Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VÀO CHUYỆN
VÀO CHUYỆN

❊ ❊ ❊

Ở những vùng Sibir xa xôi, giữa bạt ngàn thảo nguyên, rừng núi hoặc những cánh rừng không thể đi qua vẫn rải rác có những thị trấn nhỏ, mỗi thị trấn có một, nhiều thì có hai ngàn dân, nhà cửa làm bằng gỗ, xấu xí, những thị trấn có hai nhà thờ thì một ở trong thành, một ở ngoài nghĩa địa, thị trấn ở đây giống những ngôi làng ngoại ô Moskva xinh xắn hơn là giống như thị trấn. Những thị trấn này thường có nhiều quan chức cảnh sát, các vị bồi thẩm và đủ các loại phẩm trật dưới nữa. Nhìn chung ở Sibir mặc dầu trời lạnh, nhưng làm công chức thì lại rất ấm áp. Mọi người sống đơn giản, không nhiễm thói tự do; nếp sống thì cổ xưa, chắc chắn, từ bao đời nay được coi là thiêng liêng. Các quan chức thì thực sự đóng vai trò của giới quý tộc Sibir. Hoặc đó là những người bản xứ, những người Sibir thâm căn cố đế, hoặc là từ nước Nga đến, phần lớn từ các thủ đô. Họ bị mê hoặc bởi khoản tiền lương cấp trước, bởi tiền đi xe ngựa được tính gấp đôi và bởi những hy vọng đê mê mai hậu. Trong số họ những người biết giải quyết những bài toán cuộc đời thì hầu như bao giờ cũng ở lại Sibir, vui lòng bén rễ xanh cây với nó. Sau này họ sẽ gặt hái được quả ngọt xum xuê. Nhưng những người khác nhẹ dạ và không biết đi tìm đáp số cuộc đời thì chẳng mấy chốc đã chán ngắt miền đất Sibir và bắt đầu rầu rĩ tự hỏi: ta đến đây để mà làm gì? Họ nôn nóng sống cho qua niên hạn công vụ ba năm, vừa hết hạn là vội vã vỗ tay mừng ngày dịch chuyển rồi quay gót trở về, miệng thì nguyền rủa và cười nhạo Sibir. Họ đâu có đúng: không phải chỉ từ quan điểm công vụ, mà thậm chí từ nhiều cách nhìn khác nữa, ở Sibir vẫn có thể rất an lạc. Khí hậu thì tuyệt vời, có nhiều thương nhân giàu sang và hiếu khách, có nhiều người tứ xứ hết sức khá giả. Các công nương thì rạng rỡ như những bông hồng và đoan trang đến mức cùng cực. Chim rừng thì bay nhảy ngay giữa đường phố và tự mình lao vào thợ săn. Rượu sâm-banh được uống đến mức siêu nhiều. Trứng cá hảo hạng. Mùa màng nhiều nơi bội bội thu. Nhìn chung đây là miền đất phúc lộc. Chỉ có điều phải biết cách tận dụng. Ở Sibir người ta đã biết cách đó.

Trong nhiều thị trấn vui vẻ và tự thỏa mãn có một thị trấn với những người dân hết sức dễ mến, mà ký ức về họ trong trái tim tôi không bao giờ phai nhạt. Tại đó tôi đã gặp Aleksandr Petrovich Goryanchikov, người bị phát vãng tới đây. Ông sinh ở Nga, vốn là quý tộc và địa chủ, sau bị đi đày khổ sai hạng hai vì tội giết vợ. Sau khi hết hạn đày mười năm theo luật định, ông âm thầm lặng lẽ sống nốt phần đời còn lại trong thị trấn K. với tư cách nhập cư. Chính ông đã đăng ký nhập tịch vào một huyện ngoại vi, nhưng vẫn sống ở thị trấn vì có thể kiếm thêm đôi chút bằng nghề dạy trẻ. Ở các thị trấn Sibir trong số dân phát vãng vẫn thường gặp các thày giáo. Không có ai khinh ghét các thày cả. Chủ yếu là họ dạy tiếng Pháp, thứ tiếng rất cần trong cuộc sống, mà ở những xứ u tì Sibir này không có họ thì không thể còn có ý niệm gì về tiếng Pháp nữa. Lần đầu tiên tôi gặp Aleksandr Petrovich trong nhà một vị quan chức già cả có nhiều công trạng và tính nết hào hiệp tên là Ivan Ivanych Gvozdikov. Ông này có năm cô con gái tuổi tác chênh lệch, khiến bao người hy vọng. Ông Aleksandr Petrovich dạy các cô mỗi tuần bốn buổi, mỗi buổi lấy ba mươi cô-pếch bạc. Diện mạo của ông làm tôi quan tâm. Đó là con người hết sức xanh xao, gày gò. Ông chưa già, tuổi mới độ ba lăm, còm nhom, thấp bé. Ăn mặc thì lúc nào cũng sạch sẽ theo lối châu Âu. Nếu bạn nói chuyện với ông thì ông sẽ nhìn bạn hết sức chăm chú, sẽ nói một cách lịch sự nghiêm túc, lắng nghe từng lời của bạn, tựa hồ như suy ngẫm từng chữ, tựa hồ như bạn dùng câu hỏi để đặt ra cho ông một bài toán, hoặc muốn khêu gợi nơi ông một điều gì bí ẩn, và cuối cùng ông trả lời rành mạch và ngắn gọn, nhưng trước đó ông đã cân nhắc từng lời trong câu trả lời, đến nỗi bạn bỗng cảm thấy có gì bất tiện, và cuối cùng bạn sẽ cảm thấy vui mừng khi kết thúc được cuộc đàm thoại. Tôi cũng đã có dịp hỏi han kỹ lưỡng ông Ivan Ivanych về ông ta, và được biết rằng ông Goryanchikov sống rất chỉn chu, đức độ, và rằng nếu không phải như thế thì ông Ivan Ivanych đã không mời về dạy cho các cháu gái, nhưng có điều là ông ta rất ít giao du, luôn trốn tránh mọi người, đầu óc rất uyên bác, đọc sách nhiều, nhưng nói ra thì rất ít và nói chuyện được với ông ta là điều khá khó. Những người khác thì khẳng định rằng ông ta là một người điên tốt tính, mặc dù họ cũng thấy rằng thực chất đó chưa phải là khiếm khuyết căn bản, rằng có nhiều thành viên danh dự của thị trấn sẵn sàng bằng mọi cách o bế Aleksandr Petrovich, rằng ông ta thậm chí cũng có thể có ích như biết cách làm đơn từ hoặc các việc khác nữa. Người ta cho rằng hẳn là ông ta phải có nhiều họ hàng ở nước Nga, có thể thậm chí không phải đó là những người mạt hạng, nhưng họ biết rằng kể từ ngày đi đày ông đã cự tuyệt mọi quan hệ với họ. Nói tóm lại, ông đang tự làm hại mình. Ngoài ra mọi người ở đây đều biết chuyện đời ông, họ biết rằng ông đã giết vợ mình ngay vào năm đầu tiên chung sống, ông giết vì ghen tuông và sau đó ra đầu thú ngay (điều đó giảm nhẹ mức trừng phạt đi nhiều). Loại tội ác này thường được xem là bất hạnh và mọi người thương hại ông. Mặc dầu vậy con người kỳ quặc này vẫn kiên trì lẩn tránh mọi người và chỉ xuất hiện trong trường hợp dạy học.

Đầu tiên tôi không chú ý đặc biệt đến ông ta, nhưng bản thân tôi cũng không biết vì sao dần dần ông ta khiến tôi chú ý. Ở nơi ông có cái gì đó lạ lùng. Muốn nói chuyện với ông nhưng chẳng có một cơ hội nhỏ nhoi nào. Tất nhiên, mọi câu hỏi của tôi bao giờ cũng được ông trả lời, thậm chí còn trả lời với cái cách dường như ông coi đó là nghĩa vụ hàng đầu của mình, nhưng sau những câu trả lời đó tôi lại thấy rất nặng nề khi muốn hỏi thêm nữa. Vả lại sau những cuộc trò chuyện như vậy trên gương mặt ông bao giờ cũng hiện lên vẻ đau khổ và mệt mỏi. Tôi còn nhớ một lần vào một chiều hè đẹp trời tôi cùng ông rời khỏi nhà ông Ivan Ivanych. Bỗng nhiên tôi nảy ra ý tưởng mời ông đến nhà tôi một lát hút một điếu thuốc. Tôi không thể nào mô tả được nỗi khiếp hãi đến như thế nào hiện ra trên nét mặt ông; ông hoàn toàn bối rối, miệng lảm nhảm những câu rời rạc gì đó rồi bỗng nhiên nhìn tôi một cách dữ tợn, sau đó quay mình chạy biến đi theo hướng ngược lại. Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Kể từ ngày đó hễ cứ gặp tôi là ông lại nhìn tôi như sợ hãi điều gì. Nhưng tôi không chịu lùi bước. Có một cái gì đó níu kéo tôi về phía ông ta. Một tháng sau chẳng cơn cớ gì tôi cũng ghé qua nhà Goryanchikov. Rõ ràng là tôi đã hành động ngu xuẩn và thô thiển. Ông ta thuê phòng ở tận cuối thị trấn của một bà già có cô con gái lao phổi, cô này lại có đứa con gái ngoài giá thú chừng độ mười tuổi, một cô bé kháu khỉnh và vui tính. Đúng lúc tôi bước vào thì Aleksandr Petrovich đang ngồi với cô bé, dạy cô bé đọc sách. Nhìn thấy tôi ông ta luống cuống đến nỗi cứ như là tôi bắt được quả tang ông đang phạm tội. Ông hoàn toàn rối trí, rời ghế đứng vụt dậy tròn mắt nhìn tôi. Cuối cùng thì chúng tôi cũng ngồi xuống. Ông chăm chú theo dõi từng ánh mắt tôi, dường như trong mỗi ánh mắt ấy ông đều thấy nghi ngờ rằng có một ý nghĩa nào đó huyền bí đặc biệt. Tôi đồ rằng ông mắc chứng đa nghi đến mức điên dại. Ông vẫn nhìn tôi bằng con mắt thù hận, ra ý hỏi dò “Thế bao giờ anh ra khỏi nhà tôi?”. Tôi gợi chuyện thị trấn, chuyện tin tức hàng ngày, còn ông thì im lặng và mỉm cười giận dữ. Hóa ra là ông không biết gì không những là tin tức hàng ngày tầm thường nhất trong thành phố mà ai cũng biết, thậm chí còn không thèm quan tâm đến nữa. Sau đó tôi gợi chuyện đến miền đất chung này, đến những nhu cầu của ông. Ông lặng yên ngồi nghe và nhìn vào mắt tôi một cách lạ lùng, đến nỗi cuối cùng tôi thấy xấu hổ vì cuộc trò chuyện. Hơn thế nữa, tôi suýt làm ông phấn chấn vì những cuốn sách và tạp chí mà tôi mới lấy ở bưu điện về đây và định đưa cho ông mượn xem lúc còn chưa xé giấy bọc. Ông chợt nhìn sách bằng cặp mắt khát khao, nhưng ngay lập tức lại thay đổi ý định, từ chối không xem, lấy cớ là không có lúc nào rỗi rãi. Cuối cùng tôi chia tay, và khi bước ra tôi cảm thấy rằng từ trong tim tôi có một khối vật gì đó nặng nề không chịu đựng nổi đã rơi ra ngoài. Tôi xấu hổ và thấy mình thật ngốc nghếch khi tìm đến một con người đặt ra nhiệm vụ chủ yếu nhất là phải lẩn tránh thế giới này càng xa càng tốt. Nhưng việc đã trót rồi. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ rằng hầu như tôi không nhìn thấy trong nhà ông có quyển sách nào, và có lẽ mọi người đã sai khi nói về ông rằng ông đọc sách nhiều. Tuy thế, tôi đã có dịp qua lại trước cửa sổ nhà ông đôi ba lần vào những lúc khuya muộn thì lại thấy trong ấy sáng đèn. Ông ấy làm gì? Cứ ngồi đến sáng hay sao? Hay ông ấy viết? Mà viết thì viết cái gì?

Rồi tôi có việc phải xa thị trấn đến ba tháng. Tôi về nhà vào mùa đông và được tin ông đã chết vào mùa thu, chết trong cô đơn và thậm chí cũng không một lần cho gọi thầy thuốc. Trong thị trấn mọi người hầu như đã quên mất ông. Căn hộ của ông trống hoang. Ngay lập tức tôi đến hỏi thăm bà chủ nhà của người quá cố mong được biết thêm ông ấy vẫn thường làm gì và có viết ra cái gì không? Tôi đưa cho bà bốn mươi cô-pếch, bà mang ra cho tôi cả một xếp giấy mà ông để lại. Bà thú nhận rằng bà đã dùng mất hai tập vở rồi. Bà là người rầu rĩ và kiệm lời, khó có thể gạn hỏi được điều gì cần thiết. Về ông ấy bà cụ không cho biết điều gì mới mẻ. Theo lời bà, ông ấy hầu như không bao giờ làm gì, suốt nhiều tháng liền không mở sách ra và cũng không cầm lấy bút, thế nhưng nhiều khi suốt đêm đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ, đôi lúc tự nói một mình. Ông ấy rất mực yêu thương chiều chuộng đứa cháu gái Katia, đặc biệt từ khi ông ấy biết rằng tên nó là Katia và cứ đến ngày lễ thánh của cháu thì ông ấy lại đi làm lễ cầu siêu cho một ai đó. Ông ấy không chịu nổi khách khứa, chỉ bước chân ra khỏi nhà khi đi dạy trẻ con, thậm chí chỉ ngó đến bà lão mỗi tuần một lần khi bà vào phòng ông dọn dẹp và hầu như chẳng nói với bà câu nào suốt cả ba năm. Tôi đã hỏi Katia: cháu có nhớ thày giáo của cháu không? Cô bé nhìn tôi yên lặng rồi quay mặt vào tường mà khóc. Hẳn là con người đó đã buộc được một người nào khác yêu mình.

Tôi ôm chồng giấy của ông về nhà và suốt ngày lật giở ra xem. Ba phần tư số giấy ấy là những giấy còn trắng, là những mẩu giấy vụn hoặc những bài tập của học trò viết bằng chữ thường. Thế nhưng trong đó có một quyển vở khá dày viết bằng thứ chữ nhỏ li ti chi chít và chưa kết thúc, có thể đã bị chính tác giả xếp xó và lãng quên. Đó là những phần mô tả, mặc dù rời rạc, cuộc sống mười năm khổ sai mà Aleksandr Petrovich trải qua. Có một số chỗ trong tập ký này bị đứt quãng, nhường chỗ cho một truyện vừa nào đó, cho những hồi ký kỳ lạ, hãi hùng, được phác thảo một cách gồ ghề, giật cục, dường như có sự bó buộc nào đó. Tôi đã đọc đi đọc lại mấy lần những trang viết đó và gần như khẳng định được rằng chúng được viết ra trong lúc điên loạn. Nhưng đến đoạn bút ký “Những cảnh ngộ trong nhà chết” - tác giả đã đặt tên như thế ở một chỗ nào đó trong tập bài viết, thì tôi thấy không phải hoàn toàn tẻ nhạt. Một thế giới hoàn toàn mới, chưa ai biết đến, những sự kiện kỳ quặc, một số những ghi nhận đặc biệt về những người chết, tất cả đã thu hút tôi và tôi đã tò mò đọc được đôi điều. Có thể là tôi đã mắc sai lầm, nhưng đầu tiên tôi cứ thử lựa chọn vài chương, ngõ hầu để công chúng phán xét...

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.