối bọn làm nhà máy mới về, người mệt lử, rời rã chân tay và thường xuyên, suốt cả mùa hè, đay nghiến những người khác vì phải làm công việc nặng nhọc nhất. Có lẽ đay nghiến là niềm an ủi của họ. Mặc dù có những người đến đó là vì có phần tự nguyện. Thứ nhất, đó là công việc làm ở ngoại ô, chỗ làm rộng mở, thoải mái bên bờ sông Irtysh. Dẫu sao thì cũng được nhìn ngắm xung quanh sướng con mắt hơn, chứ không phải là hỏa lò pháo đài! Nơi đây có thể hút thuốc tự do, thậm chí có thể nằm dài sướng khoái nửa tiếng đồng hồ. Tôi thì hoặc là đến xưởng cơ khí như trước, hoặc là đến lò thạch cao, hoặc là bị lôi đi làm thợ khuân gạch ở các công trường xây dựng. Một bận tôi phải kéo gạch từ bờ sông Irtysh đến một trại lính đang xây dở với khoảng cách bảy mươi sazhen, vượt qua một con đê quai, công việc kéo dài suốt hai tháng liền. Tôi thậm chí lại thấy thích công việc đó, mặc dầu cái dây thừng kéo gạch đã làm vai tôi thường xuyên bị trầy sát. Nhưng tôi thấy thích vì nó làm tôi khỏe ra. Đầu tiên tôi chỉ kéo được có tám hòn gạch, mỗi hòn nặng mười hai funt, nhưng sau tôi đạt đến mười hai rồi đến tận mười lăm hòn, điều ấy làm tôi rất vui. Trong nhà tù khổ sai sức mạnh thể chất cũng cần thiết không kém gì sức mạnh tinh thần để có thể chịu đựng được tất cả mọi thứ phiền toái vật chất của cuộc sống đáng nguyền rủa này.
Mà tôi thì tôi vẫn muốn sống thêm nữa sau khi ra khỏi nhà tù...
Tuy nhiên, tôi thích kéo gạch không phải chỉ là vì muốn làm cho cơ thể cường tráng, mà còn là vì công việc đó được bố trí bên dòng sông Irtysh. Tôi vẫn thường nhắc tới bờ sông này là bởi vì đây là nơi duy nhất có thể nhìn thấy thế gian của Chúa, nhìn thấy phương trời xa xăm quang đãng, sáng lạn, thấy cả thảo nguyên phóng khoáng không một bóng người, mà chất hoang mạc của nó gây cho tôi một ấn tượng lạ kỳ. Chỉ có trên bờ sông này ta mới có thể đứng quay lưng lại phía pháo đài và không nhìn đến nó nữa. Tất cả những nơi làm khác đều nằm trong pháo đài hoặc ngay cạnh đó. Ngay từ những buổi đầu tiên tôi đã căm thù cái pháo đài này và đặc biệt là căm ghét một số tòa nhà. Ngôi nhà tên thiếu tá là ngôi nhà có cái gì đó đáng nguyền rủa, đáng ghê tởm, và cứ mỗi lần đi ngang qua tôi lại nhìn một cách căm giận. Trên bờ sông này ta có thể lãng quên đi được, khi ta nhìn vào khoảng không gian hoang sơ hút mắt, tựa như tù nhân nhìn qua cửa sổ nhà tù dõi tới tự do. Ở đây tất cả mọi thứ đối với tôi đều đáng quý, đáng yêu: cả mặt trời chói chang rực rỡ trên bầu trời xanh không có đường viền, cả khúc ca của người dân kirgiz vọng tới đây từ bến bãi của dòng sông Kirgizia. Bạn hãy nhìn chăm chú thật lâu và cuối cùng bạn sẽ thấy được một túp nhà lều nghèo khó, ố vàng của một người dân baigush nào đó, sẽ nhìn thấy một ngọn khói loang loang trên nóc nhà lều, nhìn thấy một cô nàng kirgiz đang nói gì đó với đôi cừu của cô. Tất cả đều là nghèo đói và hoang dã, nhưng là tự do. Bạn sẽ nhìn thấy một chú chim bay trong thinh không xanh rờn, trong vắt, bạn sẽ đứng hồi lâu ngắm cánh chim bay, kìa nó bay sà xuống nước, kìa nó biến mất giữa khoảng trời xanh, kìa nó lại xuất hiện như một chấm sáng thấp thoáng... Thậm chí có bông hoa quê nghèo úa héo mà tôi chợt thấy một sớm xuân kia náu nơi bờ đá cũng có cái gì đau đớn khiến tôi dừng mắt. Nỗi buồn nhớ suốt một năm đầu khổ sai thật không sao chịu nổi và cứ dằn vặt, kích động tôi hoài. Trong năm đầu ấy vì buồn quá mà tôi chẳng để ý gì đến xung quanh mình nữa. Tôi đã nhắm mắt vào, không thèm quan sát. Trong số những bạn tù khổ sai hung dữ và đáng căm giận tôi đã không nhận ra những con người tốt bụng, những con người có khả năng tư duy và cảm nhận, mặc dù họ có cái vỏ hình thức bên ngoài đáng phải ghê sợ. Giữa những lời nói độc mồm đôi khi tôi đã không nhận ra những câu lịch sự và âu yếm, những câu nói còn đáng quý hơn bởi lẽ chúng được nói ra không có gì là hình thức, mà nhiều khi thốt ra tự những tâm hồn có thể còn đau khổ hơn tôi và chịu đựng hơn tôi. Nhưng chúng ta nói hoài chuyện đó làm gì? Tôi thấy vô cùng vui sướng khi đã quá thấm mệt và được trở về nhà nằm lăn ra ngủ! Bởi lẽ ở chỗ chúng tôi nằm ngủ vào mùa hè là khổ lắm, còn tồi tệ hơn là ngủ mùa đông. Tất nhiên, cũng có những buổi chiều thật đẹp. Mặt trời suốt ngày không rời khỏi sân trại, nhưng cuối cùng cũng đi xuống núi. Trời bắt đầu mát, rồi sau đó là bắt đầu một đêm thảo nguyên khá lạnh (nói một cách tương đối). Anh em trại nhân chỉ chờ đến lúc khóa cổng là kéo nhau từng tốp đi lại khắp sân. Đám đông nhất thì túm tụm ở nơi nhà bếp. Tại đây bao giờ cũng nổi lên vấn đề nóng bỏng của toàn trại, họ bàn luận chuyện này, chuyện kia, đôi khi bình luận tin này, tin nọ, thường là những tin thất thiệt, nhưng lại được chú ý đặc biệt nơi những con người bị tách rời ra khỏi thế giới, chẳng hạn như có tin nói rằng tên thiếu tá của chúng tôi đã bị hạ bệ. Trại nhân thì nhẹ dạ như trẻ con. Bản thân họ cũng biết rằng tin đồn là huyễn hoặc do một tên khoác lác nổi tiếng “trời đánh không chết” tung ra, tên là Kvasov, mà từ lâu anh em đã bàn nhau không tin hắn nữa, vì hắn không nói được điều gì khác ngoài lời nói dối, thế nhưng mọi người vẫn bám vào tin đồn, rồi đem ra bàn luận, tự mình an ủi mình, kết cục lại là tự mình cáu bẳn với mình, tự mình thấy xấu hổ vì đã chót tin Kvasov.
- Nhưng ai mà đuổi hắn đi được! - một người nói to. - Chắc là cổ hắn to, nên vẫn trụ được.
Một anh chàng khác hăng hái và chẳng ngu đần tí nào, một người từng trải, nhưng hay cãi vã nhất trần đời, lên tiếng:
- Hắn có nhiều người bảo trợ đấy!
- Đã là quạ thì không bao giờ mổ mắt nhau cả đâu! - một người nữa tóc đã bạc gằn giọng nói, dường như nói thầm, ông này ngồi trong một góc một mình húp nốt đĩa súp.
Lại có một người thứ tư chen vào, tay gảy nhẹ trên cây đàn balalaika:
- Chẳng lẽ những người bảo trợ ấy lại đến hỏi anh xem có nên đuổi hắn đi hay không à?
- Tại sao lại không phải là tôi? - người thứ hai dữ dằn phản đối. - Có nghĩa là nếu được hỏi thì lúc ấy tất cả người nghèo đều yêu cầu, tất cả hãy tuyên bố. Nếu không thì ở đây chắc là chỉ kêu gào thôi, còn khi đến việc thì lại bàn lùi!
- Còn ông nghĩ thế nào? - anh chàng chơi đàn hỏi. - Làm như thế thì đi khổ sai.
Anh chàng hay cãi vã không chịu nghe ai, cứ hăng hái nói tiếp:
- Đau khổ thì vẫn còn đó. Người ta tịch thu hết tất cả các thứ chổi cùn rế rách, cũng là mồ hôi nước mắt cả đấy, rồi người ta đem bán. Không, tôi có biết chuyện này; một tên trong anh em ta hớt lẻo, thế là bọn chúng tịch thu hết; có nghĩa là đánh vào kinh tế. Không hiểu có đúng thế không?
- Nhưng mà anh muốn kêu với ai?
- Kêu với ai à? Kêu với quan thanh tra, ông ấy sắp đến.
- Thanh tra ấy là thanh tra nào?
- Đúng thế đấy, các anh em ạ, sắp có thanh tra đến thật, - người lên tiếng là một chàng trai trẻ hoạt bát, hay chữ, trước đã làm nghề thư lại và đã từng đọc “Nữ công tước Lavalie” hoặc một cuốn gì đó đại loại như vậy. Anh này lúc nào cũng vui vẻ, cười đùa, nhưng vẫn được mọi người kính nể vì có phần hiểu biết công việc và đã trải đời. Anh không để ý rằng mọi người đang tò mò phấn khích vì viên thanh tra sắp đến, mà đi thẳng vào chỗ nấu nướng, tức là đến chỗ anh đầu bếp và hỏi mua một đĩa gan chiên. Đầu bếp thường vẫn buôn bán kiểu đó. Chẳng hạn, họ bỏ tiền túi ra mua một tảng gan to, chiên lên rồi cắt bán từng phần cho trại nhân.
- Một đồng hay hai đồng? -anh đầu bếp hỏi.
- Cắt cho hai đồng: phải để mọi người rỏ rãi ra chứ, - anh chàng đáp. - Các anh em này, có một vị tướng từ Peterburg sắp đến đây, ông ta sẽ đi thăm toàn vùng Sibir. Chắc thế rồi. Ở chỗ thường trực người ta kháo vậy.
Tin đồn nói trên đang gây ra một cơn chấn động đặc biệt. Trong khoảng mười lăm phút mà có bao nhiêu câu hỏi dồn dập: ai đến đấy, tướng quân gì, đeo lon mấy sao, có phải là thượng cấp của các tướng ở đây không? Về các loại quân hàm quân hiệu, các thứ chỉ huy, ai cấp cao hơn ai, ai bắt ai cúi lưng, ai tự mình cúi đầu, những chuyện ấy cả đám trại nhân say mê trò chuyện, thậm chí còn cãi nhau, mắng nhau, suýt thì đánh nhau chỉ vì các tướng lĩnh, mà thực ra họ có được lợi gì đâu. Thế nhưng việc hiểu biết tường tận về các tướng lĩnh và nói chung về giới chỉ huy lại được coi là thước đo trình độ nhận thức, trình độ lịch lãm, là thước đo giá trị con người trong xã hội trước khi nhập trại. Nhìn chung câu chuyện về lãnh đạo cao cấp vẫn được coi là câu chuyện thời thượng nhất và quan trọng nhất trong trại.
- Các anh em này, đúng là người ta đến để thay ghế tên thiếu tá, - anh Kvasov nói. Anh này người nhỏ nhắn, da đỏ hồng, rất nóng vội, nhưng lại rất ngô nghê. Chính anh ta là người đầu tiên đưa tin về tên thiếu tá.
- Hắn sẽ đút lót! - trại nhân đầu bạc mặt mày ủ rũ đã húp xong đĩa súp, lên tiếng.
- Thế nào hắn cũng đút lót được, - một người khác nói. - Hắn cướp được ít tiền đấy à? Trước khi về đây hắn đã ở cấp tiểu đoàn rồi. Hắn còn định lấy con gái tướng Protopopov nữa kia mà.
- Nhưng hắn có lấy được cô ta đâu: hắn bị đuổi thẳng cổ ra khỏi cửa vì nghèo. Vị hôn phu gì cái mặt ấy! Hắn mà rời khỏi cái ghế là hết đời! Hắn đã nướng hết vào sòng bạc rồi còn đâu. Fedka nói thế.
- Đúng rồi, tiền không được tiêu mà tiền cứ hết.
- Ê! Người anh em ơi, tôi cũng đã có vợ rồi đấy. Người nghèo lấy vợ khổ lắm. Lấy được vợ mà đêm lại ngắn! - Skuratov đưa ra nhận xét khi bắt vào câu chuyện.
- Chứ còn gì nữa! Đúng là chuyện của anh đấy, - anh chàng thư lại lỗ mãng nói. - Còn anh, Kvasov, tôi nói cho anh biết, anh là một thằng đại ngốc. Chẳng lẽ anh lại nghĩ rằng viên tướng ấy mà tên thiếu tá cũng phải đút lót, rằng viên tướng ấy cố tình đi từ Peterburg đến đây để thanh tra tên thiếu tá. Anh ngốc thật đấy, tôi nói cho anh biết như vậy.
- Anh nói gì thế? Chẳng lẽ hắn là tướng mà không nhận tiền ấy à? - trong đám đông có người hoài nghi.
- Biết rồi, hắn không nhận đâu, nếu đã nhận thì phải nhận tiền lớn.
- Còn lạ gì, phải là tiền lớn; theo đúng phẩm trật.
- Tướng gì thì cũng nhận tuốt, - Kvasov khẳng định.
- Thế anh đã bao giờ đút lót ông ta chưa? - Baklushin bỗng bước vào cất giọng khinh khỉnh. - Mà đã chắc gì có lúc nào anh nhìn thấy tướng?
- Thế còn anh đã nhìn thấy chưa?
- Anh chỉ bốc phét.
- Thì anh bốc phét đi.
- Các bạn ơi, nếu anh ấy nhìn thấy thì cứ để anh ấy nói luôn bây giờ cho mọi người hay rằng anh ấy biết viên tướng nào? Thôi, anh nói đi, còn tôi thì tướng nào tôi cũng biết hết.
- Tôi đã nhìn thấy tướng Zibert, - Kvasov có vẻ ngập ngừng.
- Zibert? Không có tướng nào là Zibert cả. Anh biết không, ông ta đã nhìn thấy cái lưng của anh rồi. Có lẽ hồi ấy ông ta mới là thượng tá, còn anh quá sợ hãi nên tưởng là tướng.
- Không, các anh nghe tôi nói đây, - Skuratov kêu lên, - hồi ấy tôi đã có vợ rồi. Tướng này ở Moskva vẫn còn trong trắng mà. Đó là ông Zibert, người Nga nhưng lại gốc Đức. Năm nào ông ấy cũng xưng tội với đức cha người Nga về cụ kỵ nhà ông ấy, và, các anh em ạ, lúc nào ông ấy cũng uống nước, cứ như là con vịt vậy. Ngày nào ông ấy cũng uống bốn mươi cốc nước đầu nguồn sông Moskva. Có người bảo ông ấy uống thế để chữa bệnh, chính bạn ông ta nói với tôi thế.
Anh bạn chơi đàn balalaika nhận xét:
- Uống nước này vào nên trong bụng ông ta sinh ra một đàn cá giếc.
- Thôi, các bạn nói thế đủ rồi! Chúng ta đang nói dở công việc, còn họ thì... Các anh em vừa nói viên thanh tra nào nhỉ? - một trại nhân tỏ ra băn khoăn nhấp nhổm. Đó là ông già cựu quân nhân kỵ binh tên là Martynov.
- Người ta cứ đồn thổi ra thế thôi! - một người hoài nghi lên tiếng. - Không hiểu họ lấy đâu ra những chuyện ấy và kể ra làm gì chứ? Toàn là chuyện ba láp.
- Không, không phải ba láp đâu! - anh chàng Kulikov lên tiếng trịnh trọng. Từ nãy anh vẫn ngồi yên lặng đạo mạo. Đó là một anh chàng nặng cân, tuổi ngót năm mươi, có gương mặt thật hết sức phương phi với vẻ khinh đời quí phái. Anh ý thức được điều đó và cũng tự hào điều đó. Anh có một phần dòng máu zigan, làm nghề thú y và vẫn kiếm được tiền trong phố nhờ chữa bệnh cho ngựa, còn ở trong trại thì anh buôn rượu. Anh là người thông minh, từng trải. Anh là người nói câu nào đáng tiền câu nấy.
- Đúng là thế đấy, các anh em ạ, - anh lại bình tĩnh nói tiếp, - tuần vừa rồi tôi cũng có nghe rằng sẽ có một vị tướng đến đây, một vị rất trọng yếu, sẽ đi thanh sát toàn vùng Sibir. Việc ấy ai cũng biết, ông ta sẽ được đút lót, chỉ có điều con quỷ của trại chúng ta là không làm được thôi. Người này không thể nào tiếp cận được với vị tướng. Tướng cũng có năm bảy đường tướng, các bạn ạ. Chuyện đời thường có như vậy. Có điều tôi xin nói với các bạn, tên thiếu tá của chúng ta trong mọi trường hợp vẫn sẽ ung dung tại vị nơi đây. Điều ấy là chắc. Chúng ta là những người không được phép nói, còn trong giới quyền chức thì những người thuộc cánh ta sẽ không bao giờ ton hót về người của mình. Tướng thanh tra sẽ ngó nghiêng vào trại, rồi cứ thế ra đi, rồi báo cáo lên trên rằng ở đây mọi việc đều tốt...
- Đúng thế đấy, các anh em ạ, còn tên thiếu tá thì sợ run lên: hắn đã say rượu từ lúc sáng sớm.
- Thế mà đến chiều hắn lại làm một chầu nữa. Fedka bảo thế.
- Ngựa đen thì không tắm trắng ra được. Đây là lần đầu tiên hắn say phải không?
- Không, hắn vẫn thế, cho dù vị tướng không làm gì hết! Không, hắn bắt chước hết những thói tật của bọn chúng đấy! - anh em trại nhân lo lắng truyện trò với nhau.
Câu chuyện về quan thanh tra loáng cái đã truyền khắp cả trại. Mọi người đi lại trong sân sốt sắng truyền nhau tin mới. Một số người cố tình im lặng, giữ vẻ lạnh lùng và bằng cách đó họ làm cho mình có vẻ quan trọng hơn lên. Một số khác thì vẫn thờ ơ. Rải rác trên các bậc thềm lán trại là các trại nhân ôm đàn balalaika. Một số người tiếp tục tán gẫu. Một số khác nghêu ngao mấy bài hát, nhưng nhìn chung thì suốt buổi tối hôm ấy không khí thật là căng thẳng.
Đến khoảng mười giờ đêm chúng tôi được điểm danh. Tù nhân bị lùa về các lán trại và bị khóa nhốt. Những đêm ấy thật ngắn: năm giờ sáng chúng tôi đã bị đánh thức, mà lúc đi ngủ thì không trước mười một giờ. Trước giờ đó thì bao giờ cũng vậy, cũng vẫn là những bước chân ồn ào, những cuộc trò chuyện, đôi khi, kể cả mùa đông vẫn có bọn mai-đan hoạt động. Ban đêm là lúc nóng bức và ngột ngạt không thể chịu được. Mặc dù qua các cửa sổ hé mở cũng có một chút gió mát, nhưng tù nhân vẫn cứ trở mình suốt đêm, tựa như trong cơn mê sảng. Bọ rệp thì nhiều vô kể. Chúng có mặt khắp nơi cả vào mùa đông với số lượng rất lớn, và bắt đầu từ mùa xuân thì chúng sinh sôi nảy nở với mức độ kinh khủng, mà mặc dù trước đây tôi có nghe nói, nhưng vì hồi đó chưa được trải nghiệm nên tôi chưa muốn tin. Càng sang hè chúng càng trở nên hung hãn. Dù đối với bọ rệp tôi vẫn có thể quen được, nhưng dẫu sao đó cũng là vướng mắc nặng nề. Anh em thấy thật đau khổ khi đã phải nằm trong cái nóng như thiêu như đốt, lại cảm thấy mình như không phải ngủ, mà chỉ là trong cơn mê sảng thôi. Đến rạng sáng, khi lũ bọ rệp đã uể oải, dường như đã yên nghỉ, rồi lại được hưởng chút gió mát ban mai, anh em mới được chợp mắt ngọt ngào, thì đúng lúc đó lại vang lên cái hồi trống tàn nhẫn cạnh cổng ra vào và buổi bình minh lại đến. Các anh em khoác vội cái áo bông cộc đã phải ghê sợ lắng nghe những âm thanh khúc chiết ầm ĩ, tựa hồ có thể đếm được từng từ, hơn thế nữa, lúc còn lơ mơ ngủ đầu óc đã căng lên với ý nghĩ rằng ngày mai, ngày kia và nhiều năm sau nữa, cho đến tận ngày được hưởng tự do thì cuộc sống vẫn thế này thôi. Rồi họ lại nghĩ, bao giờ mới có tự do, có ở đâu? Thế nhưng vẫn cứ phải thức dậy để rồi lại bắt đầu những bước đi, những câu chuyện hàng ngày... mọi người mặc quần áo, vội vã đi làm. Tất nhiên, vẫn còn có thể ngủ được khoảng một tiếng đồng hồ nữa vào lúc ban trưa.
Về việc quan thanh tra người ta đã nói đúng. Tin đồn ngày càng được xác thực, và cuối cùng hẳn là mọi người cũng nhận ra rằng sẽ có một vị tướng quân trọng yếu từ Peterburg đi thanh tra toàn vùng Sibir, rằng ông đã đến vùng này và hiện đang ở Tobolsk. Ngày nào cũng có những tin mới đổ vào trại. Có cả những tin từ thị trấn vào: nghe đồn rằng mọi người đều lo lắng, run sợ, đều muốn biết thực hư ra sao. Người ta kháo nhau rằng quan thượng cấp đã chuẩn bị tiệc tùng, vũ hội, lễ lạt. Tù nhân được phái đi từng đoàn lớn nhỏ làm công việc san đường đắp lối đi về pháo đài, phá bỏ các ụ đất, chắp vá lại các hàng rào và dựng lại các bia cột, sơn quét lại một số nơi - tóm lại, người ta muốn trong một tích tắc có thể chấn chỉnh lại mọi thứ cho đẹp cái mặt. Anh em chúng tôi hiểu rất rõ điều đó và lại càng bàn tán hăng hái hơn nữa, trí tưởng tượng của anh em đã lên đến mức kinh khủng. Thậm chí anh em đã chuẩn bị sẵn sàng đưa ra kiến nghị, một khi vị tướng hỏi anh em có hài lòng không. Trong khi đó thì anh em vẫn cãi nhau và chửi nhau thậm tệ. Viên thiếu tá lo lắm. Hắn lui tới trại nhiều lần hơn, kêu gào nhiều hơn, hung hăng nhiều hơn, lôi mọi người đến tập trung nhiều hơn để kiểm tra vệ sinh, ngăn nắp. Đúng vào lúc này thì lại có một câu chuyện nhỏ dường như cố ý xảy ra trong trại, tuy nhiên, câu chuyện này hoàn toàn không làm hắn buồn bực, trái lại, hắn còn thấy vui. Trong một cuộc đánh lộn một tù nhân đã dùng cái dùi đâm vào ngực một anh bạn gần đúng vào chỗ trái tim.
Anh tù nhân mắc tội ấy tên là Lomov. Anh bị thương được anh em gọi là Gavrilka. Anh này thuộc giới lang thang thâm căn cố đế. Tôi không biết anh ta có cái biệt danh nào nữa không, còn ở đây ai cũng gọi là Gavrilka.
Lomov vốn thuộc con nhà nông dân khá giả xã T., huyện K. Cả nhà Lomov sống quây quần một nơi: một ông bố, ba anh con trai và một ông chú. Tất cả đều giầu có. Khắp cả thị trấn người ta nói rằng vốn liếng nhà họ có tới ba trăm ngàn đồng. Họ biết làm ruộng, thuộc da, buôn bán, nhưng công việc nhiều hơn cả là cho vay nặng lãi, che dấu bọn người lang thang và những khoản tài sản trộm cắp và các trò kiếm ăn khác nữa. Phải đến nửa huyện ấy là con nợ của họ, là nô lệ của họ. Họ nổi tiếng là thông minh và khôn ngoan, nhưng cuối cùng thì họ sinh ra kiêu ngạo, đặc biệt là dịp có một nhân vật rất trọng yếu trong vùng có việc dừng lại ở thăm nhà họ, làm quen trực tiếp với ông già rồi yêu quí ông già vì ông có tài tháo vát và khéo xoay xở. Thế là đột nhiên họ nghĩ đại ra rằng họ chẳng còn cần cương tỏa gì cả, rồi họ bắt đầu phiêu lưu ngày càng kinh hoàng hơn trong rất nhiều các phi vụ ngoài vòng pháp luật. Tất cả mọi người đều ta thán về họ, đều mong sao cho họ gục ngã, nhưng họ thì lại ngày càng vênh vênh cái mặt. Các cảnh sát trưởng và các hội thẩm đoàn chẳng là cái gì với họ cả. Cuối cùng họ phát rồ lên mà chết, không phải chết vì một cái gì tồi tệ, cũng không phải vì những tội ác bí hiểm, mà chỉ vì một lời điêu trác. Ở cách làng khoảng mười vec-sta họ có một trang trại lớn, đó là đất khẩn hoang theo luật Sibir. Một bận, lúc sang thu, ở đó có sáu người kirgiz làm công cho họ từ lâu, gần như là nông nô rồi. Một đêm cả sáu người này đều bị chặt đầu. Vụ án bắt đầu và kéo dài mãi. Trong quá trình đó người ta phanh phui ra nhiều điều xấu xa khác nữa. Nhà Lomov bị buộc vào tội giết hại những người làm công. Chính họ đã kể như thế và cả trại cũng biết điều đó: họ bị nghi ngờ là nợ tiền những người làm công quá nhiều. Mặc dầu họ có nhiều tiền của, nhưng lại bần tiện và tham lam, vì vậy mà họ chặt đầu anh em kirgiz để khỏi trả nợ. Trong thời gian điều tra và thụ án họ đã tiêu hết sạch gia tài. Ông già lăn cổ ra chết, con cái được gửi đi mỗi đứa một phương. Một anh con trai và ông chú rơi vào vòng khổ sai ở chỗ chúng ta thời hạn mười hai năm. Thế là thế nào? Hai người này hoàn toàn vô tội trong cái chết của các anh em kirgiz. Sau này, ở trong trại, cái anh chàng nổi tiếng là ma lanh và lang thang, vui tính và năng nổ Gavrilka đã thú nhận rằng chính anh đã nhận hết phần tội lỗi về mình. Tuy nhiên, chính tôi thì tôi không được nghe anh tự thú chuyện này, nhưng cả trại thì hoàn toàn tin rằng anh em kirgiz không ai thoát nổi tay anh. Gavrilka và Lomov từ hồi lạc bước giang hồ đã có chuyện rồi. Anh đã phải đi tù ngắn hạn vì là lính trốn trại và là lang thang phiêu bạt. Anh cùng với ba người lang thang khác nữa đã cắt cổ anh em kirgiz. Họ muốn kiếm chác nên đi ăn cướp trong vùng khẩn địa.
Gia đình Lomov chẳng được ai trong chúng tôi yêu mến. Tôi cũng không rõ vì sao. Nhà ấy có một thằng cháu rất thông minh và dễ gần gũi, nhưng ông chú anh ta là người đã dùng dùi đâm Gavrilka thì lại đầu độn và ba láp. Trước đó ông ta đã cãi lộn với nhiều người và đã bị người ta nện cho nhừ tử. Gavrilka thì được mọi người yêu mến vì tính tình vui vẻ và nghiêm túc. Mặc dù nhà Lomov biết rằng anh này là tội đồ, và họ vì anh ta mà phải đến đây, nhưng lại không hề cãi nhau với anh, tuy họ chẳng bao giờ gặp nhau, và anh ta cũng không quan tâm gì tới họ cả. Thế rồi tự nhiên nổ ra cuộc cãi vã giữa anh ta với ông chú nhà Lomov chỉ vì một cô bé chẳng ra làm sao. Gavrilka thì khoe với mọi người rằng cô ta có lòng khoan hậu, thế là ông chú kia nổi một cơn ghen và đến một buổi trưa ông đem dùi đâm anh một nhát.
Nhà Lomov dù đã khánh kiệt sau vụ hầu tòa, nhưng vào trại họ vẫn sống dư dả. Rõ ràng là họ còn tiền, họ có ấm samovar, họ được uống trà. Tên thiếu tá biết chuyện ấy và căm ghét cả hai người nhà Lomov đến tận xương tủy. Hắn luôn bẻ hành bẻ tỏi và thường xuyên gây chuyện với họ. Nhà Lomov giải thích rằng hắn muốn ăn tiền đút lót của họ, nhưng họ không cho.
Tất nhiên, nếu như Lomov nhấn sâu thêm mũi dùi chút nữa thì ông ta đã giết chết Gavrilka rồi. Nhưng câu chuyện ấy chỉ kết thúc bằng một vết xước. Có người báo cho tên thiếu tá. Tôi vẫn nhớ cái cách thức mà hắn hộc tốc phi đến, mặt mày hớn hở. Hắn xử sự với Gavrilka thật âu yếm đến mức kinh ngạc, hệt như cha đẻ đối với con ruột.
- Thế nào, anh bạn, anh có thể đi bộ đến bệnh viện được không? Không được à, thế thì thắng cho anh ấy con ngựa. Thắng ngựa mau lên! - hắn quát ngay viên hạ sĩ.
- Nhưng tôi, bẩm ngài, tôi không cảm thấy đau gì đâu ạ. Hắn ta chỉ đâm nhẹ thôi, thưa ngài.
- Anh không biết đâu, anh không biết đâu, anh bạn thân mến ơi; rồi anh sẽ thấy... Đấy là chỗ hiểm, tất cả đều do vị trí mà ra; chỗ ấy ngay ở dưới tim, cái quân kẻ cướp ấy! Còn mày, còn mày, - hắn quay về phía Lomov và gầm lên, - bây giờ tao sẽ hỏi tội mày!... Vào phòng lính gác!...
Và hắn xử tội thật. Lomov bị kết án. Mặc dù vết thương chỉ là vết đâm nhẹ nhàng nhất, nhưng lại có ý đồ rõ ràng. Tội nhân bị tăng thời hạn lao động và phải chịu một nghìn roi. Tên thiếu tá thật mãn nguyện...
Cuối cùng thì vị tướng thanh tra cũng đến. Ông ta đến thị trấn thì ngày hôm sau đến chỗ chúng tôi. Sự kiện ấy như một ngày hội. Trước đó mấy ngày mọi thứ đã được lau rửa, đánh bóng cẩn thận. Trại nhân ai cũng cạo râu cạo mặt nhẵn nhụi, áo quần trắng đẹp. Vào mùa hè, theo đúng qui định ai cũng phải mặc áo khoác, quần dài màu trắng bằng vải gai. Lưng áo mỗi người đều có thêu một vòng tròn màu đen, đường kính bằng hai miệng niêu. Trong suốt một giờ các trại viên được hướng dẫn cách thức trả lời, một khi nhân vật cao cấp kia có điều gì nghi vấn. Tất cả đều được tập duyệt. Viên thiếu tá chạy ngược chạy xuôi đầu tắt mặt tối. Một tiếng đồng hồ trước khi viên tướng xuất hiện tất cả mọi người đã đứng đúng vị trí tăm tắp như các ngẫu tượng, tay xếp nẹp quần. Cuối cùng, đúng một giờ trưa vị tướng xuất hiện. Đó là một vị tướng đường bệ, đường bệ đến mức dường như trái tim của tất cả mọi nhân vật hàng đầu trên khắp vùng Tây Sibir này đều rung lên cùng bước chân đến đây của vị tướng. Ông bước vào nghiêm khắc và trang trọng, theo sau là đoàn tháp tùng đông đảo gồm các quan chức địa phương cùng một số viên tướng và đại tá. Cùng đến còn có một vị khách dân sự người cao to đĩnh đạc mặc áo đuôi tôm, đi giày cứng, cũng từ Peterburg đến, nhưng có thái độ hết sức thoải mái và tự do. Điều này khiến các trại nhân quan tâm đặc biệt: vừa là khách dân sự, vừa được nể trọng lại vừa là đi cạnh một vị tướng như thế! Cuối cùng thì người ta cũng tìm ra được danh tính ông ta và biết được ông ta là ai, có điều là họ biết rất nhiều chuyện. Còn tên thiếu tá của chúng ta thì gồng người lên, mặc áo cổ màu da cam, hai mắt đầy những mạch máu, mặt đầy mụn trứng cá đỏ sậm, nhưng có lẽ không tạo ra được ấn tượng gì đặc biệt dễ chịu cho ngài tướng quân. Để tỏ ra có lòng kính trọng đặc biệt đối với vị tướng hắn đã bỏ không đeo kính nữa. Hắn đứng ở một quãng xa, chân tay thẳng băng, toàn thân như lên cơn sốt chờ đợi một giây phút nào đó cần thiết để bay ra thực hiện ý muốn của đấng kính tôn. Thế nhưng không có việc gì cần đến hắn cả. Ngài tướng quân lặng lẽ đi thăm các lán trại, ngó vào trong bếp, có vẻ như muốn dùng món canh cải. Có người chỉ cho ngài thấy tôi, rồi nói mấy câu gì đó, đại loại là tôi thuộc lớp quí tộc.
- A! - Vị tướng đáp lại. - Thế bây giờ ông ấy ra sao?
- Bẩm Ngài, ông ấy thấy hài lòng ạ. - Người ấy trả lời.
Vị tướng gật đầu, rồi độ hai phút sau bước ra khỏi trại. Tất nhiên, tất cả trại nhân đều hoa mắt, sững sờ, nhưng dẫu sao cũng còn đôi điều không thể hiểu được. Hiển nhiên là không ai nhắc gì đến yêu cầu đối với thiếu tá. Mà tên thiếu tá cũng thừa biết như thế từ trước.