Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII - YÊU SÁCH
VII YÊU SÁCH

❊ ❊ ❊

Khi bắt đầu chương này, người ấn hành tập bút ký của ông già quá cố Aleksandr Petrovich Goryanchikov cho rằng mình có nghĩa vụ phải thông báo đôi điều sau đây cho độc giả biết.

Chương đầu tập “Bút ký từ nhà chết” có nói chút ít về một người giết cha trong hàng ngũ quý tộc. Thế nhưng anh ta lại được coi là mẫu mực về vấn đề là đôi khi anh em tù nhân có thái độ thật là vô cảm khi nói đến những tội ác mà họ gây ra. Trong ấy cũng nói rằng đứng trước tòa án kẻ giết người không ý thức được tội lỗi của mình, nhưng cũng nói rằng khi nhìn nhận những câu chuyện của những người đã tỏ tường mọi chi tiết của câu chuyện, thì các sự kiện được thể hiện rõ ràng đến mức ta không thể không tin vào tội lỗi. Những con người ấy đã kể cho tác giả tập “Bút ký” rằng tội nhân là người có hành vi hết sức vô lối, sa vào nợ nần đến phải giết cha hòng chiếm đoạt tài sản sau khi ông chết. Tuy nhiên, cả cái thị trấn, nơi kẻ giết cha đã làm việc, đều kể câu chuyện y hệt như thế. Về sự kiện cuối cùng này người xuất bản tập “Bút ký” lại có những thông tin khá là chính xác. Cuối cùng, tập “Bút ký” nói rằng ở trong trại kẻ giết người vẫn có trạng thái tinh thần hết sức tuyệt vời, hết sức vui tươi, rằng đó là một con người ham bông đùa, sống lớt phớt, thiếu lý trí ở mức cao nhất, mặc dù anh ta hoàn toàn không phải ngu độn, và rằng tác giả của tập “Bút ký” đôi khi cũng không nhận ra rằng anh ta có thói bạo ngược kinh hồn. Và thế là có thêm mấy lời bổ sung “Hẳn là tôi cũng không tin vào tội lỗi ấy”.

Mới đây người xuất bản tập “Bút ký từ nhà chết” đã nhận được thông báo từ Sibir rằng tội nhân đã hoàn toàn có lý và suốt mười năm phải chịu đựng đau thương trong cảnh lao động khổ sai là điều vô nghĩa, rằng sự vô tội của anh đã được phát hiện một cách chính thức theo tòa án, rằng những tội nhân thật sự đã rất nhanh trí và đã nhận tội, và rằng kẻ bất hạnh đã được tha ra khỏi trại. Người xuất bản sách không thể nào nghi ngờ tính chính xác của thông tin này...

Bây giờ tôi không còn gì để kể thêm nữa. Chẳng còn gì để nói và để đào sâu thêm tính bi kịch trong câu chuyện đó, mở rộng thêm cuộc đời bị gậm nhấm từ lúc còn trẻ do lời buộc tội khủng khiếp như thế. Sự kiện ấy thật quá dễ hiểu, tự thân nó cũng thật quá kinh hoàng.

Chúng ta cũng nghĩ rằng, nếu sự kiện này là có thể có, thì chính cái khả năng có thể có ấy lại bổ sung thêm một nét mới mẻ và cực kỳ sáng tỏ cho việc đánh giá và hoàn chỉnh bức tranh Nhà Chết.

Bây giờ chúng ta lại tiếp tục.

Trên đây tôi đã nói rằng cuối cùng thì tôi cũng thích nghi được với tình cảnh của tôi trong trại. Nhưng cái gọi là “cuối cùng thì...” đã được hoàn tất một cách cực nhọc và cay đắng, một cách hết sức chậm chạp, từng chút một. Thực sự là tôi phải mất gần một năm trời cho việc thích nghi, và đó là một năm khó khăn nhất trong cuộc đời tôi. Có lẽ là tôi đã nhớ trình tự các sự việc từng ngày một của năm ròng ấy. Tôi cũng đã nói rằng những tù nhân khác không thể nào làm quen được với cuộc sống như vậy. Tôi còn nhớ trong năm đầu tiên này tôi thường suy ngẫm về mình: “Họ là thế nào? Chẳng lẽ họ cũng làm quen được sao? Chẳng lẽ họ bình thản thế ư?” Những câu hỏi ấy cứ day dứt tôi mãi. Tôi cũng đã nhắc lại một điều là anh em trại nhân sống ở đây dường như không phải ở nhà mình, mà là ở ngoài quán trọ, trong một đợt hành quân hay trong một chuyến áp giải nào đó. Những người bị đầy đi chung thân thì họ hoặc là lăng xăng hoặc là rầu rĩ và trong số họ ai cũng mơ tưởng một điều gì đó hầu như là không khả thi. Sự bất ổn thường xuyên ấy, hoặc là được nói ra miệng, hoặc là bị câm nín, nhưng ai cũng thấy được; tính hung hăng và nóng vội kỳ quặc của những niềm hy vọng bất chợt lộ ra ngoài miệng, thảy đều vô căn cứ đến độ chỉ là những lời thốt mộng mị, nhưng cái điều đáng kinh ngạc nhất, mà nhiều khi lại ăn sâu bắt rễ vào trong những bộ óc có vẻ như là thực tiễn nhất, lại khắc họa cái vẻ ngoài dị thường và cái tính cách dị thường của địa danh này, chúng dị thường đến mức có thể là chúng tạo ra cái bản sắc đặc biệt nhất của nó. Tôi có một cảm giác là lạ, dường như là ngay từ phút đến đây đầu tiên, là trại tù này không có cái bản sắc ấy. Nơi đây tất cả mọi người đều là những người mơ mộng, và điều ấy đập vào mắt tôi. Cảm giác ấy là cảm giác bệnh hoạn, chính là vì tính mơ mộng khiến đa số cư dân trại có dáng vẻ trầm uất và ủ dột, có vẻ yếu đuối thế nào ấy. Tuyệt đại đa số cư dân ở đây sống lặng lẽ và hay cáu bẳn đến độ hờn oán, họ không thích phô bày những niềm hy vọng của mình. Tính bình dị và bộc trực thì bị khinh ghét. Niềm hy vọng càng không khả thi bao nhiêu và kẻ mơ mộng càng cảm thấy tính không khả thi ấy là rõ ràng bao nhiêu, thì kẻ đó càng thiết tha ôm khư khư lấy nó trong tâm khảm mình bấy nhiêu, mà không sao có thể từ bỏ nó cho đành. Ai mà biết được, cũng có thể có một người nào đó thầm tự cảm thấy xấu hổ vì nó. Trong tính cách của người Nga có biết bao nhiêu nét tích cực và tỉnh táo trong con mắt của mình, có biết bao nhiêu nụ cười diễu cợt ngay trong nội tâm đối với chính bản thân mình. Có thể sự bất bình bị dấu kín thường xuyên đối với bản thân đã làm nảy sinh tính bất kiên nhẫn nơi những con người đó trong các mối quan hệ thường nhật với nhau, nảy sinh thói bất cam chịu và những nụ cười tiếu ngạo đối với nhau. Và nếu như, chẳng hạn, trong số họ bỗng nhiên nảy sinh ra một người nào đó ngây thơ hơn và bất kiên nhẫn hơn, và có một lúc nào đó anh ta nói to lên cái điều mà mọi người vẫn giấu kín trong đầu, anh ta dấn mình vào những ước mơ, hy vọng, thì lập tức người ta thô bạo bắt anh câm miệng, người ta cắt ngang lời anh, cười diễu anh, nhưng tôi phải thú thật rằng trong số những kẻ truy kích ấy thì những kẻ hùng hổ nhất có thể lại chính là những người dấn thân nhiều hơn anh ta trong thế giới ước mơ và hy vọng của mình. Tôi cũng đã kể rằng ở đây, nói chung, người ta nhìn những kẻ ngây thơ và giản dị như những tên ngốc nghếch thô lỗ bậc nhất và luôn tỏ thái độ khinh bỉ đối với họ. Người nào cũng cau có và tự ái đến mức họ bắt đầu khinh bỉ cả người tốt bụng và không biết tự ái là gì. Ngoại trừ có những kẻ ngây thơ và giản dị nhưng lại khoác lác, những người còn lại, tức là những người sống thầm lặng, thì được chia hẳn ra thành những người tốt bụng và hung dữ và những kẻ trầm uất và trong sáng. Những người trầm uất và hung dữ thì có số lượng nhiều hơn rất nhiều; nếu như trong số này ta lại gặp những người có tố chất nói nhiều, thì tất cả bọn họ đều là những kẻ ngồi lê đôi mách không đâu nóng đít và những kẻ ganh tị ngồi đứng không yên. Họ thò mũi vào công việc của những người khác, mặc dù họ không bao giờ thổ lộ cho ai biết những điều tâm sự, những chuyện riêng tư thầm kín của mình. Thổ lộ như thế là không đúng mốt, là không chấp nhận được. Những người tốt bụng là một nhóm rất nhỏ. Họ trầm lặng, nín thinh, cất dấu trong lòng những hoài vọng, và có lẽ họ còn hướng tới hy vọng và niềm tin mạnh mẽ hơn cả những người trầm uất. Tuy nhiên, tôi phải thú nhận rằng trong trại còn có thêm một bộ phận gồm những người tuyệt vọng. Chẳng hạn như ông già ở Starodubski; trong mọi trường hợp thì số người này ít lắm. Nhìn bên ngoài ông già thật bình thản (trước đây tôi đã nói về ông rồi), nhưng theo một số dấu hiệu thì tôi cho rằng trạng thái tình cảm của ông thật là khủng khiếp. Tuy thế, ông có cách giải cứu riêng, có lối thoát riêng: đó là cầu kinh và suy ngẫm về khổ nạn. Một trại nhân phát điên, đã đọc quá nhiều Kinh thánh, người mà tôi đã nhắc đến, cái người đã cầm viên gạch lao vào tên thiếu tá, con người này cũng thuộc hạng tuyệt vọng, thuộc loại người đã mất cả niềm hy vọng cuối cùng; thế nhưng sống mà lại hoàn toàn không có hy vọng thì không sống được, cho nên anh ta mới nghĩ ra một lối thoát: đó là cách chịu khổ nạn tự nguyện và gần như tự tạo. Anh giải thích rằng anh lao vào tên thiếu tá nhưng không có oán giận gì cả, mà chỉ vì lý do duy nhất là muốn chấp nhận khổ nạn. Ai biết được có quá trình tâm lý nào diễn ra trong lòng anh ta khi đó! Không có mục tiêu gì và không có hoài vọng đạt tới mục tiêu thì không một người nào có thể sống được. Khi đã mất mục tiêu và hy vọng, con người ta vì buồn chán thường lao vào những chuyện kinh hoàng... Mục đích của chúng tôi là tự do và thoát khỏi trại tù khổ sai.

Tuy nhiên, giờ đây tôi đang ráng sức phân loại cả trại thành các thứ hạng khác nhau, nhưng liệu có làm được không? Thực tiễn thì đa dạng đến vô cùng so với tất cả những kết luận cho dù là khôn ngoan nhất của tư duy trừu tượng và nó không thể chịu đựng được những sự phân định rạch ròi lớn lao. Thực tiễn chỉ hướng tới sự phân nhỏ. Cuộc sống tự thân nó là đặc biệt cũng đã có ở chỗ chúng tôi, dù nó là thế nào đi nữa, nhưng cũng đã có, đó không phải là một cuộc sống chính thống, mà là cuộc sống nội tâm, tự thân của mình.

Nhưng, như tôi đã nhắc đến một phần nào đó, thời gian đầu đến trại tôi không thể, thậm chí là không biết cách thẩm thấu vào phần sâu thẳm bên trong cuộc sống ấy, mà vì thế tất cả những biểu hiện bên ngoài của nó cứ hành hạ tôi với một nỗi buồn không diễn tả nổi. Đôi khi, thật đơn giản, tôi bắt đầu căm ghét những con người khổ đau như tôi. Thậm chí tôi còn ghen tị với họ và lên án số phận. Tôi ghen tị với họ ở chỗ họ vẫn còn được sống giữa những người anh em với nhau, trong tình bạn bè, hiểu được nhau, mặc dù thực ra là họ cũng như tôi, tất cả đều đã chán ngấy và ghê tởm cái tình bạn bè nảy sinh dưới roi vọt và gậy gộc, đó là một ổ dịch bạo lực, và ở đây ai cũng lẳng lặng nhìn sang một phía, tránh mắt mọi người. Tôi xin nhắc lại một lần nữa, cái thói ghen tị vẫn chế ngự tôi vào những phút giận dữ là có cơ sở pháp lý của nó. Quả thật là có những người rất vô lý khi họ nói rằng một nhà quý tộc có trình độ văn hóa mà đi tù khổ sai vào trại của chúng tôi thì cũng đau khổ hoàn toàn giống như bất kể một người nông phu nào khác. Tôi biết, thời gian gần đây tôi đã nghe nói về ước đoán đó, tôi cũng đã đọc được như vậy. Cơ sở của tư tưởng này là đúng và là nhân đạo. Tất cả chúng ta đều là con người. Nhưng tư tưởng thì lại vô cùng trừu tượng. Chúng ta đã bỏ qua rất nhiều những điều kiện thực tiễn mà ta có thể hiểu được không khác gì như chính trong thực tiễn. Tôi nói thế bởi vì rằng nhà quý tộc và người có học vấn dường như cảm thấy một cách tinh tế hơn, đau đớn hơn rằng họ được phát triển nhiều hơn. Tâm hồn và sự phát triển tâm hồn thì khó có thể đưa vào một cấp độ cho sẵn nào đó. Thậm chí trong trường hợp này ngay cả học vấn cũng không phải là thước đo. Tôi là người đầu tiên sẵn sàng xác nhận rằng ngay trong lớp người thiếu học vấn nhất và bị đè nén nhiều nhất thì giữa những con người đau khổ ấy tôi vẫn bắt gặp những nét của sự phát triển tâm hồn tinh tế nhất. Trong trại đôi khi cũng có chuyện như là ta biết một người nào đó mấy năm liền và ta coi người đó như một dã thú, chứ đâu phải con người, rồi ta thấy khinh bỉ. Nhưng bỗng nhiên bất ngờ có một phút mà tâm hồn người đó sau một cơn xúc động tự nhiên lại tự bộc lộ ra ngoài và bạn nhìn thấy trong đó có cả một kho báu, một nguồn tình cảm, một trái tim, một cách thông cảm thoáng đạt đối với nỗi đau của chính mình và của người khác, đến nỗi như chính mắt bạn được mở rộng ra, và ngay phút đầu tiên thậm chí bạn không tin rằng chính bạn đã được nhìn thấy và được trông thấy. Lại cũng có trường hợp ngược lại: học vấn lại chung sống với thói dã man, đê tiện, đến nỗi bạn thấy tởm lợm và cho dù bạn có tốt bụng đến đâu và có định kiến tốt đến mấy đi nữa, thì trái tim bạn cũng thấy không thể tha thứ và nhận cảm được.

Tôi cũng đã không nói gì về việc thay đổi thói quen, lối sống, cách ăn v.v... những điều mà đối với một người thuộc lớp trên của xã hội tất nhiên là nặng nề hơn là đối với một người cày cuốc, con người mà lúc còn tự do thì đói bụng dài dài, còn khi vào tù thì ít nhất cũng được ăn no đủ. Tôi sẽ không tranh luận chuyện này. Ta cứ cho rằng con người dù phần nào có ý chí mạnh mẽ thì tất cả những cái đó cũng là chuyện tầm phào so với những điều thiếu thốn khác, mặc dù thực chất thì sự thay đổi thói quen hoàn toàn không phải là chuyện tầm phào và không phải là chuyện cuối cùng. Thế nhưng lại có những điều thiếu thốn đánh bạt tất cả những điều nói trên, đến mức bạn không để ý gì đến cả nơi tù đày bẩn thỉu, đến xiềng xích chân tay, đến bữa cơm đơn bạc, lúi xùi. Một người ăn trắng mặc trơn nhất, ẻo lả thướt tha nhất, làm việc một ngày là đã toát mồ hôi hột, mà lúc còn tự do chưa phải làm thế bao giờ, thì sẽ ăn được cả bánh mỳ đen và cả canh bắp cải có xác gián chết. Con người có thể quen được với cuộc sống đó, cũng giống như trong một bài hát hài hước của tù nhân về một kẻ quần là áo lượt trước đây, nay bị sa chân tù tội:

Cứ cho tôi bắp cải và ca nước lã

Tôi sẽ nhai ngấu nghiến cho xem.

Không, có một điều quan trọng hơn hết, đó là bất kỳ ai trong số những người mới vào trại chỉ sau hai tiếng đồng hồ là sẽ trở thành giống y như những người khác, sẽ sống như tại nhà mình, sẽ là một chủ nhà đầy đủ tư cách trong tập đoàn lao trại như bất kỳ ai. Mọi người hiểu anh ta và anh ta cũng hiểu mọi người. Mọi người biết anh và coi anh là người mình. Nhưng với một người quân tử, một nhà quý tộc thì không phải như vậy. Dù người đó có công bằng, tốt bụng, thông minh đến mấy, thì suốt nhiều năm ròng rã người đó vẫn bị mọi người, bị cả một khối người căm ghét và khinh bỉ. Không ai hiểu người đó, và điều chủ yếu là không tin người đó. Người đó không phải là bạn, là đồng chí, mặc dầu qua nhiều năm tháng, cuối cùng người đó cũng đạt được yêu cầu là người ta không xúc phạm đến, nhưng dẫu sao người đó cũng không phải là “người mình” và người đó sẽ suốt đời ý thức một cách đầy dằn vặt sự lạc loài và cô đơn của mình. Sự lạc loài này hiển hiện đôi khi hoàn toàn không phải vì có sự bực dọc từ phía anh em trại nhân, mà cứ là vô thức thế thôi. Không phải người mình, thế đấy. Không có gì khủng khiếp hơn là phải sống không cùng một giới. Một anh nông dân chuyển từ Taganrog đến cảng Petropavlovsk thì ngay lập tức tìm được ở đó một người nông dân như thế, hệt như nông dân Nga, ngay lập tức nói chuyện được với nhau, nhân nhượng nhau, và chỉ sau hai tiếng đồng hồ là họ đã có thể sống một cách yên lành nhất với nhau trong một ngôi nhà gỗ hoặc dưới cùng một mái lều. Đối với những người cao quý thì lại không thế. Giữa họ và những người bình dân là một hố sâu ngăn cách, và người ta chỉ hoàn toàn nhận ra điều đó, khi bản thân con người cao quý bỗng nhiên phải chịu một mãnh lực ngoại cảnh mà thực sự mất đi những quyền lợi trước đây của mình và phải biến thành thường dân. Nếu không thế thì dù suốt đời bạn gặp gỡ thường dân, dù bốn mươi năm liền ngày nào bạn cũng tiếp xúc với họ trong công việc, chẳng hạn, khi mọi người mặc đồng phục công sở, hoặc thậm chí là trong quan hệ thân thiện, dưới dạng một nhà cứu tế, và trong một ý nghĩa nào đó, là một đức cha, - thì bạn cũng không bao giờ nhận ra được bản chất vấn đề. Tất cả sẽ chỉ là sự lừa dối con mắt, không hơn không kém. Chính tôi biết rằng mọi người, chắc chắn là tất cả mọi người, khi đọc đến nhận định này của tôi, đều bảo rằng tôi đang thổi phồng sự việc. Nhưng tôi xin khẳng định rằng như thế là đúng. Tôi khẳng định không phải theo lối sách vở, theo dòng tư biện, mà là có thực tiễn, và tôi đã có khá nhiều thời gian để kiểm chứng những khẳng định đó. Có thể sau này mọi người sẽ biết rằng chúng chính xác đến là nhường nào...

Ngay từ bước đầu các sự kiện ấy như cố ý khẳng định cho những quan sát của tôi và đã tác động đến tôi một cách thật tiêu cực và thật căng thẳng. Mùa hè đầu tiên tôi lang thang khắp trại hầu như chỉ có một mình đơn độc. Tôi đã nói rằng lúc đó trạng thái tinh thần của tôi đã ở mức độ tôi không còn có thể đánh giá được và phân biệt được trong số anh em khổ sai thì ai là người có thể yêu mến tôi, những người về sau này vẫn yêu mến tôi, mặc dù họ chẳng bao giờ đi sánh bước cùng tôi. Trong số các nhà quý tộc cũng có người là đồng chí của tôi, nhưng cái tình đồng chí ấy lại chưa bao giờ làm tôi trút được gánh nặng tâm hồn. Tôi muốn không trông cậy vào đâu, nhưng cũng chẳng có chỗ nào mà chạy. Thế nhưng tôi cũng có được một trong những trường hợp, mà ngay từ đầu đã cho tôi hiểu được tình thế lạc loài của tôi và đặc điểm hoàn cảnh của tôi trong trại.

Một hôm, ấy là vào dịp hè, lúc đó đã sắp tháng Tám, vào một ngày thường rực rỡ và nóng nực, lúc một giờ trưa, lẽ ra theo thói quen thì mọi người đã nằm nghỉ trước khi vào công việc buổi chiều, thì bỗng nhiên có lệnh dựng toàn trại trở dậy ra sân xếp hàng. Trước phút giây đó tôi không hề biết có chuyện gì cả. Lúc ấy là lúc tôi đang chìm đắm trong những suy tư cá nhân, đến nỗi hầu như tôi chẳng để ý gì đến xung quanh. Thế mà đã ba hôm nay cả trại xôn xao nín thở. Sau này tôi mới suy nghĩ và mới ngộ ra đôi điều gì đó qua những câu chuyện của anh em trại nhân, qua thói gây gổ đột biến của anh em, qua vẻ trầm uất và đặc biệt là qua trạng thái cáu bẳn của họ vào những ngày cuối, thì có thể mọi người đã xôn xao từ trước đó nữa. Tôi cứ đổ riệt tình trạng này cho công việc nặng nhọc, cho những ngày hè đằng đẵng buồn chán, cho những ước mơ chợt đến về cuộc sống rừng xanh và về bầu trời tự do phóng khoáng, tôi còn đổ cho những đêm ngắn ngủi, ngủ không đã mắt. Có thể giờ đây tất cả những thứ đó hòa trộn với nhau thành một cao trào, nhưng cái nguyên cớ của nó lại là thức ăn. Mấy ngày gần đây mọi người bực tức, làm ầm lên trong các lán trại, và đặc biệt là khi vào bếp ăn trưa, ăn tối, họ bực bội về các món ăn, thậm chí còn đòi đổi món, nhưng rồi lập tức lại gạt món mới này để đòi lại món cũ. Tóm lại, mọi người đang trong một tâm trạng bất an thế nào đó.

- Công việc thì nặng nề, mà họ cho ăn bryushina[1]. - Có những người lầu bầu trong bếp.

- Nếu không thích thì gọi món blamanzhe[2] mà ăn. - Một người khác đế vào.

- Này các anh em, canh bắp cải mà có thêm bryushina là tôi thích lắm đấy. Ngon đáo để. - Người thứ ba tham gia.

- Lúc nào cũng ăn bryushina thì ông có chịu được không?

- Tất nhiên, bây giờ là mùa thịt, - người thứ tư nói, - suốt ngày quần quật ngoài xưởng, đói thấy mẹ, ăn bryushina là hay lắm rồi!

- Nếu không thích bryushina thì ăn thịt bọ[3].

- Có thêm thịt bọ nữa thì càng tốt. Bryushina và thịt bọ, người ta chỉ cho một thứ thôi. Ăn với chả uống! Có phải thật thế không nhỉ?

- Đúng thế, ăn uống tồi thật.

- Cái bụng như cái túi, nhét đầy là được.

- Có phải việc của anh đâu mà nghĩ.

- Thế thì việc của ai? Cái bụng là của tôi. Mọi người đều phải có yêu sách, phải có hành động.

- Yêu sách?

- Đúng rồi.

- Vì yêu sách anh bị đòn còn ít đấy. Thôi đi!

- Đúng rồi, - một người khác, từ nãy lặng thinh, làu bàu nói thêm vào. - Chẳng có gì phải bàn cãi cả. Nếu anh muốn nói về yêu sách, thì anh là người nói đầu tiên đấy nhé, anh có dám không?

- Tôi nói chứ sao. Nếu mọi người cùng đi, thì tôi sẽ cùng nói với mọi người. Có nghĩa là nghèo khổ ấy mà. Ở đây có người ăn thức ăn riêng của mình, lại có người phải ăn cơm chung.

- Chà, ghen tị quá đấy thôi. Thấy của người khác là sáng mắt.

- Thấy mẩu bánh của người ta thì đừng há cái miệng ra, phải chịu khó dậy sớm, việc mình mình làm.

- Việc mình mình làm!... Trong chuyện này tôi sẽ còn tranh luận với anh đến lúc đầu bạc. Có nghĩa, nếu anh thích khoanh tay ngồi chơi tức là anh là kẻ giầu có?

- Giàu thì phải là Eroshka, anh ta có cả chó cả mèo.

- Đúng rồi đấy, anh em ạ! Ngồi chơi thế nào được! Bắt chước những thói hư của người khác thế là đủ rồi. Người ta sẽ lột da mình ra. Liệu mình được cái gì?

- Được cái gì! Cứ ngồi đấy chờ người ta nhai sẵn rồi mớm vào mồm cho nhé; quen ăn sẵn rồi chứ gì. Thế nghĩa là đi tù khổ sai. Đấy, được cái gì đấy!

- Hóa ra là, lạy Chúa, phải làm sao để đục nước béo cò.

- Đúng thế, con bạch tuộc đã béo đẫy ra.

- Thế đấy, và lại không thích uống rượu.

- Mới đây có vụ đánh nhau với anh thú y vì chuyện cờ bạc.

- Bọn ấy đánh bài suốt đêm. Anh bạn chúng ta đánh nhau suốt hai tiếng đồng hồ. Fedka nói thế.

- Chính vì thế mới có canh thịt bọ.

- Chà! Các anh ngốc thật! Thế nhưng họ cũng không rời chỗ đâu.

- Thế mà mọi người phải ra. Để rồi xem, anh ấy thanh minh thế nào. Vẫn cái kiểu nói ấy thôi.

- Thanh minh! Anh ấy cũng cân sức với anh đấy, và tính cách cũng thế.

- Và lại còn sắp phải ra tòa nữa...

Tóm lại, mọi người đều đã nôn nóng. Đúng lúc đó thì chúng tôi lại có một bữa ăn tồi tệ. Thế là tất cả dồn vào một mối. Nhưng điều chủ yếu là ai cũng có tâm trạng buồn chán, có nỗi đau khổ tiềm ẩn bao ngày. Người tù khổ sai có tính gây gổ, có tính trầm ngâm là tùy theo bản tính của họ; nhưng họ cùng nhau đứng dậy như thế này hoặc họp nhau thành nhóm lớn là điều hiếm thấy lắm. Nguyên nhân bao giờ cũng là bất đồng chính kiến. Điều này bất kỳ ai trong số họ cũng cảm thấy. Chính vì thế ở đây người ta chửi bới nhau nhiều hơn làm việc. Tuy nhiên lần này cuộc chấn động không phải vô ích. Đầu tiên mọi người họp thành từng nhóm, bàn bạc nhau theo từng lán trại, cãi cọ nhau, cùng nhau nhắc lại một cách giận dữ toàn bộ cách quản lý điều hành của tên thiếu tá, kể ra mọi chuyện đầu cua tai nheo. Có mấy người đặc biệt nóng nảy. Trong mọi công chuyện như thế này bao giờ cũng có những người khởi xướng[4]. Những người khởi xướng trong trường hợp này, tức là trong trường hợp có yêu sách, là những người thật tuyệt vời, và không phải chỉ là trong một lán, mà là trong toàn trại, trong tất cả các đội... Đó là một típ người đặc biệt, ở đâu họ cũng giống nhau. Đó là những người sôi nổi, khát khao công lý, sống rất vô tư, ngay thẳng với niềm tin kiên định rằng công lý có khả năng được thực hiện chắc chắn, bất di bất dịch, và chủ yếu là ngay lập tức. Những người này không ngu dại hơn những người khác, thậm chí trong số họ có những người còn rất thông minh là khác, nhưng họ lại quá nóng vội, đến nỗi không còn khôn ngoan và tỉnh táo. Trong những trường hợp này nếu có những người biết khéo léo chèo lái đám đông và tranh thủ thời cơ, thì họ đã là một loại thủ lĩnh nhân dân khác, một loại tù trưởng thật sự, một loại người cực kỳ quý hiếm. Nhưng những người mà giờ đây tôi đang nói tới, là những người khởi xướng các yêu sách, những người hầu như bao giờ cũng thua cuộc, để rồi sau đó lại cư ngụ trong các trại tù khổ sai. Sau những giờ phút nóng vội của mình họ đã thua cuộc, nhưng qua đó họ lại có ảnh hưởng đến đám đông kia. Tất nhiên, người ta sẵn lòng theo họ. Nhiệt huyết và cơn giận dữ chính đáng của họ tác động đến mọi người, và cuối cùng, cả những người chần chừ, do dự cũng đứng về phía họ. Lòng tin chiến thắng mù quáng của họ đã mê hoặc được thậm chí cả những kẻ hoài nghi thâm căn cố đế, mặc dầu đôi khi lòng tin tưởng ấy có những cơ sở lung lay và ấu trĩ, đến nỗi ta phải đứng ngoài mà ngạc nhiên, làm sao người ta lại đi theo họ cho được. Nhưng điều chủ yếu là họ cứ đi đầu, không hề sợ hãi gì cả. Họ giống như những con bò tót, cứ cúi đầu lao sừng vào địch, và thường là không hiểu biết tình thế, không thận trọng, không có cái khả năng tráo trở thực tiễn, mà nhiều khi ngay cả một tên khốn nạn và nhơ nhuốc, nếu biết dùng đến thì cũng thắng cuộc, vẫn đạt mục tiêu và vẫn thoát hiểm. Còn họ thì thế nào cũng bị gãy sừng. Trong cuộc sống hàng ngày đó là những người hay cáu bẳn, hay càu nhàu, hay nổi nóng và kém chịu đựng. Thường thường họ là những người thiển cận đến kinh khủng, nhưng cái đó phần nào cũng lại tạo ra sức mạnh của họ. Điều đáng tiếc nhất ở họ là thay vì cho mục đích trực tiếp họ lại thường lao sang phía bên, thay vì cho công việc chủ yếu họ lại sa vào chuyện vặt. Chính cái đó đã làm hại họ. Nhưng họ lại là dễ hiểu đối với đám đông, và đấy chính là sức mạnh của họ... Tuy nhiên, cũng phải nói thêm đôi câu rằng thế nào gọi là yêu sách? . . . .

Trong trại của chúng tôi có mấy người như thế, những người đến đây vì yêu sách. Họ là những người nôn nóng nhất. Đặc biệt một người tên là Martynov, trước đây thuộc lính kỵ binh, một người nóng nảy, bất ổn, đa nghi, thế nhưng lại nghiêm túc, thật thà. Một người nữa tên là Vasili Antonov, có vẻ hay nổi nóng lạnh lùng, có cái nhìn dữ tợn, có nụ cười diễu đùa, cao ngạo, có đầu óc rất phát triển, tuy nhiên lại là người rất trung thực và thật thà, những người như thế nhiều lắm, kể ra không hết. Petrov thường đi lại khắp nơi, nghe ngóng mọi nhóm người, ít nói, nhưng rõ ràng anh đang trong cơn xúc động và là người đầu tiên nhảy ra khỏi lán lúc bắt đầu xếp hàng.

Tên hạ sĩ quan của chúng tôi, người đang thực thi quyền hạn của thượng sĩ, cũng ngay lập tức hoảng sợ bước ra. Xếp hàng xong, mọi người lịch sự yêu cầu hắn nói với tên thiếu tá rằng toàn trại muốn nói chuyện với ông ta và có yêu cầu riêng với ông ta về một vài điểm. Tiếp theo sau tên hạ sĩ, tất cả thương bệnh binh cũng bước ra xếp hàng ở bên phía đối diện với cả trại. Nhiệm vụ mà anh em giao cho tên hạ sĩ là hết sức đặc biệt, khiến hắn hoảng sợ. Nhưng hắn cũng không dám không báo cáo ngay với thiếu tá. Thứ nhất, nếu như toàn trại đã đứng dậy thì có thể xảy ra một chuyện gì đó tồi tệ hơn nữa. Tất cả bọn quản trại của chúng tôi có vẻ như là rất hèn nhát. Thứ hai, giả sử như cũng không có gì xảy ra, mọi người nghĩ lại và giải tán đi, thì như thế tên hạ sĩ cũng vẫn phải báo cáo ngay lập tức mọi chuyện xảy ra với cấp trên. Mặt tái mét và chân tay run rảy vì sợ, hắn lập cập đi gặp thiếu tá, thậm chí hắn còn không dám tự mình hỏi chuyện và nắm tình hình tù nhân nữa. Hắn đã thấy rằng bây giờ anh em tù nhân không thèm nói chuyện với hắn.

Tôi hoàn toàn không biết gì cả, nhưng cũng ra xếp hàng. Mọi chi tiết sau này tôi mới biết. Lúc bấy giờ tôi chỉ nghĩ rằng có chuyện gì cần phải kiểm tra, nhưng tôi lại không nhìn thấy bọn đi tuần, vốn là bọn hay kiểm tra, nên tôi ngạc nhiên và nhìn quanh. Mặt mọi người thật xúc động và căng thẳng. Một số người mặt còn tái đi. Nói chung là mọi người đang bị ức chế và đang nín lặng chờ đợi xem quân ta sẽ ăn nói thế nào trước tên thiếu tá. Tôi để ý thấy nhiều người nhìn tôi với vẻ hết sức kinh ngạc, nhưng rồi lại lặng lẽ quay mặt đi. Chắc họ lấy làm lạ rằng tôi cũng xếp hàng với họ. Rõ ràng là họ không tin rằng tôi cũng có yêu sách. Tuy nhiên, hầu như tất cả những người đứng ở xung quanh tôi đều đã quay trở lại với tôi. Mọi người nhìn tôi dò hỏi.

- Anh ra đây làm gì? - anh Vasili Antonov lớn tiếng hỏi tôi, giọng thô thiển. Anh đứng hơi xa chỗ tôi, từ trước tới giờ anh vẫn gọi tôi là ông và đối xử với tôi thật lễ độ.

Tôi tròn mắt nhìn anh ta, cố gắng hiểu câu nói kia có nghĩa gì, và tôi đã lờ mờ đoán ra rằng sắp có một chuyện gì đó đặc biệt.

- Ông đứng đây làm cái gì? Ông vào lán đi. - Một anh thanh niên lên tiếng. Anh này trước là lính, nói chung là tôi chưa quen, anh là người tốt tính và trầm lặng. - Đây không phải là chuyện của ông.

- Nhưng mọi người xếp hàng cả, - tôi đáp, - tôi nghĩ rằng có kiểm tra.

- Thế mà ông ấy cũng ra. - Một người nói to.

- Một mũi tên sắt, - một người khác nói.

- Bọn đập ruồi! - người thứ ba nói với giọng khinh bỉ không thể tả nổi. Cái hỗn danh mới này khiến mọi người ôm bụng cười.

- Tình thương là ở nơi bếp núc, - một người nữa nói thêm.

- Bọn chúng thì ở đâu cũng có thiên đàng. Đây là chốn khổ sai, mà chúng thì được ăn bánh mỳ và được mua thịt lợn con. Còn anh thì phải ăn những gì anh có; anh can thiệp vào đây làm gì.

- Đây không phải chỗ của anh. - Kulikov vừa nói vừa lảo đảo đi đến chỗ tôi, rồi nắm tay tôi lôi ra khỏi hàng.

Bản thân anh ta cũng mặt mày nhợt nhạt, đôi mắt màu đen quắc lên, môi dưới mím chặt. Anh không thể bình tĩnh chờ đợi tên thiếu tá. Tôi phải nói thêm rằng tôi cực kỳ thích được ngắm nhìn Kulikov trong tất cả những lúc như thế này, tức là những lúc đòi hỏi anh phải thể hiện được bản thân mình. Trông anh thật đáng sợ, nhưng anh đã làm đúng việc của mình. Tôi cảm thấy như anh sẵn sàng bước ra đoạn đầu đài với đôi chút kênh kiệu và đỏm dáng. Bây giờ, khi mọi người đã gọi tôi bằng anh và mắng mỏ tôi, thì rõ ràng anh lại cố tình nhân đôi mức lễ độ đối với tôi, đồng thời lời nói của anh cũng có vẻ kiên định đặc biệt, thậm chí còn là ngạo mạn, bất chấp mọi thái độ phản đối.

- Ở đây chúng tôi sẽ nói về chuyện chúng tôi, thưa ông Aleksandr Petrovich. Còn ông ở đây không có việc gì phải làm cả. Ông cứ đi đâu thì đi và cứ chờ đấy... Các bạn ông đã ở trong bếp rồi. Ông vào đấy đi.

- Ông hãy đến chỗ cây cột thứ chín, nơi có anh chàng Antipka - Một người nào đó chêm vào.

Quả nhiên qua ô cửa sổ kéo lên một nửa tôi nhìn thấy anh em Ba Lan, tuy nhiên tôi còn thấy nhiều người khác nữa. Lòng thấy nặng nề, tôi bước vào bếp. Những tiếng cười nói, mắng chửi và tắc lưỡi (tù khổ sai dùng thay cho huýt sáo) vang lên sau lưng tôi.

- Chúng tôi không hài lòng!... tắc-tắc-tắc! Bắt lấy nó!...

Cho đến bây giờ trong nhà tù khổ sai tôi chưa bao giờ bị lăng nhục, và lần này tôi thấy thật là nặng nề. Nhưng tôi đã rơi vào giờ phút như thế. Ở phòng ngoài nhà bếp tôi gặp ông T., một nhà quý tộc, một người còn trẻ, cứng rắn và độ lượng, học vấn không nhiều, nhưng rất yêu B. Anh em khổ sai xếp ông vào hạng riêng và có phần yêu mến ông. Ông là người can đảm, dũng cảm và mạnh mẽ, những tính cách đó được thể hiện trong từng động tác của ông.

- Chào ông, ông Goryanchikov, - ông ta gọi to, - ông lại đây với tôi!

- Này, đằng kia có gì thế nhỉ?

- Họ đưa ra yêu sách đấy, chẳng lẽ ông không biết sao? Chắc là họ không thành công: ai mà lại đi tin tù khổ sai? Chúng sẽ tìm được những người đầu trò, và nếu như chúng ta có mặt ở đó, thì chắc chắn chúng ta sẽ là những người đầu tiên bị buộc vào tội nổi loạn. Ông có nhớ vì sao chúng ta phải vào đây không? Đơn giản là có người đụng đến chúng và chúng ta ra tòa. Tên thiếu tá thù ghét mọi người chúng ta và làm hại được chúng ta thì hắn rất khoái. Hắn sẽ lấy chúng ta ra làm vật thanh minh.

- Còn tù khổ sai thì lấy đầu đảm bảo tố giác chúng ta, - ông M. nói thêm, khi chúng tôi vào hẳn trong bếp.

- Không phải lo lắng gì cả, họ không thương xót gì đâu! - ông T. bổ sung.

Trong bếp, ngoài nhóm quý tộc, còn rất đông nữa, phải đến ba mươi người. Tất cả đều ở lại trong bếp, không muốn yêu sách. Một số người là vì nhút nhát, một số người quả quyết tin rằng yêu sách rồi cũng vô ích. Ở đây có cả ông Akim Akimych là kẻ thù số một, kẻ thù thâm căn cố đế của các loại yêu sách, vì chúng ngăn cản dòng chảy tự nhiên của công việc và đạo lý. Ông lặng lẽ và hết sức bình tĩnh chờ đợi kết thúc công chuyện, không hề lo lắng gì về kết cục của nó, ngược lại, ông hoàn toàn tin tưởng vào chiến thắng không gì ngăn cản được của trật tự và ý chí của thượng cấp. Ở đây có cả anh Isai Fomich. Anh đứng yên nghe ngóng hết sức ngơ ngác, say sưa và rụt rè theo dõi câu chuyện của chúng tôi. Anh tỏ vẻ lo âu nhiều. Ở đây có đủ mặt những người Ba Lan xuất thân bình dân, nhưng cũng gắn kết với các nhà quý tộc. Cũng có cả một số người Nga dè dặt, những người lúc nào cũng lặng lẽ và khiếp sợ. Đi với những người kia thì họ không dám, nên cứ buồn rầu chờ xem câu chuyện kết thúc ra sao. Cuối cùng, cũng có cả một số tù nhân cau có và nghiêm nghị, những người không phải là rụt rè. Họ ở lại đây vì một niềm xác tín bướng bỉnh và kinh tởm, cho rằng tất cả những cái đó là chuyện tầm phào, và ngoài cái kết quả tồi tệ ra thì nó chẳng được tích sự gì cả. Nhưng tôi có cảm giác rằng dù sao đi nữa thì bây giờ họ cũng cảm thấy mình có chút gì đó không được khéo léo, nhìn nhận sự việc không hoàn toàn tự tin. Mặc dù họ cũng đã hiểu rằng về việc yêu sách họ hoàn toàn đúng đắn, điều đó sau này đã được khẳng định, song họ cũng ý thức được rằng họ là những kẻ ly khai, bỏ rơi cộng đồng, giống hệt như việc bán rẻ đồng đội cho tên thiếu tá. Có mặt ở đây còn có Elkin, người nông dân Sibir khôn ngoan nhất, bị vào trại vì tội bạc giả và đã học được nghề thực hành thú y của Kulikov. Ông già người Starodub cũng ở đây. Tất cả những người nấu ăn cũng đều nhất loạt ở lại trong bếp, chắc chắn vì họ tin rằng họ là một bộ phận của cơ quan hành chính, suy ra, nếu họ chống lại chính cơ quan đó thì thật khiếm nhã.

Tôi thận trọng quay về phía ông M. và bắt đầu nói:

- Tuy nhiên, ngoại trừ những người này ra thì hầu hết những người khác đều đã ra sân.

- Vậy chúng ta thì sao? - anh B. ấp úng.

- Nếu chúng ta ra sân thì chúng ta phiêu lưu hơn họ đến một trăm lần. Je haïs ces brigants[5]. Và chẳng lẽ chỉ trong một phút các ông lại nghĩ rằng yêu sách của họ sẽ được chấp nhận hay sao? Sao các ông lại lao đầu vào cái chuyện vớ vẩn ấy nhỉ?

- Chẳng có kết quả gì đâu. - một ông già bướng bỉnh và nóng nảy Almazov, cũng có mặt ở đây, đế thêm vào để trả lời.

- Ngoài việc dăm chục người bị roi vọt thì chẳng được việc gì cả.

- Tên thiếu tá đến rồi kìa! - có người kêu lên, và mọi người hối hả lao ra chỗ các cửa sổ.

Tên thiếu tá sồng sộc đi vào vẻ dữ tợn, hăng máu, mặt đỏ gay, mắt đeo kính. Hắn lặng lẽ nhưng quyết liệt bước đến gần hàng người. Trong những trường hợp như thế này hắn quả là dũng cảm và không chịu để mất khí thế. Tuy nhiên, lúc nào hắn cũng gần như say xỉn nửa phần người. Thậm chí cái mũ cát-két bẩn thỉu có đường viền màu da cam và cặp ngù vai cáu ghét của hắn trong giờ phút này lại có vẻ gì đó dữ dội. Theo sau hắn là tên thư lại Dyatlov, một nhân vật cực kỳ quan trọng, điều hành mọi công việc trong trại, thậm chí có ảnh hưởng đến cả tên thiếu tá, là một con người rất khôn ngoan, rất bản lĩnh, nhưng cũng là con người không phải hư hỏng. Các trại nhân đều hài lòng với anh ta. Theo sau anh này là tên hạ sĩ, rõ ràng hắn đã bị một trận quát mắng lôi đình, và đang chờ đợi một hình phạt gấp mười lần hơn thế. Theo sau hắn ta là đoàn áp giải, có ba bốn người, không hơn. Anh em tù nhân đứng không đội mũ, hình như là từ lúc cử người đi gọi thiếu tá, bây giờ mọi người đứng thẳng, quần áo chỉnh tề, ai cũng đứng đổi chân, rồi sau đó đứng im tại chỗ, chờ đợi thượng cấp nói lời đầu tiên, hoặc nói đúng hơn, là tiếng quát đầu tiên.

Ngay sau khi nói được vài chữ, tên thiếu tá bắt đầu gào lên, thậm chí là rít lên: hắn đã điên cuồng lắm rồi. Qua các cửa sổ chúng tôi nhìn thấy rõ hắn chạy ngang trước mặt đoàn người, xáp vào người này người kia rồi hỏi vặn vẹo. Tuy nhiên, vì đứng ở xa nên chúng tôi không nghe thấy được các câu hỏi và các câu đáp. Chúng tôi chỉ nghe thấy hắn quát rít lên:

- Quân bạo loạn! Bọn chủ mưu, bước ra đây mau! Mày là chủ mưu! Mày là chủ mưu! - Hắn lao vào chỗ một người nào đó.

Không nghe thấy câu trả lời. Nhưng một phút sau chúng tôi nhìn thấy một trại nhân đứng tách ra rồi đi ra phòng bảo vệ. Một phút sau lại đến lượt một người khác, rồi một người nữa.

- Cho tất cả chúng mày ra tòa! Tao sẽ cho chúng mày ra tòa! Còn trong bếp là bọn nào kia? - Hắn gầm lên khi nhìn thấy chúng tôi qua các ô cửa sổ rộng mở. - Ra hết đây! Lùa hết chúng nó ra đây!

Tên Dyatlov tiến vào bếp. Trong bếp người ta bảo hắn rằng ở đây không có yêu sách. Hắn lập tức trở ra báo cáo với tên thiếu tá.

- Không yêu sách! - hắn trùng giọng xuống đến hai nốt nhạc, mừng vui ra mặt. - Dù sao cũng gọi ra đây!

Chúng tôi bước ra. Tôi cảm thấy hổ thẹn khi phải bước ra. Nhưng chúng tôi vẫn đi, đầu cúi hẳn xuống.

- A, ông Prokofiev! Cả ông Elkin, cả ông Almazov. Mời các ông dừng lại đây, đứng vào hàng đi! - tên thiếu tá nói với chúng tôi một cách gấp gáp, nhưng dịu dàng, mắt nhìn chúng tôi thân thiện. - Kìa ông M., ông cũng ở đây... thế này thì phải viết lại. Dyatlov! Bây giờ phải viết lại danh sách những người hài lòng thành một cột riêng, những người không hài lòng sang một cột riêng, không được để sót một ai, rồi nộp giấy cho tôi. Tất cả bọn này này... tao sẽ cho ra tòa! Tao sẽ cho ra tòa hết bọn lừa bịp!

Tờ giấy đã có tác dụng.

- Chúng tôi hài lòng! - trong đám những người không hài lòng có một người gằn giọng kêu lên, nhưng có vẻ không dứt khoát lắm.

- A, có người hài lòng! Ai hài lòng? Ai hài lòng bước ra đây.

- Chúng tôi hài lòng, chúng tôi hài lòng! - có thêm mấy tiếng nói nữa.

- Các người hài lòng, có nghĩa là các người bị lôi kéo? Nghĩa là có những kẻ chủ mưu, có bọn dấy loạn? Bọn này sẽ bị tội lớn!...

- Chúa ơi, thế này là thế nào? - Trong đám đông có tiếng nói.

- Ai, ai vừa nói thế nhỉ? - tên thiếu tá gầm lên và bước nhanh về phía có tiếng nói. - Mày đây rồi, Rastorguev. Mày vừa nói hả? Ra phòng bảo vệ!

Rastorguev là một thanh niên mặt đỏ mọng, người cao lớn bước lên và lặng lẽ đi ra phòng bảo vệ. Người kêu lên không phải là anh ta, nhưng có người chỉ vào anh, nhưng anh cũng không phản đối.

- Béo quá hóa rồ! - tên thiếu tá nói to về phía anh. - Trông cái mặt thịt kìa! Cứ cho ba ngày không được!... Tao sẽ tìm ra hết bọn mày cho mà xem! Những người hài lòng, xin bước ra!

- Thưa ngài, chúng tôi hài lòng! - có đến mấy chục giọng nói vang lên ảm đạm; những người khác vẫn lầm lì im lặng. Nhưng tên thiếu tá cũng chỉ cần có thế. Rõ ràng là hắn muốn mau mau kết thúc công việc và cố gắng kết thúc bằng cách đồng thuận.

- Thế nào, bây giờ tất cả mọi người đều hài lòng rồi đấy! - hắn vội vàng nói. - tôi đã nhìn thấy, tôi đã biết. Đây là những kẻ chủ mưu. Trong số họ hiển nhiên là có những kẻ chủ mưu. - Hắn tiếp tục nói, mặt quay về phía Dyatlov. - Cần phải tìm kiếm chi tiết hơn nữa. còn bây giờ... bây giờ đến giờ đi làm rồi. Nổi trống lên!

Đích thân hắn có mặt trong lúc chia đội. Anh em trại nhân lặng lẽ buồn rầu tỏa ra đi làm, ít ra họ cũng hài lòng ở chỗ được ra đi cho khuất mắt. Nhưng khi chia đội xong tên thiếu tá ngay lập tức ra phòng bảo vệ xử lý đám “chủ mưu”, tuy rằng xử lý không đến nỗi tàn bạo, thậm chí còn là vội vàng. Sau này có người kể lại rằng một trong số đó đã xin được tha tội và hắn đã tha. Quả là có phần nào đó tên thiếu tá đã không còn được tự nhiên, thậm chí có thể nói là đã khiếp sợ. Trong mọi trường hợp thì đơn yêu sách là chuyện nhạy cảm, và mặc dù lời phàn nàn của trại nhân thực chất không thể được gọi là yêu sách, bởi vì nó không được đệ trình lên đến thượng cấp, mà chỉ đến tay thiếu tá, nhưng như thế cũng đã là chuyện không đẹp, không tốt. Điều đáng cảm phiền đặc biệt ở đây là mọi người đồng loạt nổi dậy. Chuyện đó phải bằng mọi cách dập tắt. Chẳng mấy chốc “đám chủ mưu” được tha ra. Ngay ngày hôm sau thức ăn đã tốt hơn, mặc dù không kéo dài được lâu. Trong những ngày đầu tên thiếu tá thường đến thăm trại hơn và thường gặp cảnh lộn xộn. Tên hạ sĩ quan thì mặt mày đăm chiêu và đã thành ngơ ngác, vì dường như hắn bị ngạc nhiên quá đáng. Còn về phần tù nhân thì mãi về sau họ cũng không thể tĩnh tâm được, nhưng cũng không còn náo động như trước, họ chỉ âm thầm lo lắng và có vẻ trầm uất mà thôi. Có một số người tỏ ra ủ rũ. Một số người khác thì lầu bầu nói đến chuyện hôm ấy, dù cũng không còn nhiệt ngôn nữa. Có nhiều người tự diễu cợt mình một cách giận dữ và to tiếng, dường như muốn hành tội mình vì chuyện yêu sách.

- Này, người anh em, cầm lấy mà gặm đi! - có người nói.

- Anh cười cái gì thì anh hãy làm cái đó! - một người khác nói thêm.

- Đâu là con chuột dám đeo chuông vào cổ mèo? - người thứ ba nhận xét.

- Người anh em của chúng ta không ăn gậy là không ăn thua, ai chả biết thế. Còn một điều may là không phải tất cả mọi người đều bị roi vọt.

- Thôi đi anh, tốt nhất là anh nên biết nhiều, nói ít cho khỏe. - Có một người nào đó giận dữ.

- Sao, anh là thầy giáo hay sao mà đi dạy khôn?

- Tôi biết thì tôi dạy.

- Anh là ai mà hợm mình vậy?

- Tôi vẫn còn là người đấy, thế anh là ai?

- Anh là đồ thối thây.

- Anh thối thây thì có.

- Thôi đi, thôi đi các anh. Làm gì mà ồn lên thế! - mọi người xung quanh nói đám cãi vã.

Cũng chiều hôm ấy, tức là đúng vào cái chiều có yêu sách, khi đi làm về, tôi gặp anh Petrov ở sau trại. Anh đi tìm tôi. Lúc đến gần, anh nói nhỏ cái gì đó, đại loại là có đôi ba lời than thở không rõ ràng, nhưng một lát sau anh lại lơ đãng lặng im và đi bên cạnh tôi như một cái máy. Sự việc đó cứ nằm mãi như một vết đau trong trái tim tôi và tôi thấy rằng anh sẽ giải thích cho tôi rõ một điều gì đó. Tôi hỏi:

- Này anh Petrov, anh nói đi, bạn bè anh có cáu giận chúng tôi không?

- Ai cáu giận? - anh hỏi lại như thể bừng tỉnh.

- Anh em trong trại cáu giận chúng tôi... những người quý tộc.

- Vì sao lại cáu giận các ông?

- À, cáu giận vì chúng tôi không ra sân yêu sách.

- Nhưng vì sao các ông lại phải yêu sách? - anh hỏi, dường như cố gắng hiểu tôi, - vì các ông ăn đồ ăn riêng kia mà.

- Hóa ra là thế, lạy Chúa! Nhưng trong các anh cũng có những người ăn riêng, mà vẫn ra sân. Vậy lẽ ra chúng tôi cũng phải... vì tình đồng chí anh ạ.

- Đúng, đúng... nhưng tình đồng chí giữa chúng tôi và các ông là thế nào?

Tôi nhìn ngay sang anh ta: anh quyết ý không hiểu tôi, không hiểu là tôi muốn gì. Ngược lại, tôi hiểu được anh hoàn toàn trong phút giây này. Bây giờ lần đầu tiên có một ý nghĩ, thực ra nó đã mơ hồ cụng cựa trong tôi từ lâu và cứ bám hoài lấy tôi, bây giờ tôi mới được cảm thấu hoàn toàn, và bỗng chốc tôi hiểu ra cái điều mà cho đến nay tôi mới lơ mơ đoán biết. Tôi hiểu rằng tôi sẽ không bao giờ được chấp nhận là đồng chí, cho dù tôi là tù nhân chính hiệu, cho dù là tù nhân chung thân vĩnh cửu, tù nhân biệt giam đi nữa. Nhưng cái điều được lưu giữ đặc biệt trong ký ức tôi chính là vẻ mặt của Petrov lúc này. Trong câu hỏi của anh ấy “nhưng tình đồng chí giữa chúng tôi và các ông là thế nào?” đã hiện lên thái độ vô tư chân chất, lộ ra cái ngơ ngác giản đơn thật sự. Tôi nghĩ: phải chăng trong những lời nói ấy có sự châm biếm, giận dữ và nực cười? Chẳng có gì cả: đơn giản - không phải là đồng chí, thế thôi. Anh đi đường anh, chúng tôi đi đường chúng tôi, anh có việc anh, chúng tôi có việc chúng tôi.

Quả thật có lúc tôi đã nghĩ sau đợt yêu sách này thế nào anh em cũng cấu xé chúng tôi và chúng tôi sẽ không thể được sống yên thân. Thế nhưng không hề có chuyện ấy: chúng tôi không hề nghe thấy một lời trách móc, một câu mỉa mai, không thấy có sự giận dữ nào đặc biệt. Họ chỉ nói ra nói vào đôi câu, cũng như trước đây họ nói chuyện này chuyện nọ, thế thôi, chẳng có gì hết. Hơn nữa, họ còn không hề giận dữ cả đối với những người không muốn lộ diện yêu sách, ở tịt trong bếp, cũng như đối với cả những người đầu tiên xướng lên rằng mọi người hài lòng. Thậm chí còn không ai nhắc lại chuyện ấy. Đặc biệt cái chi tiết sau cùng này tôi không thể nào hiểu được.

❀ ❀ ❀

[1] Roulate thịt lợn với mận phúc mạc (N.D.).

[2] Món tráng miệng có váng sữa (N.D.).

[3] Trong nguyên bản chơi chữ userdie và oserdie. Chúng tôi chuyển thành thịt bọ và thịt bò (N.D.).

[4] Tác giả dùng từ konovod. Trong tiếng Nga có 2 từ này: một là người khởi xướng, hai là người chăn ngựa. Chúng tôi chỉ chọn một nghĩa (N.D.).

[5] Tôi căm thù bọn đầu trộm đuôi cướp này (t. Pháp, chú thích của tác giả).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.