Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III - NHỮNG ẤN TƯỢNG ĐẦU TIÊN
III NHỮNG ẤN TƯỢNG ĐẦU TIÊN

❊ ❊ ❊

Ông M. (người Ba Lan vừa nói chuyện với tôi) vừa mới bước ra, thì Gazin say khướt lảo đảo vào bếp.

Đó là một trại nhân say rượu, giữa ban ngày ban mặt, trong ngày làm việc, khi mọi người phải đi làm, khi có cấp trên nghiêm khắc, bất kỳ lúc nào cũng có thể vào trại, khi có hạ sĩ quan quản lý tù nhân không rời một bước, khi có các lính tuần tra, có các thương bệnh nhân, tóm lại, khi có mọi sự nghiêm ngặt. Điều đó đã làm rối loạn hoàn toàn trong tôi các quan niệm về cuộc sống, về sinh hoạt trong tù. Và rồi tôi đã phải sống một thời gian lâu trong trại, trước khi tôi giải thích được cho mình tất cả mọi hiện tượng như vậy, những hiện tượng rất bí ẩn đối với tôi trong những ngày đầu này.

Tôi đã nói rằng ở đây tù nhân vẫn có những công việc riêng, rằng công việc đó là nhu cầu tự nhiên trong cuộc đời lao lý, rằng ngoài nhu cầu ra, tù nhân còn tha thiết có được đồng tiền và coi đồng tiền là cao hơn hết, thậm chí ngang hàng với tự do, và rằng tù nhân sẽ thấy được an ủi khi có tiếng leng keng của đồng tiền trong túi. Ngược lại, anh ta sẽ phiền não, đau buồn, bất an và suy sụp nếu tiền không có, và khi đó anh ta sẵn sàng ăn cắp ăn trộm hoặc làm bất cứ trò gì miễn sao kiếm được đồng tiền. Mặc dù đồng tiền trong trại quý giá là thế, nhưng đồng tiền lại không nằm yên trong túi người hạnh phúc có tiền. Thứ nhất, tiền khó giữ được để không bị ăn cắp hoặc bị cướp giật. Nếu tên thiếu tá lần được tiền khi bất ngờ lục soát thì hắn tịch thu tức thì. Cũng có thể hắn dùng vào việc cải thiện bữa ăn cho các tù nhân, nhưng ít ra thì hắn là người trưng thu, song phần lớn tiền bị ăn cắp. Ở đây không thể tin vào ai được. Sau này chúng tôi tìm ra được cách giữ tiền hết sức an toàn. Tất cả tiền nong đều nhờ ông già tín đồ cựu giáo giữ hộ, ông đến đây từ vùng ngoại vi Starodubov, trước kia là Vetkovtsev. Nhưng tôi không thể không nói đôi điều về ông, dù biết mình đi lạc chủ đề.

Đó là một ông già trên dưới sáu mươi, người nhỏ, tóc bạc. Ông làm tôi rất kinh ngạc ngay từ cái nhìn đầu tiên. Ông rất không giống những tù nhân khác: có một cái gì đó trầm tĩnh và thầm lặng trong đôi mắt ông, đến nỗi, tôi vẫn còn nhớ, tôi thấy hài lòng đặc biệt khi nhìn vào đôi mắt sáng ngời nằm giữa những nếp nhăn lăn tăn lấp lánh. Tôi thường nói chuyện với ông và trong cuộc đời tôi ít khi tôi gặp được một sinh linh nào tốt bụng và rộng lòng đến thế. Ông bị hạ ngục vì một tội lỗi cực kỳ quan trọng. Trong số những người cựu giáo ở Starodubov bắt đầu xuất hiện những người cải giáo. Chính phủ rất khuyến khích họ và rất nỗ lực để cải giáo cả những người chưa đồng tình. Cùng với những người cực đoan khác, ông già liều mình “bảo vệ đạo”, theo cách nói của ông. Người ta bắt đầu xây dựng một nhà thờ đồng đạo thì các ông ấy đốt đi. Với tư cách là một trong những người chủ mưu ông bị đày đi lao dịch. Gia đình ông vốn khá giả, ông là người trung lưu buôn bán; ông bỏ vợ con ở nhà, khăng khăng chấp nhận đi đày, bởi vì ông mù quáng cho rằng đi đày là “chịu đau vì đạo”. Nếu sống với ông một thời gian, chắc thế nào các bạn sẽ đặt cho mình một câu hỏi: làm sao một con người điềm đạm, ôn hòa như trẻ con kia lại có thể là người nổi loạn được? Tôi đã mấy lần gợi chuyện với ông về “tín tưởng”. Trong các niềm xác tín của mình ông chẳng nhượng bộ gì cả, nhưng cũng chẳng bao giờ nổi nóng, chẳng hề thù hận dù ông phản đối. Thế nhưng ông lại tàn phá cả một nhà thờ và khăng khăng không chịu nhận tội. Có vẻ như là theo những niềm xác tín của ông thì ông vẫn cứ coi hành động của mình và cái mà ông gọi là “đau vì đạo” là một việc làm hiển hách. Song dù tôi có quan sát ông, nghiên cứu ông đến đâu đi nữa, tôi cũng không bao giờ nhận thấy ở ông có một chút dấu hiệu gì là hư vinh và tự hào cả. Ở trại chúng tôi còn có mấy ông cựu giáo nữa, phần lớn là người Sibir. Đó là những con người rất mực khôn ngoan, láu lỉnh, những người ham đọc, sính chữ và có cách luận lý cứng cỏi theo kiểu của riêng mình, những con người cao ngạo, ranh ma và cố chấp hết mức. Ông già này lại khác hẳn. Có thể ông còn đọc nhiều hơn họ, nhưng ông lại tránh xa các cuộc tranh luận. Về tính cách thì ông thuộc loại hết sức quảng giao, lúc nào cũng vui tươi, cười cợt - không phải cái thứ cười thô thiển, bỉ ổi của tù khổ sai, mà là tiếng cười thanh thoát, nhỏ nhẹ, toát ra tấm lòng bình dị trẻ thơ và dường như nó rất phù hợp với mái đầu bạc. Có thể là tôi đã nhầm, nhưng tôi cho rằng bằng vào tiếng cười mà ta có thể nhận chân được con người, và nếu ngay từ cuộc gặp mặt đầu tiên bạn đã thấy cảm mến tiếng cười của một ai đó trong số những người hoàn toàn xa lạ, thì tôi đoan chắc rằng đó là một con người tốt. Trong toàn trại ông già được mọi người kính trọng, nhưng ông cũng không hề lấy thế làm hãnh diện. Tù nhân gọi ông là ông nội và không bao giờ làm ông mếch lòng. Bây giờ tôi đã hiểu được phần nào cái ảnh hưởng mà ông có được đối với những người đồng giáo của mình. Mặc dù bề ngoài ông tỏ ra rắn rỏi chịu đựng cuộc tù của mình, nhưng bề trong ông vẫn âm thầm dấu kín mọi người một nỗi buồn không thuốc nào chữa được. Một hôm vào lúc ba giờ đêm tôi tỉnh dậy và nghe thấy có tiếng khóc ấm ức. Ông già ngồi trên lò sưởi (nơi mà trước đây hàng đêm anh tù nhân định giết tên thiếu tá vẫn ngồi tụng kinh, đọc sách). Ông già đang cầu nguyện theo một cuốn sách chép tay của mình. Ông cứ khóc như thế và tôi nghe thấy thỉnh thoảng ông lại cất tiếng nói: “Lạy Chúa, xin đừng bỏ con! Cầu Chúa che chở cho con! Các con của con còn bé, các con của con đáng thương, không bao giờ cha con còn gặp nhau được!” Tôi không thể kể được rằng tôi thấy đau lòng đến như thế nào. Hầu hết các tù nhân ở đây đều đưa tiền để ông giữ hộ. Hầu hết mọi người ở đây đều đi ăn trộm, thế nhưng không hiểu sao bỗng chốc mọi người tin rằng ông già không thể lấy cắp của ai. Người ta biết rằng ông già dấu đi đâu đó những khoản tiền mà mọi người đem gửi, nhưng không ai có thể tìm thấy chỗ ấy bao giờ. Sau này tôi và mấy anh người Ba Lan mới được nghe ông giải thích điều bí mật đó. Trong một cây cọc có một cành tưởng là liền với cây. Nhưng nó lại rút ra được và trong cây có một lỗ hổng lớn. Ông nội giấu tiền vào đó rồi lại lắp cành đó vào, cho nên không ai tìm thấy được cả.

Nhưng tôi đã đi quá xa câu chuyện. Tôi đang dừng lại ở chỗ vì sao trong túi anh tù nhân thường không đọng lại đồng nào. Nhưng ngoài nỗi vất vả phải giữ gìn tiền, trong trại còn bao nhiêu nỗi khổ khác nữa. Anh tù nhân này cũng thế. Xét về bản chất thì anh khao khát tự do, nhưng đồng thời do đẳng cấp xã hội của mình, anh cũng hết sức nhẹ dạ và bừa bãi và tất nhiên là anh bị lôi cuốn bất cứ lúc nào vào “những cuộc ăn chơi xả láng”, có đồng nào ăn nhậu hết đồng nấy trong cảnh ồn ào thác loạn, chỉ cốt sao cho quên hết, dù chỉ là một phút, mọi nỗi buồn phiền. Thật lạ lùng khi phải ngắm nhìn một người nào đó trong bọn họ cứ làm việc không hề ngẩng cổ đôi khi hàng mấy tháng liền, chỉ cốt để làm sao một ngày nào đó tiêu sạch sành sanh tiền công, sau đó lại quần quật mấy tháng liền kiếm tiền cho kỳ nhậu nhẹt sắp tới. Có nhiều người thích mua sắm đồ mới và tất nhiên là theo ý riêng: một chiếc quần đen, quần áo lót, áo khoác ngoài trông thật lạ mắt. Phổ biến là mua áo hoa và những thắt lưng có con bọ bằng đồng. Họ ăn diện vào những ngày hội và tất nhiên là người ăn diện sẽ đi diễu khắp các lán trại cho mọi người ngắm nghía. Sự thỏa mãn của người ăn diện đạt tới mức ấu trĩ; mà tù nhân thì về nhiều mặt đúng là trẻ con hoàn hảo thật. Có điều những đồ đẹp ấy không hiểu sao bỗng chốc biến mất, nhưng đôi khi ngay tối hôm ấy chúng được đem bày bán với giá rẻ mạt. Tuy nhiên, nhậu nhẹt ngày càng phổ biến. Nhậu nhẹt diễn ra bình thường hoặc là vào những ngày lễ tết hoặc lễ đặt tên Thánh của người đến nhậu. Tù nhân có lễ đặt tên Thánh phải dậy sớm, thắp nến trước tượng thờ rồi cầu nguyện, sau đó ăn mặc đẹp và đặt bữa ăn. Anh ta mua thịt bò, cá, làm mằn thắn kiểu Sibir. Anh ta ăn như chó sói, hầu như bao giờ cũng ăn một mình, hiếm hoi lắm thì mới mời bạn bè chia sẻ niềm vui. Sau đó là đến rượu. Người chịu lễ uống đến say khướt và thế nào cũng lảo đảo, ngả nghiêng đi khắp các lán trại, cố gắng chứng tỏ cho mọi người thấy rằng anh ta say, rằng anh ta đang “rong chơi” và bằng cách đó sẽ được mọi người kính trọng. Khắp nơi đối với người say rượu dân Nga vẫn dành cho họ một chút thiện cảm. Ở trong trại đối với những kẻ chơi bời quá xá người ta thậm chí còn kính nể nữa. Chịu chơi trong trại khổ sai là có vẻ quí tộc đặc biệt. Vui vẻ chán rồi người tù thế nào cũng thuê âm nhạc. Trong tù có một anh Ba Lan là lính đào ngũ thuộc loại bất hảo, nhưng biết chơi đàn vĩ cầm, lúc nào cũng giữ đàn bên người như một bảo bối. Hắn chẳng biết nghề ngỗng gì khác, chỉ làm mỗi một việc là đi kéo đàn thuê những điệu nhảy vui nhộn cho bọn đi chơi. Trách nhiệm của hắn ta là bám sát ông chủ say rượu đi hết lán này sang lán khác và kéo cưa tận lực. Trên gương mặt hắn thường lộ vẻ buồn chán. Nhưng tiếng kêu: “Chơi đi! Mày cầm tiền rồi đấy!” lại buộc hắn cò cưa kéo xẻ lần nữa. Anh tù, khi bắt đầu rong chơi đã có thể rất yên tâm rằng dù có uống nhiều đến đâu thì chắc chắn người ta vẫn để mắt đến anh, sẽ cho anh đi ngủ đúng lúc và bao giờ cũng biết giấu anh đi đâu đó khi bọn cai xuất hiện và bao giờ cũng hoàn toàn vô tư. Về phần mình tên hạ sĩ và những tên thương bệnh binh sống ở đây để giữ trật tự trong trại cũng có thể hoàn toàn yên tâm: tên say rượu không thể gây rối. Theo dõi anh ta là toàn lán trại, và nếu anh ta có làm ồn, có quậy phá thì người ta cũng sẽ ngăn cản được ngay, thậm chí có thể trói lại. Vấn đề là bọn cai tù cấp dưới cũng không thèm để mắt đến chuyện rượu chè. Chúng thừa biết rằng không cho uống thì còn tệ hơn. Thế nhưng rượu ở đâu ra?

Rượu ở trong trại là rượu mua của những người được gọi là buôn rượu. Họ chỉ có mấy người thôi, nhưng họ hành nghề liên tục và hiệu quả, mặc dù những kẻ uống rượu và “rong chơi” nói chung là ít, bởi vì rong chơi đòi hỏi có tiền, mà tiền trong tù kiếm ra lại khó. Việc buôn bán được bắt đầu, được tiến hành và được kết thúc theo một cách khá độc đáo. Chẳng hạn, có một tù nhân nào đó không có nghề ngỗng gì và lại không muốn lao động (những người như thế vẫn có), nhưng lại muốn có tiền, hơn nữa lại nóng ruột, muốn có tiền ngay. Anh ta phải có một ít tiền để khởi nghiệp, phải có gan buôn rượu; cái nghề này là nghề dũng cảm, đòi hỏi chịu rủi ro lớn. Có thể vì nó mà anh ta phải trả giá bằng cái lưng của mình và bị tước sạch hàng hóa và tiền vốn. Nhưng người buôn rượu vẫn chấp nhận. Tiền vốn ban đầu không nhiều, vì thế lần đầu tiên anh ta tự mình mang đến trại và bán giá hời. Anh ta làm như thế lần thứ hai, thứ ba, và nếu không rơi vào tay bọn cai tù thì anh ta khuếch trương công việc, và đến khi đó mới xây dựng nghề buôn của mình trên những nền tảng rộng lớn: anh ta chuyển dần thành cai thầu, thành tư bản, có các đầu mối và tay chân, chịu rủi ro ít hơn nhiều mà thu lợi ngày càng lớn hơn. Bọn tay chân mới chịu rủi ro thay anh ta.

Trong trại bao giờ cũng có nhiều người thua cờ bạc, rong chơi cho đến hết đồng xu cuối cùng, nhiều người không có nghề nghiệp, đáng thương và rách rưới, nhưng được cái là có dũng cảm và quyết tâm đáng kể. Những người này chỉ còn lại một thứ được coi là tài sản còn nguyên vẹn, đó là tấm lưng trần; nó có thể được dùng vào việc gì đó và khoản tiến vốn cuối cùng này anh chàng khánh kiệt kia cũng dám đem ra quay vòng. Anh ta tìm đến tên chủ thầu xin vác rượu vào trại. Một tên buôn rượu giầu tiền thì cũng có vài tên vác thuê như vậy. Ở đâu đó bên ngoài trại có một người thế này - không phải lính, không phải thị dân, đôi khi chỉ là một cô gái; người này dùng tiền của chủ thầu, được một phần thưởng nhất định, thường là rất không nhỏ, đi mua rượu trong các quán rượu, giấu kín đâu đó, nơi bọn tù đến làm việc. Thường thì bao giờ tên phu khuân vác cũng nếm rượu trước và chỗ hụt ấy được bổ sung một cách phi nhân tính bằng nước lã; nhận hay không nhận thì người tù ở nhà cũng không được quá kỹ lưỡng: may mà đồng tiền của anh ta không mất hết, rượu vẫn được mang về, dù thế nào đi nữa, rượu vẫn cứ là rượu. Tên buôn rượu thận trọng đã thuê trước những người chuyên chở mang những bộ ruột bò rỗng đến gặp tên phu khuân vác. Những bộ ruột này đầu tiên được rửa kỹ, sau đó được đổ đầy nước, như vậy chúng luôn được bảo quản trong nước và luôn được căng ra, thuận tiện cho lúc đổ rượu. Khi đầy rượu rồi người tù quấn quanh mình, cố quấn ở những chỗ kín đáo nhất trong người. Chắc chắn đây là nơi thể hiện tài nghệ khéo léo, mánh khóe trộm cắp của người buôn lậu. Lương tâm của người đó cũng có phần bị đụng chạm. Anh ta cũng phải lường gạt bọn lính áp giải và lính tuần tra. Anh ta đã lừa chúng nhiều lần rồi. Đối với một tên trộm bợm thì lính áp giải, đôi khi là lính mới, thế nào cũng hớ. Dĩ nhiên, anh ta đã nghiên cứu sơ bộ tên lính áp giải này rồi, đã hình dung được thời gian và địa điểm làm việc của hắn. Nếu anh tù nhân là thợ nướng bánh, anh ta sẽ trèo lên nóc lò: ai biết anh ta làm gì trên đó? Lính áp giải cũng chẳng lên theo. Khi đến gần trại, anh ta cầm một đồng tiền bạc mười lăm hoặc hai mươi cô-pếch để đề phòng mọi trường hợp bất trắc, và đứng cửa chờ tên cai tù. Bất kỳ tù nhân nào đi làm về đều bị tên cai đi tuần khám xét, sờ nắn khắp người, rồi sau đó mới mở cửa cho vào. Người mang rượu thường hy vọng rằng bọn chúng thấy xấu hổ vì khám quá chi tiết, nên chỉ sờ nắn một vài chỗ thôi. Nhưng đôi khi tên cai tù đưa tay đến những chỗ đó và mò thấy rượu. Khi đó chỉ còn một biện pháp cuối cùng: kẻ buôn lậu lẳng lặng và bí mật dúi vào tay tên cai đồng xu đã nằm kín trong tay. Cũng có khi nhờ động thái này anh ta vào trại trót lọt và mang được rượu tới nơi. Nhưng đôi khi biện pháp không thành, lúc đó anh ta phải thanh toán bằng tài sản cuối cùng của mình: đó là tấm lưng. Việc này được báo cáo lên thiếu tá, tội nhân bị quất vào tài sản đó, quất rất đau, rượu bị sung vào công sản, kẻ buôn lậu nhận hết trách nhiệm về mình, không khai báo chủ thầu, nhưng cần chú ý rằng đó không phải là anh ta khinh bỉ việc khai báo, mà chỉ duy nhất vì việc đó không lợi cho anh chút nào: đằng nào thì anh cũng bị đánh, nếu được an ủi thì chỉ là hai người bị đánh. Nhưng anh ta sẽ còn cần đến chủ thầu, mặc dù theo thông lệ và theo thỏa thuận sơ bộ anh sẽ không nhận được của chủ thầu một đồng nào cho cái lưng bị băm vằm kia. Còn nói chung về chuyện khai báo thì hoạt động này ngày một nở rộ. Trong trại kẻ khai báo không hề bị khinh rẻ chút nào, thậm chí cũng không có ai oán giận anh ta. Anh ta không bị ghẻ lạnh, vẫn có người chơi với anh ta, cho nên nếu trong trại mà bạn muốn chứng minh rằng khai báo là việc bẩn thỉu thì người ta hoàn toàn không hiểu được bạn. Cái lão tù nhân quí tộc phóng đãng và đê tiện mà tôi đã cắt đứt mọi quan hệ đã kết bạn với tên lính hầu của thiếu tá là Fedka và trở thành mật thám của hắn, còn hắn thì báo lại cho thiếu tá tất cả những gì nghe được về các tù nhân. Ở đây ai cũng biết chuyện này, nhưng không bao giờ có ai nghĩ đến việc trừng trị hoặc đơn giản là quở trách tên vô lại đó.

Nhưng tôi lại lạc đề rồi. Rõ ràng là rượu được mang vào chót lọt, lúc đó tên chủ thầu nhận những bộ ruột, trả tiền công rồi bắt đầu tính toán. Theo cách tính này thì lô hàng này rất đắt, vì thế để được lãi nhiều hắn ta lại đổ ra một lần nữa, pha thêm nước lã một lần nữa, lần này gần đến một nửa, như vậy việc pha chế hoàn thành, chỉ đợi người mua nữa thôi. Đến ngày lễ hội đầu tiên, đôi khi là vào ngày thường cũng có người đến mua. Đó là một anh chàng tù nhân đã làm việc quần quật như con bò thiến được mấy tháng và đã tích cóp được mấy đồng tiền để uống rượu cho kỳ hết vào ngày đã định. Con người lao khổ đáng thương này đã thấy kỳ hạn đó từ lâu cả trong giấc mơ, và trong những điều ước hạnh phúc giữa giờ lao động kỳ hạn đó bằng vẻ hào nhoáng của mình đã nâng đỡ tinh thần anh trong cuộc đời giam cầm buồn chán. Cuối cùng thì ánh bình minh của một ngày sáng lạn xuất hiện ở phương Đông: tiền đã tích lũy được, không bị tước đoạt, không bị đánh cắp, và thế là anh ta đem đến cho tay bán rượu. Tay này rót rượu cho anh, đầu tiên cố gắng là rượu nguyên chất nhất, tức là chỉ có hai lần thêm nước, nhưng dần dần những chỗ đã uống đi thì lại được đổ thêm nước vào. Một cốc rượu ở đây giá bằng gấp năm, gấp sáu lần ngoài quán. Các bạn có thể hình dung được rằng phải uống đến bao nhiêu cốc như thế và phải trả đến bao nhiêu tiền mới đến độ say! Nhưng vì mất thói quen uống rượu, vì phải thèm nhịn trước đó nên chả mấy chốc mà anh tù bị say và thường thường là anh ta cứ uống cho đến bao giờ hết tiền thì thôi. Đến lúc ấy lại xuất hiện những thay đổi mới: người bán rượu đồng thời cũng là kẻ cho vay nặng lãi. Đầu tiên là con nợ phải mang đến cho hắn những đồ tư dụng mới sắm, rồi dần dần đến những đồ rách, rồi cuối cùng là đến những đồ của trại. Uống sạch sành sanh đến mảnh vải cuối cùng rồi, người say ngủ vùi đến tận hôm sau, ngủ dậy thấy ong ong trong đầu không ngớt, lại lần đến tên bán rượu lạy van xin một hớp cho đỡ váng đầu. Anh ta đau buồn trải qua vận rủi. Ngày hôm đó anh lại được nhận tiền công, lại lao động mấy tháng không dám cúi cổ, chỉ mơ ước được đến ngày chè chén thỏa thuê, cái ngày chìm đi biệt tăm vào trong hư vô, để rồi lần lần lại lên dây cót cho mình để rồi lại chờ hoài cái ngày như thế sẽ tới, cái ngày hãy còn xa xôi lắm, nhưng thế nào nó cũng đến vào lúc nào đó theo đúng chu kỳ.

Còn về tên buôn rượu thì sau khi đã bán đi được một số lớn, thu được mấy chục rúp, hắn ta lại chuẩn bị một mẻ rượu mới, lần này không pha thêm nước lã nữa, bởi vì rượu đó là dành cho chính hắn; buôn bán như thế đủ rồi, bây giờ đến lúc ăn mừng! Thế là bắt đầu chè chén, nhậu nhẹt, nhạc nhủng. Tiền bỏ ra nhiều. Các quan chức trong trại, kể cả những bậc gần gũi nhất, thấp kém nhất cũng được chiều lòng. Tiệc tùng có khi kéo dài mấy hôm. Hiển nhiên, rượu chuẩn bị thế rồi chẳng mấy chốc cũng uống hết, khi đó kẻ ăn chơi lại tìm đến những tên bán rượu khác đang rình đợi và lại uống cho đến đồng xu cuối cùng dính túi. Dù anh em tù nhân có bảo vệ hắn ta thế nào đi nữa thì đôi khi hắn ta cũng lọt vào những cặp mắt soi mói của quan chức cấp cao, của tên thiếu tá hoặc của sĩ quan đi tuần. Anh ta bị bắt vào phòng bảo vệ, bị tịch thu hết tiền nong nếu bị khám thấy và kết cục là bị đòn. Anh chàng lảo đảo quay về trại và chỉ mấy hôm sau lại lao vào nghề bán rượu. Cũng có những tên rong chơi khác, dĩ nhiên giầu có, lại mơ ước đến chuyện đàn bà. Với một số tiền lớn đôi khi các chàng bí mật bỏ việc ra ngoài pháo đài đi về phía ngoại ô có kèm theo một tên lính áp giải đã bị mua chuộc. Tại đó, trong một căn nhà nhỏ bé hẻo lánh sát ngoài rìa phố họ đánh chén tưng bừng và tiêu đi một số tiền lớn. Tù nhân mà có tiền thì người ta không khinh rẻ được; tên áp giải thường được chọn trước, hắn biết việc mình phải làm. Thường thì chính những tên áp giải này lại là những tù binh kế cận vào trại. Tuy nhiên, có tiền thì việc gì cũng làm được, và những chuyến rong chơi như thế này hầu như vẫn được giữ kín. Cũng cần nói thêm rằng việc này ít khi xảy ra vì cần rất nhiều tiền và bọn háu phái đẹp tìm đến những biện pháp khác tuyệt đối an toàn.

Ngay từ những ngày đầu tiên tôi sống ở đây có một anh tù trẻ tuổi hết sức khôi ngô đã gợi cho tôi tính tò mò đặc biệt. Tên anh ta là Sirotkin. Anh là người đáng nghi vấn về nhiều phương diện. Trước hết tôi ngạc nhiên vì gương mặt anh thật đẹp, anh chưa đến hai mươi ba tuổi. Anh ở trong khám đặc biệt, tức là khám tù vô thời hạn, nghĩa là anh bị coi là tội phạm quân nhân quan trọng nhất. Trầm tĩnh và hiền dịu, anh ít nói, ít cười, mắt anh màu xanh, nét mặt trang nghiêm, mặt mũi sạch sẽ, dịu dàng, tóc màu dẻ sáng. Thậm chí cái đầu cắt một nửa của anh cũng không làm anh dị dạng: anh chàng điển trai như vậy đấy. Anh không biết một nghề ngỗng gì, nhưng tiền thì hay kiếm được, tuy không nhiều lắm. Anh có đặc điểm là lười biếng, luộm thuộm. Hình như có người nào mặc đẹp cho anh, đôi khi là chiếc áo sơ mi đỏ và rõ ràng là Sirotkin mừng lắm: anh đi khắp các lán trại khoe mình. Anh không uống rượu, không cờ bạc, hầu như không cãi cọ với ai. Anh thường đi ra phía sau các lán trại, hai tay trong túi, thủng thẳng, trầm tư. Anh nghĩ gì, điều ấy khó hình dung được. Có người tò mò, đôi khi gọi anh ta lại, hỏi chuyện vài câu, lập tức anh trả lời ngay, thậm chí còn lịch sự chứ không theo giọng tù trại, nhưng bao giờ cũng nói ngắn gọn, không con cà con kê và nhìn người hỏi với con mắt của trẻ lên mười. Nếu anh ta có tiền, anh ta cũng không mua cho mình cái gì cần thiết, không đưa sửa áo, không mua giày mới, mà chỉ mua bánh mỳ, bánh bàng để chén, dường như mới lên bảy tuổi. Anh em tù nhân thường gọi đùa: “Này anh chàng mồ côi Sirotkin!”[1] Lúc không đi làm anh hay lang thang ở các lán trại; mọi người thường bận công việc của mình, riêng anh thì chả biết làm gì. Người ta nói với anh một câu gì đó, thường là để chế nhạo (người ta vẫn hay đùa anh và các bạn anh theo kiểu như thế), - anh ta không nói câu gì, quay người đi sang lán khác; đôi khi nếu bị cười nhiều quá thì anh đỏ mặt lên. Đôi khi tôi nghĩ; vì sao con người hiền hòa, thật thà như thế lại phải vào trại? Có lần tôi ốm phải nằm viện tù. Sirotkin cũng ốm, nằm cạnh tôi. Có chiều tôi nói chuyện với anh, anh bỗng nổi hứng kể cho tôi nghe rằng người ta bắt anh nhập ngũ, lúc đưa tiễn, mẹ anh khóc nức nở thế nào và khi vào lính anh thấy khổ sở thế nào. Anh nói thêm rằng anh không chịu nổi cuộc sống ấy, vì trong đó ai cũng cáu kỉnh, nghiêm khắc, còn chỉ huy thì hầu như không ai ưa anh.

- Thế rồi kết cục ra sao? - tôi hỏi, - cơn cớ gì mà anh phải vào đây? Mà lại còn vào khu biệt giam nữa chứ! Thật là một Sirotkin!, Sirotkin!

- Phải rồi, ông Aleksandr Petrovich, tôi ở tiểu đoàn ấy có một năm rồi đến đây vì tôi giết chết ông đại đội trưởng Grigori Petrovich.

- Tôi có nghe chuyện ấy, nhưng không tin. Anh vừa nói là giết ai nhỉ?

- Chuyện thế này, ông Aleksandr Petrovich, lúc ấy tôi thấy khổ quá.

- Thế những tân binh khác họ sống thế nào? Tất nhiên ban đầu họ cũng thấy nặng nề, sau đó quen dần, và anh thấy đấy, họ cũng thành những chiến sĩ cừ khôi chứ sao. Chắc hẳn là mẹ anh chiều chuộng anh, cho anh bú mớm đến năm mười tám chứ gì.

- Tất nhiên là mẹ tôi rất yêu tôi rồi. Hôm tôi vào lính, tôi nghe nói mẹ tôi nằm bẹp không gượng dậy được... Rốt cuộc tôi thấy làm lính quá cơ cực. Sĩ quan có thương mình đâu, lúc nào cũng phạt, mà phạt vì chuyện gì cơ chứ? Tôi đã qui phục tất cả rồi, chịu sống quy củ, không uống rượu, không vay mượn của ai, thế mà, ông Aleksandr Petrovich này, không vay mượn lại là việc xấu xa, cứ vay còn hơn. Tất cả xung quanh đều là những con người táng tận lương tâm như vậy, muốn khóc cũng không có chỗ. Nhiều khi tôi phải vào một xó xỉnh nào đó mà khóc. Thế rồi một lần tôi đứng gác. Đêm ấy đến phiên tôi. Tôi đứng ngay cổng vào. Đêm thu. Gió lạnh. Tối đen nhìn căng cả mắt. Tôi thấy buồn nôn, buồn nôn quá lắm. Tôi đặt súng xuống dưới chân, tháo lưỡi lê đặt xuống bên cạnh, cởi chiếc ủng bên phải. Tôi cúi mình cho nòng súng chĩa vào tim, dùng ngón chân trỏ nhấn cò. Tôi mở mắt - súng bị hóc! Tôi xem lại súng, lau cái chốt hãm, nạp thuốc đạn mới, sửa đá lửa rồi lại chĩa vào ngực mình. Sao lại thế nhỉ? Thuốc nổ bùng lên mà không có đạn! Tôi nghĩ, sao lại thế được. Tôi lấy súng lên, đi giày vào, lắp lưỡi lê, lẳng lặng đi vòng. Công việc ấy tôi vẫn quyết định làm: đi đâu thì đi, cứ là phải trốn khỏi đời lính! Nửa tiếng sau ông chỉ huy đến quát tôi “Đứng gác mà thế này à?” Tôi nâng súng lên dí sát lưỡi lễ vào ngực ông ta. Tôi đã phải đi bốn ngàn cây số, bây giờ đến đây, vào khu biệt giam...

Anh ta không nói dối. Vả lại, phải vì một lẽ gì anh mới bị biệt giam chứ? Những tội thông thường này thì bị trừng phạt nhẹ hơn nhiều. Tuy nhiên, trong số các bạn chỉ có mình Sirotkin là đẹp trai thế. Còn về những người khác như anh, ở chỗ chúng tôi có độ khoảng mười lăm người, thì trông lạ lắm: chỉ có vài ba gương mặt là chấp nhận được, còn những anh khác thì toàn là tai xệ, méo mó, dúm dó, có cả những anh đầu bạc nữa chứ. Nếu hoàn cảnh cho phép, một khi nào đó tôi sẽ kể về tất cả cái mớ người đó một cách chi tiết. Sirotkin chơi với Gazin, chính tôi mở đầu chương sách này bằng chuyện về y. Tôi đã kể rằng chính anh ta say rượu sục vào trong bếp và điều đó làm đảo lộn mọi khái niệm của tôi về cuộc sống trong trại khổ sai.

Gazin là con người khủng khiếp. Y gây ra cho mọi người một ấn tượng như bị tra tấn, hành hạ. Tôi luôn luôn cho rằng không gì hung hãn và quái đản hơn y. Ở Tobolsk tôi đã gặp tên ăn cướp nổi tiếng ác độc Kamenev, sau đó gặp tên Sokolov, một tên tù đã bị ra tòa, thuộc loại lính đào ngũ, giết người dã man. Nhưng không có ai gây cho tôi ấn tượng kinh tởm như Gazin. Đôi khi tôi cứ hình dung rằng tôi đang thấy trước mắt mình một con nhện khổng lồ, to bằng con người. Hắn ta người Tatar, khỏe kinh hồn, khỏe hơn tất cả mọi người trong trại, cao hơn người thường, vóc dáng như thần Hec-quyn, có cái đầu to lớn, dị hình, mất cân đối, khi đi thì lưng gù gù, nhìn ai thì mắt xéo xéo. Trong trại có nhiều tin đồn lạ lùng về hắn: người ta biết hắn vốn là quân nhân, nhưng các tù nhân bàn tán với nhau hắn đào ngũ ở Nerchinsk; hắn bị đày đi Sibir nhiều lần, trốn trại nhiều lần, thay tên nhiều lần và cuối cùng nhập trại chúng tôi, vào khu biệt giam. Người ta còn kể rằng xưa kia hắn thích cắt tiết trẻ con, chỉ để thỏa mãn ham muốn thế thôi. Hắn lôi đứa trẻ đến một nơi thuận tiện, đầu tiên là dọa nạt, hành hạ đứa bé, sau khi đã hoàn toàn thỏa mãn thấy con mồi bé nhỏ khốn khổ khiếp hãi và run rẩy, hắn mới nhẹ nhàng, chậm rãi cắt tiết. Có thể những chuyện đó đều là bịa đặt, nhưng về sau đó là ấn tượng nặng nề chung mà Gazin tạo ra cho tất cả mọi người, nhưng những chuyện như thế lại rất phù hợp với hắn, với bộ mặt hắn. Thế nhưng, ở trong trại hắn lại xử sự không phải như một thằng say, vào những ngày thường lại rất khôn ngoan. Hắn luôn luôn trầm lặng, không hề cãi lộn với ai và trốn tránh các vụ cãi cọ, nhưng dường như xuất phát từ chỗ khinh bỉ người khác, dường như coi mình cao hơn người khác: hắn rất ít nói và có vẻ như cố tình không muốn giao thiệp. Tất cả mọi động tác của hắn đều chậm rãi, khoan thai và tự tin. Nhìn đôi mắt hắn thì biết rằng hắn rất không phải là ngu đần, mà là đặc biệt láu lỉnh, nhưng nét mặt và nụ cười của hắn luôn luôn cho thấy một cái gì đó ngạo mạn và ác độc. Hắn buôn bán rượu và ở trong trại hắn là một trong những tên bán rượu dầm tiền nhất. Nhưng một năm hai lần hắn cho phép mình uống đến say khướt, và những lúc đó hắn bộc lộ ra tất cả những gì là dã thú nhất trong con người hắn. Hắn say dần dần. Đầu tiên hắn gây sự với mọi người bằng những nụ cười mỉa mai hết sức độc ác có tính toán và dường như được chuẩn bị đã lâu rồi, cuối cùng, khi đã say mèm hắn nổi khùng một cách đáng sợ, vớ dao lao vào mọi người. Đám tù nhân vốn đã biết sức mạnh đáng ghê sợ của hắn, liền chạy dạt ra lẩn tránh, còn hắn thì lao vào bất cứ ai trước mặt. Nhưng rồi mọi người cũng tìm được cách xử lý hắn. Phải đến một chục người cùng lán trại với hắn đột ngột xông vào cùng một lúc để đánh hắn. Không thể tưởng tượng được còn có gì dã man hơn trận đòn ấy. Hắn bị đánh vào ngực, phía dưới trái tim, dưới ức, bị đấm vào bụng, bị đòn rất nhiều và rất lâu, và họ chỉ dừng tay khi hắn đã ngất xỉu và nằm gục như chết. Với người khác thì không ai dám đánh như thế: đánh thế có nghĩa là giết chết. Nhưng thế không phải là Gazin. Sau khi đánh cho hắn ngất xỉu hoàn toàn rồi người ta bọc hắn vào một cái áo bông ngắn rồi khiêng về đặt lên phản. Người ta bảo “Để yên cho nó nằm đấy!” Quả thật, đến sáng hôm sau hắn tỉnh dậy lại gần như khỏe hẳn, lại lặng thinh và lầm lũi đi làm. Cứ mỗi lần Gazin uống say, mọi người trong trại lại biết rằng với hắn ngày đó chắc chắn sẽ kết thúc bằng một trận đòn nhừ tử. Chính hắn cũng biết thế mà vẫn cứ uống. Đã mấy năm liền như vậy. Cuối cùng, người ta nhận ra rằng Gazin dần dần đuối sức. Hắn bắt đầu kêu ca về nhiều vết đau, bắt đầu gầy đi trông thấy và phải đi quân y viện nhiều hơn. Anh em tù kháo nhau “Thằng ấy chịu rồi!”.

Hắn bước vào bếp, đi kèm là cái tay Ba Lan đểu giả kéo đàn violon, mà bọn rong chơi thuê hắn để hoàn thiện cuộc vui chung. Gazin dừng lại giữa bếp, lặng lẽ và chăm chú nhìn những người có mặt. Mọi người nín lặng. Cuối cùng hắn nhìn thấy tôi và ông bạn tôi, hắn giận dữ và trêu chọc nhìn chúng tôi rồi nở một nụ cười ngạo nghễ, dường như hắn đang nghĩ thầm điều gì, rồi hắn bước lảo đảo, tiến về phía bàn chúng tôi.

- Xin hỏi các ngài, - hắn bắt đầu nói (hắn nói bằng tiếng Nga), - các ngài có nguồn thu nhập ở đâu mà hạ cố ngồi uống trà ở đây?

Tôi lẳng lặng nhìn sang bạn tôi và hiểu rằng tốt nhất là nên im lặng, không trả lời. Nếu trái ý hắn thì hắn nổi xung lập tức.

- Chắc hẳn các ngài có tiền chứ? - Hắn tiếp tục tra hỏi. - Chắc hẳn các ngài có hàng đống tiền đấy chứ? Chắc hẳn vì thế mà các ngài phải vào trại khổ sai để uống trà? Có phải thế không? Các ngài nói đi!

Nhưng thấy chúng tôi nhất định im lặng, không thèm để mắt đến hắn, hắn đỏ mặt lên, chân tay run rẩy, tức tối. Trong góc nhà gần chỗ hắn có một quầy hàng lớn bầy bán bánh mỳ cắt lát, chuẩn bị cho bữa ăn trưa và tối của tù nhân. Quầy này lớn lắm, đủ bánh mỳ cho cả nửa trại, nhưng bây giờ đang trống không. Hắn dạng hai tay ôm cả cái quầy vung lên dọa. Chỉ chút xíu nữa là hắn ném đại vào đầu chúng tôi. Mặc dầu đó là việc giết người hay có ý đồ giết người, thì cũng là chuyện phiền toái hết sức cho cả trại: bắt đầu các vụ lùng sục, khám xét, tăng cường kỷ luật. Vì thế anh em tù nhân tìm mọi cách cố gắng giữ mình không để xảy ra những chuyện quá quắt như vậy, - mặc dầu thế, mọi người lúc này đều nín thở, chờ đợi. Không ai lên tiếng bảo vệ chúng tôi! Không ai quát nạt để cản Gazin! - Họ căm thù chúng tôi đến như vậy! Họ thấy hả dạ trước tình cảnh nguy hiểm của chúng tôi... Thế nhưng sự thể lại kết thúc thuận lợi: đúng lúc hắn định giáng cái quầy bánh xuống thì có người nào đó từ phòng ngoài kêu to lên:

- Gazin! Có kẻ ăn cắp rượu kìa!

Hắn đặt uỵch cái quầy xuống sàn nhà rồi chạy thẳng khỏi bếp.

- Đúng là Chúa cứu mạng chúng con! - Các tù nhân nói với nhau, và mãi về sau họ vẫn nói lại chuyện đó.

Sau này tôi không thể biết được cái thông tin về vụ ăn cắp rượu kia là đúng sự thật hay chỉ là bịa ra để cứu chúng tôi mà thôi.

Buổi chiều, khi trời đã tối, trước lúc đóng cổng trại tôi cứ đi đi lại lại gần chỗ hàng rào, một nỗi buồn nặng nề phủ bóng xuống tâm hồn tôi, sau này trong suốt cuộc đời lao lý tôi cũng không bao giờ cảm thấy có nỗi buồn nào lớn lao như thế. Ngày đầu tiên bị giam cầm thật quả là nặng nề, dù là ở đâu đi nữa: trong trại, trong sà lim hay chốn khổ sai... Nhưng tôi nhớ rằng tâm hồn tôi phần lớn bị choán bởi một ý nghĩ mà về sau cứ theo riết tôi trong suốt thời gian ở trại - ý nghĩ mà phần nào đó không giải quyết được và đến bây giờ với tôi vẫn không giải quyết được, đó là vấn đề về sự bất công trong hình phạt đối với cùng một tội danh. Tất nhiên, tội ác thì không thể so sánh tội này với tội khác, dù chỉ là tạm so sánh. Thí dụ, có hai kẻ cùng giết người; mọi hoàn cảnh của cả hai sự kiện đều được cân nhắc, và đối với cả hai việc đều có một cách trừng trị gần như giống nhau. Tuy nhiên, các bạn có thấy không, hai tội ác ấy khác nhau xa lắm. Chẳng hạn, một người giết chết người khác vì một lý do nhỏ mọn, vì một củ hành: anh ta ra đường, đâm chết một bác nông dân đi qua, mà bác đó chỉ vẻn vẹn có một củ hành trong túi “Đấy! Cha nội ơi! Cha nội hướng tôi đến chỗ này kiếm ăn. Tôi giết một bác nông dân mà tìm được độc có một củ hành trong túi”. “Đồ ngốc. Củ hành chỉ đáng đồng xu. Giết một trăm người mới được một trăm củ hành, như thế mới được một rúp!” (truyền thuyết trong trại). Còn kẻ kia giết người là để bảo vệ danh dự cho vị hôn thê, cho em gái và cho con gái của mình chống lại một tên độc tài dâm dục. Một kẻ bụi đời giết người vì bị cả một đơn vị mật thám bắt giữ, hắn muốn bảo vệ tự do của mình, mạng sống của mình vì đôi khi hắn đã sắp chết đói; còn kẻ khác thì giết trẻ con chỉ vì thích giết, hắn muốn cảm nhận trên tay mình có dòng máu ấm, muốn sướng khoái vì nỗi kinh hoảng của người khác, vì phút giãy đạp cuối cùng của con bồ câu bị cắt tiết. Và thế thì sao? Cả kẻ này lẫn kẻ kia đều đi lao ngục khổ sai. Quả thật là cũng có sự khác biệt về thời hạn bị trừng phạt, nhưng những khác biệt này tương đối ít, còn các hình thức trong cùng một thể loại tội ác thì nhiều vô kể. Cứ một tính cách thì là một hình thức. Nhưng cứ cho rằng việc hòa giải, đồng nhất những khác biệt đó là điều không thể, rằng đây là bài toán đặc biệt không thể giải được, giống như bài toán về phép cầu phương vậy. Nhưng cứ cho rằng thậm chí nếu như sự bình đẳng ấy không tồn tại đi nữa, thì các bạn hãy nhìn sang một sự khác biệt khác, sự khác biệt trong hệ quả của sự trừng phạt... Một con người vào trại rồi ho lao, rồi tàn lụi đi như một ngọn nến. Một người khác trước khi vào trại thậm chí còn chưa biết rằng trên đời lại có một cuộc sống vui vẻ đến thế, lại có một nhóm bạn bè dũng mãnh hợp ý đến thế. Đó, những người vào trại là như thế đó. Chẳng hạn, có người có học thức, có lòng tự trọng cao cả, có ý thức, có con tim. Chỉ cần nỗi đau riêng của trái tim mình, chưa nói đến các hình thức trừng phạt nào khác, cũng đã đủ giết chết anh ta bằng sự hành hạ riêng tư. Anh ta tự lên án mình về tội lỗi của mình còn tàn tệ hơn, ghê gớm hơn bất kỳ một bộ luật hung bạo nào. Thế nhưng bên cạnh anh ta lại có một người khác, người này thậm chí trong suốt cuộc đời tù đày còn không thèm mảy may suy nghĩ về việc giết người của mình. Thậm chí người ấy còn cho mình là đúng. Rồi lại có những con người cố tình gây ra tội ác chỉ cốt để được đi tù khổ sai để bằng cách đó mà thoát khỏi cuộc đời còn khổ sai hơn, cuộc đời bên ngoài cổng trại. Ở ngoài đó anh ta bị hắt hủi tàn tệ nhất, chưa bao giờ được một bữa no và phải làm cho chủ từ sáng đến tận đêm khuya, còn công việc khổ sai trong này nhẹ nhàng hơn so với ở nhà. Bánh mỳ thì được thỏa thích và ngon miệng như chưa được thấy bao giờ, ngày lễ tết còn có thịt bò, có tiền cho thêm, có khả năng kiếm đồng ra đồng vào. Còn cộng đồng thì sao? Toàn là những người láu cá, khôn ngoan, hiểu biết và anh ta nhìn các đồng đội của mình với sự kinh ngạc đầy thán phục. Chưa bao giờ anh được gặp những người như thế, anh coi họ là một xã hội thượng lưu nhất có được trên cõi đời này. Chẳng lẽ đối với cả hai loại người đó lại cùng một mức độ cảm thấu như nhau hay sao? Nhưng thôi, bàn những vấn đề không giải quyết được thì bàn làm gì! Trống đã điểm rồi. Đã đến giờ về các lán trại.

❀ ❀ ❀

[1] Chơi chữ: tên anh là Sirotkin, còn kẻ mồ côi là sirota (N.D.).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.