Bắt đầu vòng khám xét cuối cùng. Sau vòng này là các trại đóng cửa, mỗi trại có một khóa riêng và tù nhân bị khóa cho đến sáng mai. Người khám là viên hạ sĩ và hai tên lính.
Các tù nhân phải xếp hàng, đôi khi ngoài sân, có khi cả sĩ quan đi tuần cũng đến. Thường thường thì thủ tục này được tiến hành theo lối gia đình, nghĩa là giao phó cho từng lán. Bây giờ cũng thế. Những người khám thường nhầm lẫn, đếm sai, đã ra ngoài rồi lại quay lại. Cuối cùng, những kẻ đi tuần đáng thương kia vẫn đếm đủ đến con số mong muốn và đóng cửa trại. Mỗi trại chứa đến khoảng ba mươi tù nhân, các lán khá chật. Đi ngủ thì lại vẫn sớm, vì thế mỗi người phải làm một việc gì đó.
Trong số ban chỉ huy trại chỉ còn lại một người thương binh mà tôi đã nhắc đến trước đây, mỗi trại lại có một anh trưởng nhóm tù nhân do chính tên thiếu tá cử ra, chắc hẳn là vì anh ta có tư cách tốt. Rất thường xảy ra tình hình là về phần mình các trưởng nhóm cũng phạm lỗi nghiêm trọng; khi đó họ bị đánh đòn, ngay lập tức bị hạ chức và bị thay bằng những người khác. Nhóm trưởng trại tôi là Akim Akimych, tôi rất ngạc nhiên là nhiều khi ông ta mắng mỏ tù nhân, còn tù nhân cứ chế diễu ông. Người thương binh khôn hơn ông ta, không bao giờ can thiệp chuyện gì, còn nếu phải động lưỡi thì cũng chỉ nói những câu lịch sự để cho lương tâm được thanh thản. Anh ta lặng yên ngồi trên giường khâu ủng. Tù nhân hầu như không để ý đến anh.
Ngày đầu tiên ở trại tôi đã có một nhận xét, mà về sau tôi khẳng định là đúng: đó là không phải tất cả mọi người đều là tù nhân, dù họ là ai đi nữa, bắt đầu từ những người có quan hệ trực tiếp với tù nhân, chẳng hạn như lính áp giải, lính tuần tra cho đến những người nói chung là có một chút dính líu nào đó với sinh hoạt khổ sai - thì đều nhìn tù nhân theo một cách phóng đại nào đó. Dường như từng giờ, từng phút họ bồn chồn lo lắng chờ đợi có một tù nhân cầm dao vọt tới lao vào một người của họ. Nhưng điều đáng chú ý hơn cả là bản thân tù nhân cũng nhận thức ra rằng người ta sợ mình và rõ ràng điều đó tiếp thêm tính ngang tàng nơi y. Trong khi ấy thì người lãnh đạo tốt nhất đối với tù nhân là người nào không hề sợ họ. Mặc dù có vẻ ngang tàng đấy, nhưng bản thân các tù nhân lại thấy thoải mái hơn khi người khác biết tin vào họ. Những người này có thể lôi kéo tù nhân về phía mình. Trong thời kỳ tôi đi khổ sai đã từng có những trường hợp, mặc dầu là rất hiếm hoi thôi, khi có một người nào đó trong giới quan chức đến thăm trại mà không có người tùy tùng. Có thể thấy điều đó gây ngạc nhiên đến là thế nào cho đám tù nhân, mà là gây ngạc nhiên theo nghĩa tốt. Ông khách viếng thăm quả cảm như vậy bao giờ cũng được tù nhân kính trọng, và nếu như trong thực tế có xảy ra điều gì đó tồi tệ, thì trước mặt ông chuyện ấy cũng không xảy ra. Nỗi khiếp sợ tù nhân được thấy ở khắp nơi, chỗ nào mà tù nhân có mặt, và quả thật tôi cũng không biết vì sao lại có nỗi khiếp sợ ấy. Cũng có một số cơ sở, bắt đầu từ chính vẻ bên ngoài của tù nhân được gọi là kẻ cướp, ngoài ra bất kỳ người nào đến gần trại đều cảm thấy rằng cả cái đám người ấy tụ họp lại đây đều không phải theo ý nguyện của mình, và rằng dù ở mức độ nào đi nữa thì cũng không thể biến người đang sống thành cái xác chết: người sống vẫn có tình cảm, có khao khát trả thù, có khao khát sống, có say đắm và có nhu cầu thỏa mãn đắm say. Cho dù như thế tôi vẫn tin chắc rằng đối với tù nhân thì chẳng có gì đáng phải sợ hãi cả. Không phải là dễ dàng và nhanh chóng mà một người dám cầm dao lao vào người khác. Tóm lại, nếu như có nguy hiểm gì đó, nếu như hiếm hoi có xảy ra những trường hợp bất hạnh tương tự, thì có thể kết luận ngay rằng nó chẳng đáng kể gì cả. Thôi, bây giờ tôi chỉ nói đến những tù nhân đã thành án, trong đó có nhiều người vui mừng rằng cuối cùng đã vào được trại (đôi khi cuộc sống mới vui sướng biết là dường nào!), họ chấp thuận sống một cách yên ổn và không cho phép những người ngang ngạnh được quá hăng hái. Bất cứ người tù khổ sai nào, dù anh ta có bặm trợn đến đâu đi nữa, thì cũng đều sợ đủ mọi thứ trong trại. Tù chưa thành án là chuyện khác. Loại tù này có khả năng lao vào người ngoài chẳng vì chuyện gì cả, chỉ đơn thuần là vì, chẳng hạn, ngày mai lẽ ra anh ta phải bị trừng phạt, thì nếu gây ra một vụ gì đó, việc trừng phạt lại phải dãn cách xa hơn. Ở đây cũng có một nguyên nhân; mục đích tấn công người khác là nhằm “đổi đời” bằng mọi giá và càng nhanh càng tốt. Tôi cũng đã từng biết một trường hợp tâm lý kỳ lạ như vậy.
Trong trại, bên phía quân nhân có một anh là binh nhì, chưa bị mất quyền sở hữu tài sản, theo phán quyết của tòa án anh bị đưa đến đây hai năm. Anh là tay khoác lác khủng khiếp và cũng là kẻ nhát gan lẫy lừng. Nói chung thì tật khoác lác và thói nhát gan vốn rất hiếm thấy cùng tồn tại trong một người lính Nga. Anh lính của chúng ta bao giờ cũng bận rộn, thành thử dù muốn khoác lác đến đâu cũng chẳng có thì giờ. Nhưng đã là kẻ khoác lác thì hầu như bao giờ anh cũng là thằng vô công rồi nghề và nhát sợ đủ thứ. Dutov (họ của anh) cuối cùng cũng đã qua hết được hạn tù ngắn ngủi và trở về với tiểu đoàn biên phòng. Nhưng vì tất cả những người như y, được đưa vào trại để cải huấn, lại trở thành những kẻ bợm nghịch hết sức, cho nên thường lại có tình trạng là sau khi trở về tự do được vài ba tuần lại bị đưa ra tòa và lại quay về trại, nhưng lần này không phải hai năm hoặc ba năm, và được xếp vào hạng “thường trực”, tức là mười lăm năm hoặc hai mươi năm. Lần này cũng vậy. Hai ba tuần sau khi xuất trại Dutov đã đi bẻ khóa ăn trộm, hơn nữa, y còn văng tục và làm càn. Y ra tòa và bị kết án nghiêm khắc. Sợ hãi phải nhận mức án cao nhất, đúng là một kẻ hèn nhát đáng thương nhất, vào đêm trước ngày y bị đưa ra cho binh lính xếp hàng đánh, y đã cầm dao lao vào viên sĩ quan đi tuần vừa bước chân vào phòng giam. Rõ ràng là anh rất hiểu rằng bằng hành động đó anh sẽ đẩy lên rất cao bản án của mình và thời hạn khổ sai. Nhưng cách tính toán của anh chỉ là làm sao đẩy lùi được dù chỉ là vài hôm, vài tiếng đồng hồ cái giờ phút khủng khiếp của cuộc trừng phạt! Anh ta hèn nhát đến nỗi khi cầm dao xông vào, anh ta thậm chí không làm tên sĩ quan bị thương, mà chỉ cốt làm lấy hình thức, chỉ để làm sao có được một tội lỗi mới, để vì thế người ta lại phải xử án lần nữa.
Cái phút trước hình phạt, tất nhiên, là khủng khiếp đối với phạm nhân, và tôi mấy năm liền được chứng kiến khá nhiều phạm nhân trước ngày oan nghiệt này. Thường thì tôi gặp các tù nhân chưa thành án trong quân y viện, trong các phòng phạm nhân, khi tôi nằm ốm, mà những ngày nằm ốm của tôi vẫn thường xảy ra. Các phạm nhân từ khắp nước Nga đều biết rằng những người đồng cảm nhất đối với họ chính là bác sĩ. Các bác sĩ không hề có sự phân biệt giữa các phạm nhân, như những người khác vẫn làm, có thể chỉ ngoại trừ dân thường. Bác sĩ không bao giờ quở trách phạm nhân vì những tội lỗi của họ, dù tội đó khủng khiếp thế nào đi nữa, và thường tha thứ cho họ mọi chuyện vì sự trừng phạt mà họ phải chịu và nói chung là vì nỗi bất hạnh của họ. Không phải ngẫu nhiên mà mọi người trên đất Nga đều gọi tội lỗi là nỗi bất hạnh, còn phạm nhân là kẻ bất hạnh. Đó là một định nghĩa có ý vị sâu sắc. Định nghĩa này còn quan trọng hơn là bởi vì nó được đưa ra một cách vô thức, một cách trực cảm. Bác sĩ là nơi trú ẩn của phạm nhân trong nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với những phạm nhân bị giam giữ nặng nề hơn cả những tù thành án. Phạm nhân nhẩm tính sắp đến ngày khủng khiếp thường thường xin vào bệnh viện, mong sao có được một thời gian nào đó tránh xa giây phút nặng nề. Khi ra viện, hầu như biết chắc rằng ngày mai là ngày vận hạn của mình, thì bao giờ cũng xúc động ghê gớm. Cũng có những người cố gắng dấu đi những cảm xúc của mình xuất phát từ lòng tự trọng, nhưng sự can đảm gượng gạo, giả tạo không đánh lừa được các bạn bè. Tất cả mọi người đều hiểu được vấn đề, nhưng vì thương người mà giữ im lặng. Tôi biết một anh phạm nhân trẻ tuổi giết người, là quân nhân, bị kết án lãnh đủ roi vọt. Anh run sợ đến mức trước ngày lĩnh án đã dám uống hết một lô rượu ngâm thuốc lá hít. Xin nói thêm rằng đối với phạm nhân chưa thành án thì bao giờ cũng có rượu trước ngày lĩnh án. Rượu được mang đến từ lâu trước thời hạn và phải trả nhiều tiền, và phạm nhân thường suốt nửa năm phải ăn nhịn để dành, tích lũy một khoản tiền cần thiết mua nửa chai rượu để uống trong mười lăm phút trước giờ trừng phạt. Nói chung các phạm nhân đều có một niềm tin rằng người say thì cảm thấy roi gậy ít đau hơn. Nhưng tôi không muốn nói nhiều chuyện này. Anh chàng đáng thương kia uống cạn lô rượu thì lập tức lăn ra ốm. Anh ta bắt đầu nôn ra máu. Người ta chở anh vào quân y viện khi anh gần như ngất xỉu. Đợt nôn ấy tàn phá ngực anh đến nỗi chỉ mấy hôm sau đã xuất hiện những triệu chứng ho lao thật sự, mà vì thế nửa năm sau anh đã qua đời. Các bác sĩ chữa bệnh lao cho anh không thể biết được vì sao.
Nhưng khi kể về thói bạc nhược thường thấy của phạm nhân trước giờ trừng phạt, tôi thấy cần bổ sung thêm rằng ngược lại, trong số họ vẫn có một số người gây kinh ngạc cho người quan sát bằng tính can trường phi thường của mình. Tôi vẫn còn nhớ một vài tấm gương anh dũng đạt tới mức gần như vô cảm, mà những tấm gương ấy không phải là hiếm. Đặc biệt tôi nhớ lần gặp gỡ một tội nhân kinh khủng. Một ngày mùa hè trong các lán trại anh em kháo nhau rằng chiều hôm nay sẽ trừng phạt tên cướp khét tiếng Orlov, một tên lính đào ngũ, trừng phạt xong sẽ đưa vào bệnh viện. Anh em tù ốm trong lúc chờ Orlov khẳng định rằng Orlov sẽ bị trừng trị ác liệt. Mọi người có phần hồi hộp, và tôi cũng phải thú nhận rằng chính tôi cũng hết sức tò mò chờ đợi sự xuất hiện của tên cướp. Từ lâu tôi đã nghe về những thành tích kinh hoàng của hắn. Đó là một ác nhân hiếm hoi, lạnh lùng cắt cổ cụ già và trẻ nhỏ, một ác nhân có ý chí mạnh mẽ khủng khiếp và có ý thức cao ngạo về sức mạnh của mình. Hắn bị buộc tội giết chết nhiều người và phải chịu án đánh gậy trước mặt binh lính xếp hàng. Chiều ấy hắn được giải đến viện. Trời đã tối, nến được thắp sáng. Orlov hầu như ngất xỉu, mặt mũi xám ngoét, tóc rậm, bê bết đen như nhựa đường, lưng hắn sưng ụ lên có màu máu tím xanh lại. Suốt đêm anh em chăm sóc hắn, cho hắn uống nước, giở mình cho hắn rồi cho uống thuốc, tựa hồ như chăm sóc người thân ruột thịt, người ân nhân của mình. Ngày hôm sau hắn đã tỉnh hoàn toàn và đã đi lại mấy vòng trong phòng bệnh. Tôi thấy kinh sợ, vì lúc vào viện trông hắn quá yếu và quá suy kiệt. Hắn đã chịu đựng được liền một lúc đến một nửa số gậy qui định, nhưng bác sĩ đã cho dừng cuộc hành phạt khi thấy rằng nếu tiếp tục thì tội nhân chết không cứu được. Vả lại, Orlov là người thấp bé, cấu tạo cơ thể yếu, hơn nữa còn hao gầy đi nhiều do bị giam lâu. Ai đã có khi nào có dịp được thấy những tội phạm chưa thành án, chắc hẳn người đó sẽ nhớ mãi những khuôn mặt bơ phờ, gầy guộc và xám xịt với những cái nhìn căng thẳng. Mặc dù thế, Orlov bình phục nhanh. Rõ ràng sức mạnh nội tâm và tinh thần đã giúp hắn rất nhiều. Quả thật đó là con người không hoàn toàn bình thường. Tôi tò mò làm quen với hắn nhiều hơn và nghiên cứu hắn suốt một tuần lễ. Tôi có thể nói một cách khẳng định rằng trong đời tôi tôi chưa bao giờ gặp được một con người hùng mạnh hơn, sắt đá hơn hắn. Hồi còn ở Tobolsk tôi cũng đã gặp một nhân cách ghê gớm như thế. Gã ấy là một con thú hoang thật sự, và chỉ cần bạn đứng cạnh gã, không cần biết tên là gì, thì bạn đã trực cảm thấy rằng bên cạnh bạn là một sinh linh kinh khủng. Nhưng điều làm tôi khiếp hãi nơi gã là sự đần độn tinh thần. Xác thịt là tối thượng vượt lên trên mọi thuộc tính tâm hồn của gã, đến nỗi ngay khi bạn nhìn mặt gã lần đầu, bạn đã thấy rằng trên đó chỉ còn lại niềm khát khao man rợ về thú vui xác thịt, thú vui dâm ô. Tôi tin rằng Korenev - tên gã - cũng phải mất hết tinh thần và cũng phải run rẩy vì khiếp sợ trước đòn trừng phạt, mặc dầu gã có thể giết người không biết nhăn mặt. Orlov thì hoàn toàn ngược lại. Đó là kẻ chiến thắng đầy đủ, rõ ràng đối với xác thịt. Nhìn hình thức cũng thấy được con người này có thể chế ngự được bản thân mình, coi khinh mọi đau khổ và trừng phạt và chẳng sợ gì trên đời. Nơi hắn người ta chỉ thấy một nghị lực vô tận, một khát khao hành động, khát khao ân oán, khát khao đạt tới mục tiêu định trước. Đồng thời tôi còn thấy kinh ngạc vì thói kiêu kỳ lạ lẫm của hắn. Hắn nhìn mọi vật dường như từ một tầm cao phi thực, nhưng hoàn toàn không phải là cố sức đi bằng cà kheo, cứ như là tự nhiên thế vậy. Tôi nghĩ rằng trên thế gian này không có một ai chỉ dùng uy danh mà tác động đến hắn được. Đối với mọi vật hắn nhìn một cách bình thản đến mức không thể ngờ được, dường như trên đời chẳng có cái gì làm hắn ngạc nhiên. Mặc dù hắn hiểu rất rõ rằng các tù nhân khác nhìn hắn kính trọng, nhưng hắn chẳng hề khoe mẽ với ai. Thế mà thói hư danh và thói kiêu ngạo lại là thuộc tính của hầu hết tù nhân. Hắn là người rất không ngu dại và chân thành kỳ lạ, mặc dù không chút ba hoa. Tôi hỏi thì hắn trả lời thẳng thắn rằng hắn chờ khỏe để chịu nốt phần hình phạt còn lại, và rằng đầu tiên, trước khi chịu phạt hắn cũng có sợ rằng không vượt qua được. Rồi hắn nháy mắt nói thêm “Nhưng bây giờ thì hết rồi. Tôi chịu nốt số gậy phạt rồi người ta sẽ chở tôi cùng nhóm tội đồ đi Nerchinsk, giữa đường là tôi ù té chuồn! Thế nào tôi cũng chuồn! Chỉ mong sao cái lưng mau lành mà thôi!” Suốt năm ngày ấy hắn ngong ngóng chờ đợi ra viện. Trong lúc chờ đợi hắn hay cười và rất vui vẻ. Tôi đã thử nói chuyện về hành trình cuộc đời hắn. Hắn hơi cau mặt khi nghe những câu hỏi đó, nhưng bao giờ cũng trả lời chân thực. Khi hắn hiểu rằng tôi đụng đến lương tâm hắn và đụng đến một chút ăn năn trong đó thì hắn nhìn tôi một cách khinh bỉ và cao ngạo đến nỗi dường như trong con mắt hắn tôi bỗng trở thành một cậu bé nhỏ nhoi, ngu ngốc, mà hắn không thể bàn luận với được như với người lớn. Thậm chí trên gương mặt hắn còn lộ vẻ thương hại tôi nữa. Một phút sau hắn cười phá lên những tiếng cười hết sức sảng khoái nhạo tôi, nhưng không hề có ý châm biếm, và tôi tin rằng, khi hắn ngồi một mình, nhớ lại những lời của tôi, thế nào hắn cũng còn cười mấy lần nữa. Thế rồi hắn ra viện, cái lưng chưa lành hẳn; lần ấy tôi cũng ra viện; từ bệnh viện ra, chúng tôi lại có dịp đi cùng với nhau: tôi về trại, còn hắn về bốt gác gần chỗ trại tôi, nơi hắn bị giam trước đây. Lúc từ biệt, hắn nắm tay tôi, và về phía hắn thì đó là dấu hiệu tin cậy nhiều lắm. Tôi nghĩ rằng hắn làm như vậy vì hắn rất hài lòng về bản thân mình và hài lòng với phút giây này. Thực chất thì hắn không thể không khinh bỉ tôi và chắc chắn hắn phải nhìn tôi như nhìn một sinh vật đang bị chinh phục, yếu đuối, đáng thương và hèn mọn về mọi phương diện trước mặt hắn. Ngay hôm sau hắn đã bị đưa ra trừng phạt lần thứ hai...
Khi cổng trại đã khóa chặt thì toàn trại bỗng nhiên có một vẻ gì đặc biệt, giống như một ngôi nhà ở thật sự, như một mái ấm gia đình. Mãi đến bây giờ tôi mới có thể nhìn thấy anh em trại nhân, những người bạn tôi hệt như ở nhà mình vậy. Ban ngày, những tên cai đội, những bọn lính tuần và nói chung là bọn cai quản có thể bất cứ lúc nào lùng sục vào trại, và vì thế cư dân trại giữ mình theo một cách khác, dường như không hoàn toàn yên lòng, dường như bất cứ lúc nào cũng chờ đợi một cái gì đó, sốn sang một chuyện gì đó. Nhưng khi cổng trại vừa khóa là mọi người ai về lán nấy yên ổn, hầu như ai cũng làm nghề riêng của mình. Cả trại sáng bừng lên. Ai cũng thắp nến và có giá nến phần lớn bằng gỗ. Người khâu giày, người may áo. Bầu không khí trong trại cứ trở nên ngột ngạt từng giờ, từng giờ. Bọn rong chơi thì ngồi chồm hỗm đánh bạc trong góc trước một tấm thảm. Hầu như trại nào cũng có một trại nhân có một tấm thảm nhỏ chừng một árshin[1], một cây nến và một bộ bài cáu bẩn dầu mỡ không thể tưởng tượng được. Tất cả những thành tố ấy gộp lại có cái tên chung là maiđan. Maiđan được các con bạc trả tiền, mỗi đêm mười lăm cô-pếch. Nghề của anh ta là thế. Các con bạc thường chơi kiểu ba lá, kiểu chồng núi v.v... các trò đều chơi ăn tiền. Mỗi người đặt trước mặt mình một đống tiền xu, đó là tất cả những gì họ có trong túi và chỉ đứng lên khi đã thua sạch hoặc vơ sạch của các bạn. Canh bạc kết thúc vào lúc khuya muộn, nhưng đôi khi kéo dài đến sáng, đến tận lúc mở cổng trại. Trong phòng tôi cũng như ở các lán khác bao giờ cũng có những tên cùng khốn, đánh bạc dốc túi, uống rượu hết tiền, hoặc nói một cách đơn giản, tự nhiên là cùng khốn. Tôi nói “tự nhiên” và xin nhấn mạnh đặc biệt vào lối nói đó. Quả thật khắp nơi trong dân chúng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ điều kiện nào, bao giờ cũng đang có và sẽ có một số những cá nhân kỳ lạ, rất hiền lành và rất không lười biếng, nhưng số phận đã an bài cho họ là suốt đời cùng khốn. Họ suốt đời độc thân, suốt đời luộm thuộm, suốt đời tù mù, ngu ngốc, suốt đời bị người khác làm khổ, suốt đời bị sai bảo, thường là làm đầu sai cho bọn rong chơi, bọn giầu nhanh và bọn mới nổi. Đối với họ, bất kỳ một đề xuất nào, một sáng kiến nào cũng là nỗi đau khổ và là gánh nặng. Dường như họ ra đời cùng với một điều kiện là họ không tự bắt đầu việc gì, mà chỉ đi phục vụ người khác, sống không theo ý mình, nhảy theo tiếng sáo của người khác và chức năng của họ chỉ là thực hiện ý đồ người ta. Để hoàn tất thân phận, không có hoàn cảnh nào, không có cuộc biến động nào có thể làm cho họ giàu lên. Bao giờ họ cũng chỉ là những kẻ cùng khốn. Tôi đã để ý thấy rằng những cá nhân như thế tồn tại không phải chỉ trong dân chúng, mà ở khắp các đẳng cấp xã hội, các tầng lớp, các đảng phái, được nói đến trên các tạp chí, trong các hội quyền. Điều đó cũng diễn ra trong từng trại lính, từng trại tù, và mới đây là maiđan, một trong những con người như thế đã xuất hiện để hầu người khác. Nói chung thì maiđan nào cũng có đầy tớ. Người thuê đầy tớ thường là các con bạc nói chung, thuê suốt đêm, tiền thuê là năm cô-pếch bạc, nhiệm vụ chính của đầy tớ là đứng suốt đêm canh chừng. Phần nhiều hắn bị cóng lạnh sáu bảy tiếng đồng hồ trong bóng tối, ở phòng trước, trong cái rét ba mươi độ âm, để nghe ngóng mỗi tiếng gõ cửa, mỗi tiếng rung động, mỗi bước đi trên sân. Tên thiếu tá hoặc các lính tuần đôi khi vào trại ban đêm khá muộn. Chúng đi nhẹ nhàng và bắt quả tang bọn chơi bạc, bọn làm nghề và những cây nến của họ có thể bị nhìn thấy từ ở ngoài sân. Khi họ bắt đầu khua cái khóa cửa buồng trước nhìn ra sân thì việc chạy trốn, tắt nến và chui vào lán ngủ cũng đã là muộn. Nhưng vì sau đó tên đầy tớ canh đêm bị trừng phạt, nên những trường hợp sai sót như thế là cực kỳ hiếm hoi. Tất nhiên, năm cô-pếch là khoản tiền công bèo bọt buồn cười, thậm chí đối với tù trại, nhưng cái điều khiến tôi luôn luôn kinh ngạc là sự nghiệt ngã và nhẫn tâm của những người đi thuê, trong trường hợp này cũng như những trường hợp khác. “Tiền cầm rồi thì phải hầu!” Luận chứng đó không ai được phép cãi lại. Một đồng xu bỏ ra, người thuê nhận lại được tất cả những gì có thể nhận được, nếu được thì còn nhận thêm nhiều nữa mà vẫn còn cho rằng mình làm ơn cho kẻ được thuê. Kẻ rong chơi, người say rượu vung tiền ra khắp nơi không tính toán, thế mà thế nào cũng ăn quịt đày tớ, và tôi đã nhận ra điều đó không phải ở một trại, ở một maiđan.
Tôi đã nói rằng trong trại mỗi người có một nghề khác nhau. Ngoài bọn cờ bạc, trong trại có không hơn năm tên hoàn toàn nhàn rỗi; cứ tối là chúng đi ngủ. Chỗ nằm của tôi ngay sát cạnh cửa ra vào. Phía đối diện đụng đầu nhau với tôi là Akim Akimych. Ông làm việc đến khoảng mười giờ hoặc mười một giờ, ông dán một cái đèn lồng Trung Hoa sặc sỡ theo đơn đặt hàng trong thị trấn với giá tiền công khá tốt. Ông làm đèn lồng rất chuyên nghiệp, làm có phương pháp, không bị gián đoạn. Khi làm xong ông thu dọn gọn ghẽ, trải ra một cái đệm nhỏ, cầu nguyện, rồi thanh thản lên giường nằm ngủ. Sự ngoan đạo và ngăn nắp được ông thể hiện cả trong những việc nhỏ nhặt nhất, hiển nhiên là ông đã phải coi mình là người thông minh đặc biệt, nói chung cũng như là tất cả những người đần độn và hạn hẹp khác. Tôi không thích ông ngay từ ngày đầu, mặc dù tôi nhớ vào ngày đầu tiên ấy tôi đã nghĩ về ông khá nhiều và tôi càng ngạc nhiên hơn, vì một cá nhân như thế lẽ ra phải thành đạt trong cuộc sống thì lại rơi vào trại tù. Sau đây tôi sẽ còn đôi lần nói về Akim Akimych.
Bây giờ tôi sẽ mô tả đôi nét về thành phần trại tôi. Trại này tôi đã phải sống nhiều năm và tất cả đều là những người đồng trại và là bạn bè sau này của tôi. Một điều dễ hiểu là tôi đã nhìn họ bằng con mắt hết sức tò mò. Ở những phản bên trái chỗ tôi là một nhóm những người vùng núi Kavkaz phần lớn bị tống đến đây vì tội ăn cướp với các thời hạn khác nhau. Họ có hai người Lezgin, một người Chechen và ba người Dagestan. Người Chechen lúc nào cũng ủ ê sầu não, hầu như không nói với ai, thường xuyên nhìn quanh bằng con mắt cừu thù, nhìn xéo sang bên với nụ cười độc địa, giận dữ và mỉa mai. Một người Lezgin thì đã già, mũi dài, mỏng và khoằm, có vẻ tướng cướp ra mặt. Thế nhưng người kia, Nurra, ngay từ ngày đầu đã gây cho tôi ấn tượng đáng mừng nhất và hiền dịu nhất. Anh này chưa già, người tầm thước, chắc nịch như thần Hec-quyn, tóc vàng và mắt xanh sáng, mũi khoằm, mặt như người Phần Lan, chân vòng kiềng vì hay đi ngựa. Toàn thân anh ta nát nhừ và thủng lỗ chỗ vì trải qua gươm đao và súng đạn. Ở Kavkaz anh là dân hòa hảo, nhưng vẫn thường xuyên lén lút sang chỗ anh em người vùng núi đang sống không yên, rồi cùng các anh em ấy tấn công người Nga. Trong trại anh được mọi người yêu mến. Lúc nào anh cũng vui vẻ, niềm nở với mọi người, làm việc hăng hái, bình tĩnh và minh bạch, mặc dù nhiều khi anh cũng bất bình với những thói đểu cáng và dơ dáy trong đời sống trại nhân, thậm chí còn giận dữ phát khùng trước các trò ăn cắp, bịp bợm, rượu chè và nói chung là tất cả những gì bất lương, nhưng anh không hề cãi cọ với ai, chỉ bực tức quay nhìn chỗ khác. Bản thân anh trong suốt thời gian tại trại anh không hề lấy của ai cái gì, cũng không có hành động xấu nào cả. Anh là người rất chăm cầu nguyện. Anh cầu kinh một cách thánh thiện. Vào tuần chay trước kỳ lễ thánh Mô-ha-mét anh ăn kiêng như một kẻ cuồng tín và cầu nguyện suốt nhiều đêm liền. Mọi người yêu mến anh và tin vào tấm lòng chính trực của anh. Trại nhân gọi anh là “Nurra - sư tử”. Sau này người ta vẫn còn gọi anh là sư tử. Anh hoàn toàn tin rằng hết hạn tù người ta sẽ cho anh về nhà ở Kavkaz và bây giờ anh chỉ sống bằng niềm hy vọng ấy. Tôi cảm thấy rằng nếu như mất đi niềm tin kia thì anh chết mất. Ngay ngày đầu tiên vào trại tôi đã để ý đến anh. Không thể nào lại không nhận thấy gương mặt phúc hậu, khả ái của anh giữa biết bao bộ mặt dữ dằn, u ám và tức cười của các tù nhân khác. Ngay nửa tiếng đồng hồ đầu tiên khi tôi nhập trại, anh đi qua ngang tôi, vỗ vai tôi, nhìn mắt tôi và cười đôn hậu với tôi. Đầu tiên tôi không hiểu thế là thế nào. Tiếng Nga anh nói rất kém. Chẳng bao lâu sau đó anh lại đến bên tôi, lại mỉm cười, lại thân mật vỗ vai. Sau đó lại như thế, lại như thế suốt ba ngày liền. Sau này tôi mới đoán ra và nhận ra rằng về phần anh, anh thương tôi, anh thấy rằng tôi khổ sở khi phải làm quen với trại, muốn tỏ ra thân thiện với tôi, động viên tôi và làm tôi tin rằng anh bao dung tôi. Anh Nurra thật là tốt bụng và ngây thơ!
Nhóm Tatar Dagestan có ba người, đều là anh em ruột. Hai người đã đứng tuổi, còn người kia, Alei, chưa đến hai mươi hai, trông mặt mũi còn trẻ hơn. Trong lán anh ta ở bên cạnh tôi. Ngay từ đầu tiên gương mặt khôi ngô, cởi mở, thông minh và đồng thời ngây thơ phúc hậu đã thu hút trái tim tôi, và tôi cũng mừng rằng số phận đã mang anh đến cho tôi làm bạn hàng xóm chứ không phải một người nào khác. Toàn bộ tâm hồn anh được biểu lộ trên gương mặt điển trai, thậm chí có thể nói là tuyệt vời của anh. Nụ cười của anh cũng thật là đáng tin, cũng thật là hồn nhiên, tươi trẻ, đôi mắt đen to thật hiền hòa, dịu dàng đến nỗi tôi luôn luôn cảm thấy đặc biệt hài lòng, thậm chí khi nhìn anh còn thấy nỗi buồn nỗi nhớ của tôi vơi đi. Tôi nói không ngoa chút nào. Ở quê nhà một hôm người anh trai cả của anh ta (anh có năm anh trai, hai người đi làm ở một nhà máy) ra lệnh cho anh vác mã đao lên ngựa cùng anh ấy đi có công chuyện. Việc kính đễ đối với bề trên ở miền núi là rất to lớn, đến nỗi thằng em không dám, và thậm chí còn không có ý định hỏi xem đi đâu. Các anh thì không coi là cần thiết phải cho em biết. Họ đi cướp của. Họ rình một thương nhân giàu có người Armenia trên đường để cướp của. Sự việc diễn ra đúng như thế: họ cắt đứt đoàn hộ tống, giết chết thương nhân rồi cướp đồ. Nhưng việc bại lộ. Cả sáu người trong nhóm bị bắt và bị ra tòa, bị vạch mặt, bị trừng phạt và bị đày đi lao dịch khổ sai ở Sibir. Đối với Alei tòa án chỉ có thể khoan dung đến mức định án phạt ở mức thấp nhất là bốn năm tù. Các ông anh đều yêu anh ta bằng một thứ tình yêu có thể nói là phụ tử chứ không còn là huynh đệ nữa. Anh trở thành nguồn an ủi cho họ trong cảnh tù đày. Những người anh vốn rầu rĩ ủ ê bây giờ nhìn thấy em là cười, và mỗi lần nói chuyện với anh ta (mặc dù họ nói chuyện rất ít, có vẻ như vẫn coi anh ta là trẻ con, không thể nói điều gì nghiêm túc được) thì những gương mặt âu sầu lại dãn nở ra và tôi đoán rằng họ đang nói với nhau một chuyện gì đó vui lắm như chuyện trẻ con, ít nhất thì họ cũng luôn luôn nhìn nhau và cười sảng khoái khi nghe chú em trả lời. Bản thân anh ta thì hầu như không dám bắt chuyện với các anh vì kính yêu các ông anh hết sức. Khó có thể hình dung được làm sao cậu bé ấy trong suốt thời gian lao dịch lại vẫn giữ được cho trái tim mình hiền hòa đến vậy, có thể hình thành trong lòng mình một lương tâm chính trực, lòng nhân ái và thiện chí, không bao giờ trở nên thô bạo và bị tha hóa. Thực ra đó là một bản chất mạnh mẽ và cứng rắn, mặc dù bên ngoài trông có vẻ dịu dàng. Sau này tôi được biết anh rõ hơn. Anh sống tinh khiết như một cô gái đồng trinh, và bất kỳ một hành vi tồi tệ, nhơ nhuốc, bẩn thỉu, bất công và tàn bạo nào trong trại cũng đốt bùng lên ngọn lửa căm phẫn trong đôi mắt tuyệt vời của anh, mà vì căm phẫn đôi mắt ấy càng thêm lấp lánh. Nhưng anh đã tránh không cãi nhau và không chửi thề, mặc dù nói chung anh không thuộc loại người cho phép kẻ khác được nhục mạ mình cách vô lối và cũng biết cách tự vệ. Nhưng anh chưa hề cãi nhau với ai: mọi người đều yêu mến và chăm sóc anh. Đầu tiên đối với tôi anh đối xử chỉ là lễ phép. Dần dà tôi bắt đầu nói chuyện với anh. Trong mấy tháng anh học nói tiếng Nga tốt, điều mà các anh lớn không làm được trong suốt thời gian ở trại. Anh tỏ ra là một chàng trai thông minh đặc biệt, hết sức khiêm tốn và tế nhị và thậm chí biết suy đoán mọi lẽ. Tôi phải nói ngay rằng tôi coi Alei không phải người tầm thường và tôi vẫn nhắc đến lần gặp gỡ với anh như một trong những lần gặp gỡ tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Có những cốt cách tuyệt vời nhờ có tự nhiên, nhờ có Chúa trời ban lộc, đến nỗi thậm chí một ý nghĩ cho rằng những cốt cách ấy một khi nào đó còn có thể thay đổi theo chiều hướng tốt hơn nữa các bạn cũng thấy rằng không thể nào thực hiện được nữa. Đối với những cốt cách này các bạn luôn thấy yên tâm. Bây giờ tôi cũng đang an tâm về Alei. Nhưng anh ấy ở đâu rồi nhỉ?
Một lần cũng khá lâu sau khi tôi nhập trại tôi nằm trong lán và nghĩ một điều gì đó lung lắm. Alei bao giờ cũng làm việc chăm chỉ, thế mà lúc ấy lại không làm gì, mặc dù đi ngủ thì lại còn sớm. Hôm ấy bên đạo Hồi có lễ hội nên họ nghỉ. Anh nằm khoanh tay làm gối và cũng suy tư chuyện gì. Bỗng anh hỏi tôi:
- Thế nào, ông đang buồn khổ lắm phải không?
Tôi tò mò nhìn anh và thấy câu hỏi của anh buồn cười, bởi vì anh bao giờ cũng là người tế nhị, rành mạch và thông minh từ phía con tim, nhưng khi nhìn kỹ tôi mới thấy gương mặt đượm bao nhiêu buồn đau, bao nhiêu hoài niệm day dứt và bỗng chốc tôi phát hiện ra rằng chính bản thân anh vào chính phút này đây đang suy nghĩ ghê lắm. Tôi nói cho anh nghe phán đoán của tôi. Anh thở dài và mỉm cười buồn bã. Tôi thích nụ cười của anh, bao giờ cũng dịu dàng và đằm thắm. Ngoài ra, khi cười anh để lộ hai hàm răng trắng muốt như ngọc, mà chỉ có mỹ nhân hàng đầu thế giới mới so được.
- Này anh Alei, chắc hẳn giờ này anh đang nghĩ rằng không biết ở Dagestan quê anh người ta mừng lễ hội thế nào, đúng không? Chắc ở nhà vui lắm nhỉ?
- Vâng, - anh hào hứng trả lời, đôi mắt sáng lên, - nhưng sao ông lại biết rằng tôi nghĩ chuyện đó?
- Làm sao mà không biết được! Ở nhà thích hơn ở đây, đúng không?
- Ôi! Sao ông lại nói chuyện đó...
- Chắc hẳn bây giờ quê anh hoa đang nở rộ, thật là cả một thiên đường...
- Thôi, tốt nhất xin ông đừng nói đến nữa. - Anh tỏ ra hết sức xúc động.
- Này, anh nghe đây, Alei, anh có một cô em gái phải không?
- Vâng, nhưng sao ạ?
- Chắc hẳn cô ấy xinh lắm, nếu giống anh.
- Giống tôi thì ăn thua gì! Em nó xinh lắm, cả Dagestan không ai hơn được. Chà, em tôi đúng là một kiều nữ! Ông chưa bao giờ gặp được một người con gái như thế đâu! Ngày xưa mẹ tôi cũng rất xinh đẹp.
- Mẹ anh yêu anh lắm nhỉ?
- Chà, ông nói gì mà lạ vậy! Chắc bây giờ mẹ tôi chết rồi vì khổ tâm với tôi. Tôi được bà cưng nhất... Đêm qua tôi nằm mơ thấy mẹ và bà ấy khóc thương tôi quá.
Anh im lặng và suốt tối không nói câu gì. Nhưng từ hôm ấy anh tìm cách nói chuyện với tôi, mặc dù với niềm kính trọng mà không biết vì sao anh dành cho tôi, đôi khi anh không dám nói trước. Tuy thế, anh lại rất vui khi tôi nói chuyện với anh. Tôi hỏi thăm anh về vùng Kavkaz, về cuộc sống trước đây. Các anh trai anh không ai cản trở chúng tôi nói chuyện, thậm chí họ còn thích nghe nữa. Khi thấy tôi ngày càng yêu mến Alei hơn thì họ cũng càng trìu mến tôi hơn.
Anh Alei giúp tôi làm việc, đỡ đần tôi những gì có thể và rõ ràng là anh vui khi làm tôi sống nhẹ nhàng hơn và chiều ý tôi, trong cách chiều đó anh không hề có mặc cảm thấp kém nào cả, cũng không tìm cách trục lợi, đó chỉ là một tình cảm ấm cúng, thân ái mà anh không hề giấu giếm. Hơn nữa anh còn có nhiều tài lẻ về cơ khí: anh biết may quần áo khá lành nghề, biết khâu giày và khá thạo nghề mộc. Các anh của anh đều khen ngợi và tự hào về anh.
Một hôm tôi bảo anh:
- Này anh Alei, tại sao anh không học đọc, học viết tiếng Nga nhỉ? Anh biết không, điều ấy có lợi cho anh cả bây giờ ở Sibir lẫn mai sau nữa.
- Tôi muốn lắm chứ. Nhưng học ai được?
- Ở đây khối người giỏi! Nếu anh muốn thì tôi giúp anh?
- Vậy thì xin ông dạy tôi đi! -Nói thế rồi anh ngồi nhỏm dậy, chắp tay nhìn tôi như tụng niệm.
Từ chiều hôm sau chúng tôi vào việc. Tôi có bản kinh Tân ước bằng tiếng Nga, đó là sách không bị cấm trong trại. Không có sách vỡ lòng, chỉ bằng một cuốn đó mà độ vài tuần anh đã đọc thạo. Ba tháng sau anh đã thông hiểu ngôn ngữ trong sách. Anh học thật say mê, nồng nhiệt.
Một hôm chúng tôi ngồi đọc hết Bài giảng Trên núi. Tôi thấy một số đoạn anh đọc lên với một xúc cảm đặc biệt.
Tôi hỏi anh rằng đoạn đọc vừa rồi anh có thích không.
Anh nhìn tôi rất nhanh rồi đỏ mặt lên:
- Hay quá, hay quá! - Anh nói. - Thánh Isa tiên tri đã nói, thánh, Isa đã nói. Tuyệt vời quá!
- Anh thích nhất là điều gì?
- Thích nhất chỗ Ngài nói: hãy tha thứ, hãy yêu thương, hãy đừng làm phật lòng ai, ngay cả kẻ thù cũng hãy yêu thương. Chà, sao Ngài nói hay đến thế nhỉ!
Anh quay đầu sang những người anh đang chăm chú nghe câu chuyện của chúng tôi và sôi nổi nói gì với họ. Họ nói với nhau rất lâu và rất nghiêm túc, thỉnh thoảng lại quay đầu khẳng định. Rồi sau đó, với một nụ cười trang nghiêm thân thiện, một nụ cười thuần túy Hồi giáo (nụ cười mà tôi rất yêu mến, bởi tôi yêu chính cái tính trang trọng của nụ cười ấy) họ hướng về phía tôi và khẳng định rằng Isa là thánh tiên tri và rằng Ngài đã làm những việc kỳ diệu vĩ đại, chẳng hạn Ngài đã nặn đất sét thành một con chim, thổi hồn vào nó và nó bay lên... và rằng trong sách đã viết đúng như thế. Nói ra điều ấy họ hoàn toàn tin rằng họ đã làm tôi rất mực hài lòng khi ca ngợi thánh Isa, còn Alei thì thật hạnh phúc bởi lẽ các anh em đã dám quyết và đều muốn cho tôi được mãn nguyện.
Việc học viết của chúng tôi cũng thành công mỹ mãn. Alei lấy giấy ra (anh không cho phép tôi mua giấy bằng tiền của tôi), lấy bút và mực. Anh đã tập viết suốt hai tháng liền và đã viết rất tốt. Điều đó khiến mấy ông anh hết sức kinh ngạc. Niềm tự hào và vui sướng của họ thật là vô hạn. Họ không còn biết cám ơn tôi bằng cách nào được. Lúc đi làm, nếu có dịp đứng bên nhau, khi dừng tay là họ giúp đỡ tôi và coi đó là niềm hạnh phúc. Tôi quên không nói đến Alei. Anh yêu tôi như yêu các ông anh ruột. Tôi sẽ không thể nào quên được lúc anh ra trại. Anh dẫn tôi ra đằng sau trại rồi bá cổ tôi mà khóc. Trước đây anh chưa hôn tôi và chưa bật khóc bao giờ. “Ông giúp tôi nhiều quá, nhiều quá: ông đã giúp tôi nên người. Rồi Trời sẽ đền công cho ông, tôi không bao giờ quên ông đâu”.
Bây giờ Alei tốt bụng thân yêu, thân quí của tôi ở đâu, ở đâu...
Ngoài những anh em Chérkes trong trại còn một số người Ba Lan, tạo thành hẳn một gia đình riêng, gần như không có liên hệ gì với các trại nhân khác. Tôi đã nói rằng vì họ tách rời mọi người, vì họ có lòng căm giận các trại nhân Nga, nên về phần mình họ cũng bị mọi người căm giận. Đó là những con người trầm uất, ốm đau. Tổng cộng họ có sáu người. Một vài người trong đó là có trình độ học vấn khá; số này tôi sẽ nói riêng và chi tiết sau. Đôi khi, trong những năm cuối cùng của tôi trong trại, tôi cũng mượn được của họ một vài cuốn sách. Cuốn đầu tiên tôi đọc đã để lại cho tôi một ấn tượng đặc biệt, mạnh mẽ, lạ kỳ. Về những ấn tượng này khi có dịp tôi lại sẽ nói riêng. Đối với tôi những ấn tượng đó thật đáng tò mò và tôi tin rằng nhiều người không hiểu được chúng. Nếu ta không trải qua thì ta không thể phê phán nhiều điều. Tôi chỉ xin nói một chuyện: những thiếu thốn tinh thần còn khổ cực hơn mọi nỗi đau khổ thể chất. Một người bình dân vào trại là đến với xã hội của mình, thậm chí có thể là bước vào một xã hội phát triển hơn. Tất nhiên anh ta cũng có nhiều mất mát - tổ quốc, gia đình, tất cả, nhưng môi trường của anh ta thì vẫn thế. Còn một người có học, theo luật pháp bị trừng phạt như người bình dân, thì thường thấy mất mát to lớn hơn gấp bội. Anh ta phải kìm hãm mọi nhu cầu của bản thân, mọi thói quen, phải bước vào một môi trường rất thiếu thốn đối với anh ta và phải tập hít thở bầu không khí không phải của mình... Đó là con cá bị kéo lên nằm trên bờ cát. Và thường thường hình phạt theo luật định chung cho mọi người ấy lại khổ ải hơn gấp mười lần đối với anh ta. Đó là một sự thật, thậm chí nếu như nó chỉ đụng chạm đến những thói quen vật chất mà ta cần phải hy sinh.
Những người Ba Lan đã họp thành một nhóm riêng đặc biệt. Họ có sáu người luôn ở bên nhau. Trong tất cả các tù nhân ở đây họ chỉ yêu thương có một người Do Thái, và có thể chỉ vì một lẽ duy nhất là hắn luôn làm trò vui cho họ. Anh chàng Do Thái này thậm chí còn được các tù nhân khác yêu mến, mặc dù tất cả mọi người không trừ một ai đều cười diễu hắn. Ở chỗ chúng tôi hắn là người duy nhất và tôi cho đến bây giờ cũng không thể nghĩ đến hắn mà không tức cười. Mỗi lần tôi nhìn thấy hắn tôi đều nhớ đến nhân vật Do Thái của Gogol là Jankel trong tiểu thuyết “Taras Bulba”, anh chàng cởi hết quần áo chui vào một cái tủ qua đêm với mụ vợ Do Thái thì giống hệt như một con gà con. Còn Isai Fomich, chàng Do Thái của chúng tôi, thì giống chú gà con bị vặt sạch lông như hai giọt nước. Hắn ta không còn trẻ nữa, tuổi gần năm mươi, người nhỏ bé, yếu ớt, láu cá nhưng đồng thời lại đần độn hết chỗ nói. Hắn ta ngang ngạnh, ương bướng, nhưng lại hèn nhát kinh khủng. Toàn bộ con người hắn nhăn nhúm, trán và má bị đóng dấu lúc phải lên đài chịu tội. Tôi không thể hiểu được vì sao hắn lại chịu đựng được tới sáu mươi roi. Hắn đến đây vì bị buộc tội giết người. Hắn đã dấu đi một cái đơn thuốc mà mấy mụ Do Thái lấy được của bác sĩ mang đến cho hắn ngay sau khi hắn chịu tội. Theo đơn này hắn mua được một loại dầu cao, nhờ đó mà sau hai tuần các dấu đóng đã bong ra. Hắn không dám sử dụng thuốc này trong trại, nhưng quyết chờ hết hạn mười hai năm tù, về quê rồi thế nào cũng dùng đến đơn thuốc. Một hôm hắn nói với tôi giọng lơ lớ: “Không có cái thuốc này thì không lấy vợ được, mà tôi muốn lấy vợ ngay”. Tôi cũng chơi thân với hắn. Tinh thần hắn lúc nào cũng hết sức thư thái. Trong tù hắn sống nhẹ nhàng, có nghề kim hoàn, nhận được rất nhiều đơn đặt từ thị trấn, nơi không có thợ kim hoàn, nhờ thế hắn khỏi phải làm những việc nặng nhọc. Hiển nhiên là hắn cũng cho vay nặng lãi, dùng tiền thu lãi suất và hàng cầm đồ khắp trại. Hắn vào trại trước tôi. Một người Ba Lan đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe chuyện ngày hắn nhập trại. Đó là câu chuyện cực kỳ khôi hài, sau này tôi sẽ kể lại, về Isai Fomich. Về người này tôi sẽ nói đến nhiều lần nữa.
Nhóm còn lại trong lán trại tôi gồm bốn ông già mọt sách cựu giáo, trong đó có ông già ở Starodubovsk, hai ba người Tiểu Nga, những con người u uất, một anh chàng có gương mặt thanh tú, chiếc mũi nhỏ nhắn, tuổi chừng hăm ba mà đã can tội giết chết tám nhân mạng, một số người làm bạc giả, trong đó có một người chuyên gây cười cho cả trại, và cuối cùng có một số nhân vật lúc nào cũng ủ ê sầu não, đầu cạo trọc hếu, mặt mũi méo mó, trầm lặng mà ganh tị, lúc nào cũng nghiêng ngó một cách thù hận nhìn ra xung quanh và cố tình nhìn người như thế, cau có, lặng thinh như thế và thù hận như thế suốt bao nhiêu năm, suốt cả thời kỳ ở trại. Tất cả những thứ đó chỉ thoáng qua trước mắt tôi trong buổi chiều tối đầu tiên buồn tẻ trong cuộc sống mới của tôi, thoáng qua giữa khói bụi và mồ hóng, giữa những tiếng chửi thề và thói thô tục không diễn tả được, trong bầu không khí ma muội, trong tiếng gông xiềng loảng xoảng và giữa những tiếng cười hô hố dơ dáy và trâng tráo. Tôi nằm xuống lớp sàn gỗ mộc, lót một cái áo xuống gáy (tôi chưa có gối), đắp lên người một chiếc áo khoác tu-lúp, nhưng mãi không sao ngủ được, mặc dù tôi đã rất mệt mỏi và tan nát tinh thần vì những ấn tượng ma mị và bất chợt của ngày đầu tiên đó. Nhưng cuộc sống mới của tôi mới chỉ bắt đầu. Biết bao điều còn đang đợi tôi phía trước, những điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới và chưa dự đoán được...
❀ ❀ ❀
[1] Mỗi árshin bằng 71,12 cm (N.D.).