Cuối cùng thì ngày hội cũng đã đến. Ngay từ hôm trước lễ Giáng Sinh hầu như các tù nhân đã không phải đi làm. Họ đến các nhà kho, xưởng thợ, một số ra bãi lắp máy. Họ đi từng người hoặc từng đám, nhưng chẳng mấy chốc lại quay về trại, ăn trưa xong không ai ra khỏi trại nữa. Buổi sáng phần lớn anh em làm việc riêng chứ không phải việc trại: một số thì bận việc chở rượu, đặt rượu, một số khác thì đi thăm các ông bà bố mẹ nuôi hoặc đi thu đòi các khoản công nợ vì những công việc đã thực hiện từ trước. Baklushin và những anh em tham gia nhóm nhà hát thì đi gặp một số người quen, chủ yếu là đám phục vụ sĩ quan để mượn một số quần áo cần thiết. Một số khác thì tất bật đi lại mặt mũi tỏ ra bận rộn, chỉ vì một lý do duy nhất là những người khác đang bận rộn tất bật. Mặc dù những người này chẳng kiếm được tiền của ai cả, nhưng họ lại làm ra vẻ dường như cũng sẽ kiếm được tiền của ai đó. Tóm lại, tất cả mọi người đều làm ra vẻ dường như đến mai sẽ có những thay đổi gì đó, có những bất ngờ gì đó. Đến chiều các thương binh đi chợ theo yêu cầu của các trại nhân; họ đem về đủ mọi thứ đồ ăn: thịt bò, thịt lợn, thậm chí cả thịt ngỗng nữa. Nhiều trại nhân, ngay cả những người tằn tiện nhất, quanh năm chắt chiu từng đồng xu, cũng thấy mình có nghĩa vụ phải mở hầu bao cho ngày hôm đó và tổ chức ăn kiêng một cách nghiêm chỉnh. Ngày hôm sau là ngày hội thật sự, không thể thiếu được của trại nhân và đã được luật pháp chính thức thừa nhận về mặt hình thức. Vào ngày đó trại nhân không phải đi làm. Mỗi năm chỉ có ba ngày hội được như thế.
Cuối cùng, ai mà biết rằng khi ăn mừng ngày hội đó trong tâm hồn những kẻ bị hắt hủi này sẽ hiện lên bao nhiêu hoài niệm! Những ngày hội lớn bao giờ cũng được khắc họa sâu sắc trong ký ức những kẻ thường dân ngay từ thuở ấu thơ. Đó là những ngày được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc, là ngày của xum họp gia đình. Trong trại này những ngày đó được nhớ lại với những nỗi khổ đau dằn vặt. Đối với anh em tù nhân lòng kính yêu ngày hội huy hoàng đã dần dần chuyển thành một thứ hình thức lễ nghi. Một số ít anh em đi dạo chơi. Mọi người đều tỏ ra nghiêm trang và làm như bận rộn điều gì, mặc dù nhiều người hoàn toàn chẳng bận gì cả. Thế nhưng cả những kẻ nhàn tản và những người dong chơi đều cố gắng giữ cho mình một vẻ long trọng nhất định... Tiếng cười hầu như bị cấm đoán. Nhìn chung trạng thái tinh thần ấy đạt tới mức cố chấp không thể chấp nhận được, và thế là, dù chẳng phải cố ý, cũng có người vi phạm nếp vui chung và lập tức bị mọi người bao vây la mắng và trút giận lên đầu, dường như người đó phạm tội khinh thường ngày hội. Khí thế đó của anh em trại nhân thật đáng nể, thậm chí là đáng cảm động. Ngoài tấm lòng vốn dĩ là tôn vinh đại lễ, người tù còn cảm nhận được một cách vô thức rằng bằng cách tuân thủ nghi lễ người tù dường như được tiếp cận với toàn thế giới, rằng có thể là anh ta hoàn toàn không phải là con người bị ruồng bỏ, là cái xác chưa chôn, miếng bánh mỳ được cắt ra trong trại này cũng giống như của những người khác.
Akim Akimych cũng náo nức chuẩn bị ngày hội. Ông không có kỷ niệm gì về gia đình, bởi lẽ khi lớn lên ông đã là đứa trẻ mồ côi, sống ăn nhờ ở đậu, và chưa đến mười lăm tuổi ông đã phải làm những công việc cực nhọc; trong cuộc đời ông không có những niềm vui đặc biệt, bởi vì ông đã sống suốt đời một cách đều đặn, đơn điệu, luôn nơm nớp lo sợ chỉ sơ hở chút ít là không hoàn thành những nghĩa vụ được giao. Ông cũng không phải là người sùng tín quá đáng, bởi vì có lẽ rằng lối sống đức độ trong ông đã lấn chiếm hết mọi năng lực con người, đặc biệt là lấn át hết mọi niềm say mê, mong muốn, cả theo hướng tốt lẫn theo hướng xấu. Vì tất cả những lẽ đó mà ông chuẩn bị đón mừng ngày hội lớn này một cách không ồn ã, không hồi hộp, không bận tâm với những kỷ niệm buồn rầu và hoàn toàn vô ích, mà chờ đón với một tâm thế đức độ chuẩn mực đến mức vừa đủ để thực thi nghĩa vụ và hoàn thành nghi lễ chỉn chu. Nói chung ông không phải là người thích đắn đo nhiều. Dường như ý nghĩa của sự kiện không liên quan gì đến đầu óc ông, nhưng những qui tắc mà ông được chỉ dẫn thì ông hoàn thành với tính cẩn trọng thiêng liêng. Giả thử như ngày mai người ta ra lệnh cho ông phải làm một điều hoàn toàn ngược lại, thì ông cũng sẽ làm điều đó một cách nhẫn nhịn và thận trọng, giống hệt như khi ông làm cái việc đối lập vào ngày hôm trước. Có lần, có một lần duy nhất trong đời ông đã thử sống bằng trí óc của mình thì lập tức ông rơi vào vòng khổ sai. Bài học đó đối với ông không hề mất đi vô ích. Mặc dù số phận không cho phép ông có một ngày nào đó được hiểu rằng lỗi lầm của ông nằm ở đâu, nhưng bù lại ông rút ra được từ cuộc phiêu lưu của mình một nguyên tắc cứu mạng là trong bất cứ tình huống nào cũng không bao giờ được phép lý sự, bởi vì rằng “lý sự không phải là sở trường trí tuệ của ông ấy” - đó là cách nói với nhau của anh em trại nhân. Là người tuân thủ nghi lễ một cách mù quáng, thậm chí ông còn nhìn con lợn bột đem cúng tế với lòng kính trọng từ trước đó, khi ông làm thịt nấu cháo và đem rán (ông tự tay mình làm, vì ông biết rán rất khéo), dường như đó không phải là chú lợn bột thường ta có thể mua được và rán được, mà là một con lợn đặc biệt, lợn cúng. Có thể ngay từ lúc còn thơ ấu vào ngày này ông đã quen nhìn thấy trên bàn cỗ cúng một chú lợn bột và đã kết luận được rằng chú lợn bột là con vật cần thiết của ngày hội này, và tôi tin chắc rằng nếu như vào ngày này chỉ một lần ông không được ăn thịt lợn bột, thì suốt đời thỉnh thoảng ông sẽ bị lương tâm cắn rứt vì không hoàn thành nghĩa vụ. Trước lễ hội ông mặc quần áo cũ, dù đã được vá mạng hết sức nghiêm chỉnh, nhưng cũng đã rất sờn bợt. Bây giờ mọi người mới vỡ lẽ rằng bộ quần áo mới tinh ông được phát bốn tháng trước đây ông vẫn cất giữ cẩn thận trong rương không hề đụng đến với một ý nghĩ luôn mỉm cười với ông là đến ngày hội ông sẽ đổi mới quần áo một cách trọng thể. Nghĩ thế nào ông làm thế ấy. Ngay từ chiều tối ông đã lấy bộ quần áo mới ra, vuốt cho phẳng phiu, đứng nhìn ngắm nghía, phủi sạch các vết bụi, thổi một hơi cho sạch. Làm xong các việc ấy ông mới đem ướm thử vào người. Bộ quần áo hóa ra lại vừa như in, trông thật bắt mắt, ôm khít từ dưới lên trên. Cái cổ áo như của lính biên phòng làm cho cằm ông cao lên, chỗ thắt eo thì giống như áo khoác của lính. Ông Akim Akimych thậm chí còn nhe răng cười vì hài lòng và cũng ưỡn ẹo xoay mình một vòng trước chiếc gương nhỏ xíu mà từ lâu vào lúc rỗi rãi ông đã tự tay mình dán xung quanh nó một đường viền vàng đẹp. Chỉ có một cái móc nhỏ trên cổ áo là có vẻ như không đúng chỗ. Nghĩ vậy, ông Akim Akimych quyết định đổi chỗ cho nó. Ông liền đổi chỗ rồi lại thử lại và bây giờ thì mọi thứ hoàn toàn chu tất. Đến đây ông gấp quần áo lại như cũ, thanh thản cất dấu vào rương cho đến sáng mai. Đầu ông được cạo sạch tóc trông rất thỏa đáng, nhưng lúc nhìn kỹ bản thân mình trong gương, ông nhận thấy dường như trên đầu không phẳng phiu lắm, một ít chân tóc bắt đầu chồi lên, và thế là ông hối hả chạy đến “thiếu tá” để cắt gọt thật là nhẵn nhụi và đúng mốt. Ngày mai có thể chẳng có ai nhòm ngó đến ông Akim Akimych, nhưng ông cứ phải cạo nhẵn nhụi chỉ cốt để lương tâm mình được yên ổn, để làm sao đúng ngày ấy ông hoàn thành được mọi nghĩa vụ của mình. Ngay từ lúc còn nhỏ tuổi, thái độ sùng kính đối với từng cái cúc đơm, cái cầu vai, cái khuyết áo đã ghi dấu không hề mờ phai trong trí óc ông như một nghĩa vụ không phải bàn cãi, còn trong trái tim ông thì như hình tượng một vẻ đẹp tột cùng, mà chỉ có con người thật chỉn chu mới đạt tới được. Sửa soạn xong mọi thứ, với tư cách là trại nhân lớn tuổi nhất, ông chỉ thị cho mọi người mang cỏ khô đến rồi thận trọng theo dõi xem họ xếp đống trên sàn. Ở các lán khác cũng làm như vậy. Tôi không hiểu vì sao, nhưng cứ đến ngày Giáng Sinh thì bao giờ ở chỗ chúng tôi người ta cũng ném cỏ khô trong trại. Sau khi làm xong hết mọi việc, ông Akim Akimych bắt đầu cầu nguyện rồi sau đó ông nằm lên giường và ngủ một giấc không vẫy tai như một chàng trai trẻ, để rồi sáng mai có thể dậy được càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, tất cả các trại nhân đều làm như vậy. Trong các lán trại anh em tù nhân đều đi nằm rất sớm hơn mọi ngày. Những công việc buổi tối bình thường đều được bỏ lại, bọn mai-đan cũng không được nhớ đến nữa. Tất cả ngóng đợi ngày mai.
Tất nhiên là ngày mai cũng đã đến. Buổi sớm, trước khi trời sáng rõ, vừa có lệnh báo sáng là các cửa lán đều được mở rộng. Viên hạ sĩ quan vào điểm danh tù nhân lên tiếng chúc mừng mọi người nhân dịp ngày hội. Mọi người cũng hồ hởi, ân cần chúc lại như vậy. Ông Akim Akimych và nhiều anh em khác, những người có ngỗng và lợn bột trong bếp, cầu nguyện một lát rồi vội vàng vào bếp xem tình hình thế nào, người ta rán chúng ra sao, bày biện món gì ở đâu và các việc khác nữa. Trong ánh trời mờ tối, qua các cửa sổ bé nhỏ đầy tuyết và băng của lán trại người ta nhìn thấy rõ rằng trong cả hai bếp có sáu cái bếp lò, cái nào cũng rừng rực lửa than được nhóm lên từ lúc chưa sáng. Ngoài sân, trong bóng nhập nhoạng đã thấy thấp thoáng các trại nhân mặc áo bông ngắn, bọc tay ấm và mặc áo choàng. Tất cả đổ dồn vào bếp. Tuy nhiên, có một số, một số rất ít, cũng đã kịp ghé vào chỗ bán rượu. Đó là những người nóng ruột nhất. Nhìn chung thì mọi người tỏ ra là rất nghiêm túc, bình tĩnh và có vẻ như là trang trọng khác thường. Không nghe thấy những câu chửi bới thô tục, những cuộc cãi vã như mọi ngày. Ai cũng hiểu rằng đây là một ngày trọng đại, một ngày lễ lớn. Cũng có những người đi sang các lán khác để chúc mừng một người quen nào đó. Chỗ nào cũng bộc lộ một thứ không khí như là hữu hảo. Tôi có một nhận xét thoáng qua trước đây giữa các tù nhân với nhau hầu như không có thứ tình cảm hữu hảo, tôi không nói đến tình cảm chung, - cái đó thì đã lâu rồi, - mà là thứ hữu hảo riêng, nghĩa là có một trại nhân nào đó làm bạn với một trại nhân khác. Điều đó ở chỗ chúng tôi hầu như hoàn toàn không có, và đó cũng là một nét tuyệt vời: ở chỗ tự do bên ngoài trại cũng không có như thế. Ở chỗ chúng tôi mọi người đối xử với nhau một cách thô thiển, khô khan, ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ rất hiếm hoi, mà cái đó cũng chỉ là một lối thể hiện hình thức, được chấp nhận và được hình thành. Tôi cũng bước ra khỏi lán. Trời bắt đầu hơi sáng, các vì sao mờ dần, một làn hơi nước mỏng lạnh giá bốc dần lên cao. Các ống khói nhà bếp nhả khói cuồn cuộn. Một số anh em tù nhân đi ngược chiều với tôi chủ động đon đả và dịu dàng chúc phúc tôi nhân dịp ngày hội. Tôi cám ơn và cũng chúc lại như thế. Trong số họ có những người mà trong suốt tháng vừa rồi cho đến bây giờ cũng chưa nói với tôi một câu nào cả.
Đến sát cửa nhà bếp có một anh tù nhân bên trại lính khoác chiếc áo tu-lúp đuổi theo kịp tôi. Ngay từ giữa sân anh ta đã nhìn thấy tôi và gọi to “Ông Aleksandr Petrovich! Ông Aleksandr Petrovich!” Anh ta hối hả chạy đến bếp. Tôi đứng lại chờ. Đó là một chàng trai trẻ trung, mặt tròn, ánh mắt dịu dàng, rất ít truyện trò với mọi người, còn với tôi, từ ngày tôi vào trại tới nay, anh ấy cũng chưa nói một lời nào và cũng chẳng chú ý gì đến tôi cả; thậm chí tôi còn chưa biết tên anh là gì. Anh đến gần tôi, thở hổn hển rồi đứng nghiêm trước mặt tôi, nhìn tôi với một nụ cười ngô nghê, nhưng đồng thời lại rất đằm thắm.
- Anh có việc gì thế? - tôi hỏi anh ta có phần ngạc nhiên, khi thấy anh ta cứ đứng trước mặt mình mỉm cười, tròn mắt nhìn mình mà chẳng nói chẳng rằng gì cả.
- Có chuyện gì đâu, ngày hội... - anh ta lắp bắp, và rồi chính anh ta cũng nhận ra rằng chẳng còn câu chuyện gì để nói hơn nữa, nên anh bỏ tôi đứng đấy mà chạy thẳng vào bếp.
Ở đây tôi xin có thêm một nhận xét rằng sau chuyện ấy quả thật là giữa tôi và anh ta cũng chẳng có dịp nào đi lại với nhau và hầu như chẳng nói với nhau câu nào cho đến tận ngày tôi rời trại.
Trong bếp quanh mấy cái lò nóng rực là cảnh nhộn nhịp, chen lấn, xô đẩy. Ai cũng phải theo dõi món ăn của mình. Mấy cô nhà bếp thì nấu các món của trại, vì bữa cơm hôm nay được ấn định sớm hơn. Tuy vậy, chẳng ai bắt đầu ăn, mặc dù cũng có người muốn, nhưng trước mặt người khác thì lại giữ phép lịch sự. Mọi người phải chờ cha đạo, và phải sau đó thì mới ăn được. Tuy nhiên, trời chưa sáng rõ mà ngoài cổng trại đã nheo nhéo tiếng gọi của một tên binh nhất “Các ông đầu bếp ơi!”. Tiếng gọi vang lên từng phút và kéo dài đến hai tiếng đồng hồ. Người ta yêu cầu các anh đầu bếp ra tiếp nhận quà từ thiện từ khắp mọi nơi trong thành phố gửi đến. Khối lượng quà thật rất lớn gồm đủ loại bánh mỳ, bánh tráng, bánh nướng và bánh ngọt. Tôi nghĩ rằng không còn một bà nội trợ nào của các gia đình buôn lớn bán nhỏ trong khắp thành phố mà không gửi đến giúp một ít bánh mỳ nhà mình để chào mừng ngày lễ hội vĩ đại của “những người bất hạnh” và những người bị cầm tù. Có những món quà sang trọng, đó là một khối lượng lớn những ổ bánh mỳ bằng bột tinh. Cũng có những món quà rất nghèo nàn - một chiếc bánh giá một xu và hai chiếc bánh lá nem mầu đen có phết chút váng sữa: đó hẳn là món quà vót vét của người nghèo gửi cho người nghèo. Tất cả những món quà ấy đều được tiếp nhận với lòng biết ơn như nhau, không có sự phân biệt loại quà và loại người cho. Anh em tù nhân khi nhận quà đều ngả mũ, cúi đầu chúc mừng ngày hội và mang quà vào bếp. Khi đã chất đầy cả một đống bánh mỳ, người ta bèn gọi các bậc lão nhân trong các lán trại đến chia đều cho các anh em. Không hề có sự cãi cọ, chửi mắng. Mọi việc được tiến hành một cách công minh, đều khắp. Những phần thuộc về lán chúng tôi thì chúng tôi chia nhau. Ông Akim Akimych cùng một ông nữa tự tay mình chia và tự tay mình phân phát cho từng người. Không hề có bất kỳ một sự phản kháng nào, không có sự tị hiềm người này người kia; ai cũng hài lòng, thậm chí không thể có một sự nghi kỵ nào cả rằng có món quà nào đó bị đem dấu đi hoặc bị đem chia thiên vị. Sau khi ổn định công việc trong bếp, ông Akim Akimych bắt tay vào việc ăn mặc của mình một cách sang trọng nhất và trang trọng nhất, không để một cái cúc áo nào bị tuột. Ăn mặc xong là ông bắt đầu tụng niệm ngay. Ông cầu nguyện khá lâu. Nhiều tù nhân cũng đứng cầu nguyện, chủ yếu là những người đứng tuổi. Thanh niên nhiều người không cầu nguyện: có người đứng lên làm dấu thánh qua loa, ngay cả trong ngày lễ hội. Tụng niệm xong, ông Akim Akimych đến chỗ tôi, chúc mừng tôi khá là trang trọng nhân dịp hội này. Tôi lập tức mời ông uống trà, còn ông lại mời tôi thưởng thức món thịt lợn bột. Ít phút sau có một người nữa đến chúc lễ tôi, đó là anh Petrov. Có vẻ như anh vừa uống rượu xong, anh thở hổn hển và không nói được gì nhiều, chỉ đứng một lúc trước mặt tôi như muốn chờ đợi gì đó, rồi lại chạy đi vào bếp. Trong lúc này thì bên trại lính lại chuẩn bị cho lễ thánh của đức cha. Trại này được tổ chức không giống các trại khác: bên này các giường lán được xếp dọc theo các bức tường, chứ không dồn vào giữa phòng như ở các nơi, cho nên đó là cả một chiếc giường lớn mà ở giữa không vướng víu gì cả. Cách tổ chức như thế hẳn là để làm sao trong những trường hợp cần thiết có thể triệu tập một cuộc họp tất cả trại nhân. Giữa phòng đặt một chiếc bàn nhỏ, phủ khăn sạch, trên đó đặt ảnh Chúa và có đốt nến. Cuối cùng đức cha đã đến, tay cầm cây thánh giá và bình nước thánh. Ngài cầu kinh trước ảnh thánh rồi đứng trước mặt mọi người. Các tù nhân cung kính đến bên chạm tay vào cây thánh giá. Sau đó đức cha đi quanh các giường lán và vẩy nước thánh. Lúc vào bếp ngài ngợi khen món bánh mỳ của trại có mùi vị nổi tiếng trong thành phố. Ngay lập tức anh em trại nhân muốn gửi vào thành phố hai chiếc bánh vừa mới nướng xong, họ chọn ngay một anh thương binh để mang bánh đi. Cây thánh giá được mang đi cũng với thái độ cung kính như lúc đón nhận. Ngay sau đó thì có hai người đến trại. Đó là tên thiếu tá và viên quản trại. Viên quản trại được anh em yêu mến, thậm chí là kính nể. Ông ta đi một vòng qua các lán trại cùng với tên thiếu tá, chúc lễ mọi người rồi vào bếp nếm thử món súp của trại. Món súp thật tuyệt vì vào ngày này trại đã cho mỗi trại nhân gần đến một funt thịt bò. Ngoài ra lại có món cháo kê, còn bơ thì cho ăn thoải mái. Sau khi tiễn chân ông quản trại, tên thiếu tá lệnh cho anh em bắt đầu ăn trưa. Mọi người cố gắng không rơi vào tầm mắt của hắn. Ở chỗ chúng tôi không ai ưa đôi mắt dữ tợn của tên này ẩn sau cặp kính trắng, đôi mắt đến bây giờ vẫn thường ngó nghiêng bên phải bên trái xem có điều gì mất trật tự hay không, xem có vớ được người nào mắc lỗi hay không.
Mọi người bắt đầu ăn. Con lợn bột của ông Akim Akimych đã được rán lên ròn tan. Tuy nhiên, có điều xảy ra mà tôi không sao giải thích được: ngay khi tên thiếu tá ra đi, chỉ năm phút sau đã xuất hiện bao nhiêu là người say rượu, thế mà mới năm phút trước đó mọi người còn hoàn toàn tỉnh táo. Đã xuất hiện nhiều khuôn mặt đỏ ửng và rạng rỡ, xuất hiện cả những cây đàn balalaika. Anh chàng Ba Lan với cây đàn violon cũng đang đi sau một tên rong chơi nào đó, anh ta được thuê đi suốt ngày để kéo đàn cho hắn nhảy những điệu vui vẻ. Những câu chuyện của họ mỗi lúc một say sưa và rôm rả hơn. Thế nhưng khi ăn cơm thì lại chẳng hề lộn xộn gì. Mọi người đều no nê. Trong số các ông già nhiều ông khỏe mạnh lập tức lên giường đi ngủ. Ông Akim Akimych cũng làm thế vì cho rằng có thể sau khi ăn trong ngày hội lớn cần phải được đi ngủ ngay. Ông già tín đồ cựu giáo ở Starodub ngủ một lát rồi leo lên nóc lò sưởi mở sách ra ngồi cầu kinh luôn mồm cho đến đêm khuya. Ông thấy nặng lòng khi nhìn thấy cảnh “nhộn nhạo”, ông vẫn nói như thế về chuyện vui chơi toàn trại của anh em tù nhân. Nhóm người Chérkes thì ngồi cả trên ô-văng vừa tò mò vừa có chút ghê tởm nhìn vào đám người say sưa. Anh chàng Nurra bỗng gặp tôi: “Bảo trọng! Bảo trọng! - Anh ta bảo tôi, vừa nói vừa lắc đầu một cách không hài lòng thật sự, - xin hãy bảo trọng! Thánh Allah sắp giận rồi đấy!” Anh chàng Isai Fomich đã bướng bỉnh và ngạo mạn thắp nến trong góc giường mình làm việc, cố tình tỏ ra không coi ngày hội là gì. Một số xó xỉnh đã có bọn mai-đan kéo đến. Chúng nó không sợ anh em thương binh, còn trong trường hợp có tên hạ sĩ cố tình lờ đi thì chúng thuê người đứng gác. Ngày hôm nay tên sĩ quan đi tuần đã ba lần ngó vào trại mình. Nhưng bọn say rượu đã trốn đi được, bọn mai-đan cũng rút lui khi tên này xuất hiện, còn tên đó thì có thể cũng đã quyết ý không thèm để mắt đến những vụ lộn xộn lặt vặt. Hôm nay người say rượu cũng được coi là chuyện nhỏ. Dần dà mọi người đã đi dạo chơi. Lại bắt đầu cãi nhau. Số người không say rượu vẫn còn rất nhiều, và cũng có người phải để mắt đến bọn say rượu. Để bù lại, những người đã dạo chơi rồi thì uống vô chừng vô độ. Anh Gazin cũng hứng khởi lắm. Anh dạo chơi với vẻ hài lòng gần chỗ lán trại của mình, nơi anh mạnh dạn mang rượu về, những chai rượu mà trước đó anh đã dấu được ở một nơi nào đó dưới lòng tuyết trắng sau khu nhà lính ở một chỗ bí hiểm, và rồi anh cất tiếng cười tinh quái nhìn những người cần rượu chạy đến chỗ anh. Bản thân anh là người tỉnh táo, không hề nhấp một giọt rượu. Anh có ý định dạo chơi vào cuối ngày hội, khi đã thu được từ trong túi của trại nhân một khoản tiền kha khá. Khắp nơi trong các lán trại là tiếng ca hát. Nhưng mức độ say sưa đã đến hồi mê muội, và những câu hát đâu đó quanh đây đã thấm dần nước mắt. Nhiều người đi lang thang với những cây đàn balalaika của riêng mình, vai khoác áo tu-lúp, vừa đi vừa gảy đàn với dáng vẻ thanh niên hùng tráng. Trong khu trại đặc biệt còn tổ chức được một dàn đồng ca tám người. Họ hát rất hay dưới tiếng balalaika và ghi-ta đệm theo. Những bài thuần túy dân ca thì ít được hát. Tôi chỉ còn nhớ được một bài mà thanh niên hay ca:
Hồi bé một buổi tối
Em được đi ăn hội
Nhưng ở đây tôi lại được nghe một dị bản khác của bài này, mà trước kia tôi chưa từng nghe. Cuối bài hát có thêm mấy câu thơ:
Hồi bé ở nhà em
Mọi thứ đều gọn ghẽ.
Em rửa thìa sạch sẽ,
Nấu nồi súp thật ngon.
Em kẹp tóc gọn gàng,
Nướng thật nhiều bánh ngọt.
Phần lớn mọi người hát những bài được gọi là tù ca, tất cả đều thuộc. Một trong những bài đó là bài “Có lần...” Đó là một bài châm biếm, kể chuyện rằng trước kia con người luôn được vui vẻ và sống như quý tộc tự do, còn bây giờ thì phải vào tù. Trước kia con người tự bổ dưỡng bằng “rượu vang Tây”, còn bây giờ:
Người ta cho bắp cải cùng nước lã.
Tôi phải ăn vì bị beo tai.
Có một bài cũng được truyền bá rất rộng rãi:
Hồi xưa trai tráng tôi sống vui tươi,
Và cũng có ít nhiều của nả.
Hồi trai tráng tôi kiếm tiền vất vả,
Để rồi lâm vào cuộc tù đầy...
Và còn nhiều bài như thế nữa. Chỉ có điều ở đây người ta không hát là “kiếm tiền”, mà là “kiệm tiền”, vì lấy gốc là chữ “tiết kiệm”. Người ta hát cả những bài sầu não nữa. Một trong số đó là bài riêng của trại tù, mà có thể cũng đã nổi tiếng:
Trời đã sắp ửng hồng,
Trống thúc tù sấp ngửa.
Ông già ra mở cửa.
Điểm danh rồi, mau lên.
Ai biết ta sang hèn
Sống bên trong lồng sắt,
Chỉ Chúa Trời biết mặt,
Là ta không chết đâu...
vân vân...
Có một bài khác còn buồn hơn, nhưng giai điệu đẹp hơn, chắc chắn là tác phẩm của một tù nhân lưu đày, ca từ thì ngọt ngào, nhưng sai khá nhiều về ngữ pháp. Cả bài tôi chỉ còn nhớ được mấy câu:
Mắt tôi bây giờ không nhìn thấy quê cũ,
Nơi ngày xưa tôi được sinh thành.
Bây giờ chẳng có tội gì mà chịu ngục hình,
Thân cứ bị giam cầm thê thiết.
Trèo lên sân thượng tim tôi gào thét,
Tiếng gào vang cả rừng sâu,
Tim tôi tan nát, lòng quặn đau,
Sao tôi không được bước ra ngoài ấy.
Bài này chúng tôi cứ hát thường xuyên, nhưng không hát đồng ca, mà là hát lẻ. Một người nào đó trong lúc dạo chơi chợt bước chân ra cửa trại, ngồi xuống đó, trong lòng ngẫm ngượi, tay chống cằm hát lí nhí một mình thôi. Ai nghe thấy thì đứt lòng đứt ruột. Ở đây ai cũng có giọng hát kha khá.
Bây giờ bóng tối đã bắt đầu buông phủ. Nỗi buồn, nỗi nhớ cứ hiện ra một cách nặng nề trong khung cảnh người thì dạo chơi mà đầu còn lảo đảo. Có người mới say sưa ngất ngưởng, cười nói huyên thuyên một giờ trước đây, mà nay đã ngồi đâu đó nức nở. Có những kẻ gây sự đánh nhau dễ đến hai lần. Có những người mặt mày xanh tái, đi đứng liêu xiêu, khuệnh khoạng mò đi khắp trại, cãi cọ mọi người. Cũng có người say xỉn âm thầm, hoài công đi kiếm bạn để thổ lộ tâm tình và để khóc cho mình nỗi đau say xỉn. Cả cái đám cư dân cơ cực này muốn được vui vầy, muốn có một ngày lễ hội vĩ đại vui nhộn, - nhưng mà, trời ơi! Cái ngày hôm nay sao mà nặng nề, sao mà sầu đau hầu như đối với từng người một. Ai cũng sống qua ngày hội như bị lừa dối trong một niềm hy vọng nào đó. Anh Petrov đã hai lần chạy đến tìm tôi. Cả một ngày anh uống rất ít nên hầu như hoàn toàn tỉnh táo. Thế nhưng, cho mãi đến giờ phút cuối ngày anh vẫn cứ chờ đợi một cái gì đó, một cái gì thế nào cũng phải xảy ra, một cái gì bất thường, mang tính vui tươi, lễ hội. Mặc dù anh không nói ra điều đó, nhưng cứ nhìn mắt anh là thấy. Anh đi từ lán này sang lán khác không hề mệt mỏi. Nhưng chẳng có gì đặc biệt xảy ra cả, ngoài không khí rượu chè, những câu chửi thề vô lối và những cái đầu nóng đỏ vì rượu. Anh chàng Sirotkin hôm nay mặc áo đỏ mới cũng đi khắp trại, mặt mày sáng sủa, người ngợm sạch sẽ, dáng đi cũng nhẹ nhàng, ngây thơ như chờ đợi điều chi. Dần dần không khí trong các lán trại trở nên u uất và thảm hại. Tất nhiên, cũng có lắm chuyện buồn cười, nhưng tôi cũng thấy buồn lòng ghê quá, cảm thấy thương cho mọi người, thấy nặng nề ngột ngạt bên các anh em. Và đây là hai anh trại nhân cãi nhau, tranh nhau xem ai được khoản đãi ai. Rõ ràng là họ cãi nhau đã lâu, và thậm chí trước đó cũng đã cãi nhau rồi. Một anh thì đã không hài lòng với anh kia từ lâu. Anh ta phàn nàn líu cả lưỡi, ra sức chứng minh rằng anh kia đối xử với mình không được công bằng: đã phải bán đi chiếc áo bông ngắn, khoản tiền dành dụm năm ngoái cũng đã hết vì chi tiêu cho ngày hội tiễn đưa mùa đông. Ngoài ra vẫn còn thứ này thứ nọ... Kẻ buộc tội là một chàng trai cao ráo, lực lưỡng, không phải ngu đần, sống nhẫn nhịn, nhưng khi đã say rượu thì rất muốn được kết bạn và được giãi bày đau khổ. Anh ta cứ mắng mỏ và đưa ra yêu cầu sau này sẽ nhẫn nhịn hơn nữa với ông bạn kia. Còn anh kia thân hình đậm đà, chắc chắn, người cao, mặt tròn, tỏ ra khôn ngoan, ranh mãnh. Anh này uống có lẽ nhiều hơn anh kia, nhưng cũng chỉ hơi say mà thôi. Anh là người có cá tính và nổi tiếng nhiều tiền, nhưng bây giờ không hiểu vì sao anh vẫn được lợi vì không chọc giận anh bạn hung hăng, và đang dẫn được anh này đến chỗ tay bán rượu; còn ông bạn thì khẳng định rằng anh ta nhất thiết và phải có trách nhiệm mời rượu ông bạn.
Tay bán rượu có phần kính nể người gọi rượu và có vẻ coi rẻ anh bạn hung hăng, bởi vì anh này uống rượu không phải bằng tiền của mình, mà là được thết đãi. Hắn lấy rượu ra và rót vào cốc.
- Không đâu, Stepka, anh nợ tôi đấy, - anh chàng hung hăng nói, khi thấy mình thua, - vì đây là món nợ của anh.
- Tôi không phí lời với anh! -Stepka đáp.
- Không được, Stepka, anh nói dối, - anh thứ nhất khẳng định khi đón cốc rượu từ tay người bán, - bởi vì anh nợ tiền tôi. Anh không có lương tâm và mắt anh không phải mắt anh, mà là mắt con nợ! Stepka, anh là thằng đểu, tôi nói thế đấy, một lời thôi, anh là thằng đểu!
- Làm gì mà nóng thế, rượu sắp đổ kìa! Lương tâm thì thế này thế kia, cứ uống đi đã, - người bán rượu lớn tiếng bảo anh hung hăng. - Không ai cãi nhau với anh đến mai được!
- Vậy thì uống, làm gì mà kêu lên thế! Xin chúc mừng anh Stepan Dorofeich nhân dịp ngày hội, - anh ta cầm cốc bằng cả hai tay, hơi nghiêng đầu lịch sự về phía Stepka, người mà nửa phút trước đây anh còn gọi là thằng đểu, - Chúc anh sống khỏe mạnh trăm tuổi, còn những gì đã qua không tính đến nữa! - Anh ta uống một hơi hết luôn, ho sặc một tiếng rồi chùi mép. - Các anh em ạ, ngày trước tôi uống dữ lắm, - anh ta nhận xét với giọng rất quan trọng, như muốn nói với mọi người, chứ chẳng với riêng ai. - Còn bây giờ, các anh biết đấy, tuổi tôi cũng đã lớn rồi. Xin cám ơn anh Stepan Dorofeich.
- Không dám.
- Về tất cả những chuyện ấy tôi sẽ nói với anh sau, anh Stepka. Ngoài cái chuyện anh là thằng rất đểu với tôi, tôi sẽ còn cho anh biết...
- Còn tôi thì tôi nói cho anh biết rằng anh là cái mặt say rượu, - Stepan Dorofeich không chịu được nữa, ngắt lời, - anh hãy nghe đây và ngẫm nghĩ từng chữ: cả thế gian này tôi chia đôi với anh, anh một nửa và tôi một nửa. Anh đi đi và đừng gặp lại tôi nữa. Tôi chán anh rồi!
- Thế anh không trả tiền tôi à?
- Tiền gì cho anh nữa, anh lại say à?
- Này, sang thế giới bên kia anh có tự cầm tiền trả tôi cũng không lấy! Tiền của chúng ta là tiền lao động, là mồ hôi nước mắt, là chân tay chai sạn. Sang thế giới bên kia anh cũng không yên với năm đồng xu của tôi đâu.
- Quỷ tha ma bắt anh đi.
- Nói vớ vẩn thế; đừng có thối mồm.
- Thôi, đi đi, đi đi!
- Đồ đểu!
- Đồ trốn trại!
Thế rồi hai người chửi bới nhau một trận nữa còn to hơn cả lúc chưa uống rượu.
Và đây là hai người bạn ngồi riêng rẽ trong lán: một người cao ráo, đầy đặn, chắc thịt, một anh hàng thịt thật sự, mặt đỏ au. Anh đã rưng rưng nước mắt vì rất cảm động. Người kia gầy ơi là gầy, người nhỏ thó, xiêu vẹo, mũi dài, từ đó hình như có nước chảy xuống, mắt như mắt lợn nhỏ bé cúi nhìn xuống đất. Đó là một người có đầu óc chính trị và có học vấn, trước kia đã làm thư lại và bây giờ đang phê phán bạn mình một cách có phần hợm hĩnh, khiến anh bạn trong thâm tâm rất không hài lòng. Suốt ngày họ cùng uống với nhau.
- Thằng ấy nó xấc xược lắm! -anh chàng đầy đặn kêu lên. Anh vòng tay trái ôm bạn và lắc đầu bạn khá mạnh. - “Xấc xược” có nghĩa là nó đánh anh.
Anh chàng đầy đặn trước kia là hạ sĩ quan đang ngấm ngầm ghen tị với một anh bạn béo tốt, chính vì thế cả hai người cứ hễ gặp nhau là lại chơi chữ bóng gió với nhau.
- Mà tôi phải nói với anh rằng anh cũng không đúng... - anh chàng thư lại bắt đầu nói một cách giáo điều, cố tình nhìn xuống đất ra dáng quan trọng chứ không ngước mắt nhìn bạn.
- Hắn xấc xược với tôi, anh có nghe thấy không! - Anh bạn ngắt lời và càng quấy rầy hơn. - Trên đời này anh là người bạn duy nhất còn lại với tôi, anh có nghe thấy tôi nói không? Vì thế tôi nói với anh một điều: nó xấc xược với tôi quá....
- Còn tôi thì tôi nói với anh thế này: bạn thân mến ạ, cách biện minh chua chát như thế chỉ làm cho cái đầu của anh tủi hổ mà thôi! - anh chàng thư lại phản đối bằng cái giọng thanh mảnh và lịch sự, - tốt hơn hết là anh hãy đồng ý với tôi rằng tất cả những điều đó là sự say sưa rượu chè vượt quá sự bất ổn của riêng anh...
Anh bạn người đậm đà hơi ngửa ra đằng sau một chút, đưa đôi mắt say rượu đờ đẫn nhìn anh bạn thư lại đang có vẻ thỏa mãn của mình và bỗng nhiên, hoàn toàn bất ngờ, vung tay dồn hết sức tát một cái như trời giáng vào cái mặt nhỏ thó của anh thư lại. Cái tát làm đứt tình bạn suốt một ngày liền. Còn anh bạn thân yêu thì ngã lộn xuống đất bất tỉnh nhân sự...
Lúc này có một anh bạn quen từ bên trại đặc biệt sang thăm chúng tôi, đó là anh bạn vô cùng tốt bụng, vui vẻ, khôn ngoan, hóm hỉnh, không biết giận ai và cứ trông bề ngoài đã thấy là giản dị hết chỗ nói. Đó chính là cái anh chàng mà ngày đầu tôi vào trại, lúc ăn trưa trong bếp anh ấy đã đi tìm xem ông muzik giầu có sống ở đâu, đã khẳng định rằng ông muzik này “có nhiều than vọng” và đã ngồi uống trà rất lâu với tôi. Anh này tuổi độ bốn mươi, có cặp môi dày bự, quả mũi to tròn và những chấm mụn trứng cá rải rác khắp nơi. Anh mang theo cây đàn balalaika và gảy liu riu khắp nơi. Đi theo anh như một cái đuôi là một anh bạn trại nhân người bé tí bé tẹo có cái đầu to tướng, con người mà đến bây giờ tôi cũng ít biết đến. Hơn thế nữa, cũng chẳng có ai quan tâm đến anh ta cả. Đó là con người có phần kỳ lạ, không đáng tin cậy, lúc nào cũng lầm lì, trịnh trọng. Anh đi làm ở kho phế liệu và rõ ràng là anh muốn sống khép kín, không liên hệ gì với ai. Còn bây giờ anh đang say rượu thì bám chặt lấy Varlamov như hình với bóng. Anh chàng cứ đi theo mãi, có vẻ hết sức hồi hộp vì cứ thấy vung tay lên, đấm đấm vào tường, đi khắp các lán trại và sụt sùi muốn khóc. Varlamov thì dường như không để ý gì đến anh ta, coi như không có con người ấy bên mình. Có điều lạ là hai người này trước đây không hề qua lại với nhau, về công việc và tính cách cũng chẳng có gì chung với nhau cả. Họ thuộc các loại tù khác nhau và sống ở hai trại khác nhau. Anh bạn người nhỏ bé tên là Bulkin.
Varlamov trông thấy tôi thì nhe răng cười. Tôi đang ngồi trên giường cạnh lò sưởi. Anh đứng trước mặt tôi hơi xa, suy nghĩ gì đó, lắc đầu một cái rồi bước mấy bước xiêu vẹo về phía tôi, nghiêng người chống nạnh ra dáng oách lắm, sau đó khẽ đặt tay lên dây đàn, miệng kéo dài giọng cất tiếng hát, chân dậm mũi giày đệm theo:
Cô em mặt tròn, cô em da trắng,
Giọng hát trong như tiếng chim xanh,
Cô em thân yêu của anh.
Cô em mặc áo hoa lụa,
Uyển chuyển như nàng công chúa,
Cô em tuyệt xinh.
Có vẻ như bài hát làm Bulkin khó chịu. Anh chàng vung tay lên, hướng về phía mọi người kêu lớn:
- Nó nói dối đấy, các anh em ơi, nó nói dối đấy! Không có một lời nào thật đâu. Toàn là nói dối đấy.
- Bài này tôi hát tặng ông già Aleksandr Petrovich! - Anh chàng Varlamov nói với nụ cười ranh mãnh và nhìn vào mắt tôi, suýt nữa thì nhảy vào ôm hôn tôi. Anh ta chếnh choáng say rồi. Lối nói “Tặng ông già... tên là gì đó” tức là có ý kính nể, là lối nói dân gian được dùng rộng rãi khắp vùng Sibir, thậm chí dùng cho cả những thanh niên độ tuổi hai mươi. Từ “ông già” chỉ có nghĩa là tôn kính, thậm chí là ngọt ngào.
- Thế nào, anh Varlamov, dạo này thế nào?
- Cũng là ngày lại qua ngày, vậy thôi. Ai thích ngày hội thì dậy sớm say sưa lướt khướt; bác tha lỗi cho tôi nhé! - Varlamov mặt hơi đỏ lên.
- Nói dối hết, nó lại nói dối hết! - Bulkin gào lên, đấm tay ầm ầm xuống các giường lán, có phần thất vọng. Nhưng anh chàng kia dường như đã thề không quan tâm chút nào đến Bulkin, điều đó thật hết sức khôi hài, bởi vì Bulkin cứ bám riết lấy Varlamov như con đỉa đói suốt từ sáng sớm chỉ cốt để gào lên rằng “nó nói dối đấy!” mà không hiểu vì sao anh ta cứ thấy như vậy. Bulkin cứ bám theo như một cái bóng, theo dõi từng lời nói, hai tay vặn vào nhau, đấm thùm thụp vào tường đến suýt chảy máu và đau khổ, đau khổ ra mặt vì khẳng định rằng Varlamov “nói dối hết!”. Giá như trên đầu anh ta còn có tóc mọc thì chắc anh ta sẽ nhổ đi cho đến trọc lốc. Đúng là anh ta tự thấy mình phải có trách nhiệm với các hành vi của Varlamov, đúng là lương tâm anh ta cắn rứt vì mọi khiếm khuyết của Varlamov. Nhưng cũng chính đó là lý do khiến Varlamov không thèm nhòm ngó đến anh.
- Nói dối hết! Nói dối hết! Nói dối hết! Không một lời nào của nó là đúng cả đâu - Bulkin lại gào lên.
- Làm gì mà gào lên thế! - Anh em trại nhân cười ầm lên, đáp lại.
- Tôi xin báo cáo với ông Aleksandr Petrovich rằng trước kia tôi cũng rất đẹp trai và cũng được các cô gái rất đỗi yêu thương... - anh chàng Varlamov chẳng cơn cớ gì bỗng nhiên lại bắt đầu lên tiếng như vậy.
- Nói dối! Lại nói dối! - Bulkin ngắt lời, rít lên.
Anh em trại nhân cười ha hả.
- Còn tôi thì tôi đã mạnh dạn hơn lên trước mặt chị em: tôi mặc áo sơ-mi đỏ, mặc quần ống rộng xếp nếp, tôi nằm bệ vệ như bá tước Butylkin, có nghĩa là tôi say bí tỉ, tóm lại, muốn ra sao thì ra!
- Nói dối! - Bulkin kiên quyết khẳng định.
- Hồi ấy bố tôi cho tôi một ngôi nhà gạch hai tầng. Trong vòng hai năm tôi đã tiêu hết cả hai tầng nhà, chỉ còn lại một cái cổng không có cột đỡ. Thế đấy, đồng tiền là cánh chim câu: nó bay đến rồi lại bay đi!
- Nói dối! - Bulkin khẳng định kiên quyết hơn.
- Thế rồi tôi bỗng nhớ ra. Tôi bèn gửi từ đây cho hai cụ thân sinh một bức thư lã chã nước mắt, hy vọng rằng may ra thì các cụ gửi cho ít tiền. Người ta bảo rằng tôi đã đi ngược đường bố mẹ. Thế là bất hiếu. Kể từ ngày tôi gửi thư đã bảy năm rồi đấy.
- Và không có hồi âm phải không? - Tôi cười hỏi.
- Tất nhiên là không, - anh ta bỗng nhiên cười và cứ dí mãi mũi mình vào sát mặt tôi. - Ông Aleksandr Petrovich này, thế mà ở đây tôi cũng có người yêu rồi đấy...
- Anh ấy à? Người yêu ấy à?
- Onufriev có nói: “Vợ tôi xấu xí, mặt rỗ tổ ong, nhưng được cái áo quần lành lặn. Còn vợ anh xinh đấy, nhưng lại bị gậy ăn xin”.
- Có thật thế không?
- Đi ăn xin thật mà! - Anh ta khe khẽ cười; trong trại người ta cũng cười. Quả thật, mọi người đều biết rằng anh có đi lại với một cô nàng hành khất nào đó và suốt nửa năm trời chỉ cho cô ta vẻn vẹn có mười cô-pếch.
- Chẳng lẽ thế sao? - tôi hỏi với lòng mong muốn là cuối cùng anh ta rời chỗ tôi mà đi chỗ khác.
Anh chàng lặng im, dịu dàng nhìn tôi và trìu mến nói:
- Vậy thì vì lý do đó xin ông thương tôi mà cho tôi lưng chai rượu được không? Thưa ông Aleksandr Petrovich, ngày hôm nay tôi toàn uống trà. - Anh nói thêm, giọng trìu mến, tay chìa ra nhận tiền, - tôi uống trà đến nỗi thở không ra hơi, đến nỗi bụng tôi sóng sánh như một chai nước.
Trong lúc anh ta cầm tiền thì có vẻ như Bulkin cũng đạt đến độ bực dọc cuối cùng. Anh chàng vung tay lên, tuyệt vọng gần như muốn khóc.
- Hỡi những đứa con của Chúa! - Anh ta quay mặt ra toàn trại, điên cuồng kêu lên, - hãy nhìn đây! Nói dối hết! Tất cả những gì nó nói là nói dối hết. Tất cả, tất cả, tất cả đều là dối trá!
- Anh làm cái gì thế! - anh em trong tù kêu lên, mọi người đều ngạc nhiên trước sự điên cuồng đó, - anh thật là vô lý!
- Tôi không cho nói dối! -Bulkin gào lên, mắt trợn ngược, tay đấm thật mạnh liên hồi xuống giường, - tôi không muốn cho hắn nói dối!
Mọi người cười ồ lên. Varlamov cầm tiền, cúi chào tôi rồi khom người chuồn mau khỏi trại, tìm cách đến chỗ bán rượu. Dường như bây giờ anh ta mới nhìn thấy Bulkin lần đầu tiên.
- Đi với tôi nào! - Varlamov nói khi dừng lại trước bậu cửa, tựa như thấy mình phải làm một cái gì đó cho Bulkin. - Đồ quỷ lùn! - Anh ta nói thêm giọng khinh bỉ và né người nhường đường cho anh chàng Bulkin đau khổ tiến lên trước, rồi mới cầm đàn balalaika gẩy lên tưng tưng...
Cái cảnh đời say tỉnh là như thế đấy! Cuối cùng cũng đã sắp qua một ngày ngột ngạt. Anh em tù nhân nặng nề chợp mắt trên giường. Trong giấc ngủ họ mê sảng nhiều hơn vào những đêm khác. Một đôi nơi anh em ngồi với bọn mai-đan. Ngày hội mà người ta mong đợi bao lâu đã trôi qua đi. Ngày mai lại đã là ngày thường, lại đi làm rồi...