Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI - THÁNG ĐẦU TIÊN
VI THÁNG ĐẦU TIÊN

❊ ❊ ❊

Khi bước chân vào trại tôi cũng có một ít tiền, cũng chỉ là có mấy đồng rúp trong tay thôi, nhưng vì sợ bị cướp phăng đi mất nên để cho chắc ăn tôi phải dấu kín, nghĩa là tôi đem dán vào bìa trong cuốn kinh Phúc Âm là thứ được mang vào trại. Cuốn sách có dán tiền này là cuốn có những người tặng tôi ở Tobolsk. Những người này đã đau khổ trong cảnh đọa đầy và ngồi đếm thời gian bằng hàng thập kỷ và từ lâu đã có thói quen coi bất kỳ kẻ bất hạnh nào cũng là anh em. Ở Sibir có mấy người hầu như không dịch chuyển, có lẽ họ đã tự đặt ra mục tiêu cuộc đời là cùng nhau chăm sóc cho “những người bất hạnh”, là cùng đồng cam cộng khổ với họ, tựa như chăm sóc cho con cho cái một cách hoàn toàn vô tư, thánh thiện. Ở đây tôi không thể không nhắc qua đến một lần gặp gỡ. Trong thị trấn, nơi có trại tù của tôi, có một góa phụ tên là Nastasia Ivanovna. Trong số anh em tôi suốt thời gian ở trại không ai có thể đích thân làm quen được với bà. Có lẽ bà đã chọn mục tiêu suốt cả đời mình là giúp đỡ những kẻ đi đày, nhưng quan tâm đến chúng tôi nhiều hơn. Trong họ hàng nhà bà cũng có một trường hợp bất hạnh, hoặc có một người nào đó rất gần gũi, rất thân thương cũng đang chịu đau khổ vì mắc tội lỗi, và vì thế bà thấy mình đặc biệt hạnh phúc khi được làm cho chúng tôi tất cả những gì có thể làm được. Tất nhiên, có nhiều điều bà không kham nổi vì bà rất nghèo. Nhưng ngồi trong trại, chúng tôi cảm thấy được ngoài đó, tức là ngoài trại, có một người bạn hết sức thủy chung. Bà vẫn thường cung cấp cho chúng tôi những tin tức rất cần thiết. Khi rời trại đến thành phố khác, tôi đã kịp ghé qua nhà bà và đích thân làm quen với bà. Bà sống ở một vùng ngoại ô với một người họ hàng thân thích. Bà chưa già nhưng cũng không trẻ, không đẹp mà cũng không xấu, thậm chí cũng không thể biết được rằng bà ấy có thông minh hay không? có học vấn nhiều hay ít? Nhưng bất kỳ ở đâu bà cũng bộc lộ một thứ lòng tốt vô biên, một niềm khát khao vô hạn được chiều chuộng, được an ủi, được làm ngay một cái gì đó thật vui lòng cho chúng tôi. Tất cả những cái đó hiện rõ trong ánh mắt dịu hiền của bà. Tôi với một người bạn tù nữa đã trải qua suốt cả một buổi chiều tối trong nhà bà. Bà nhìn vào mắt chúng tôi, cười vui khi chúng tôi cười, vội vàng đồng ý với những gì chúng tôi nói ra, tất bật lo lắng cho chúng tôi ăn uống một cái gì đó có thể được. Bà cho uống trà, đồ nhắm, đồ ngọt, và nếu như bà có đến một nghìn thứ thì bà sẽ rất vui vì sẽ phục vụ chúng tôi tốt hơn và làm các bạn còn ở trong trại thấy nhẹ nhàng hơn. Lúc chia tay bà tặng mỗi người chúng tôi một hộp đựng thuốc lá xì-gà. Những hộp này bà tự tay dán lấy bằng bìa cứng (có Trời biết chúng được dán như thế nào). Bà lại dán phủ ngoài bằng giấy màu, hệt như thứ giấy người ta bọc que tính cho học sinh tiểu học (mà cũng có thể là giấy ấy thật). Để làm đẹp, bà lại dán xung quanh hai cái hộp ấy một đường viền nhỏ bằng giấy màu vàng mà chắc hẳn bà đã phải mua riêng ở cửa hàng “các anh hút thuốc thì cái hộp này cũng dùng được đấy” - bà nói câu ấy tựa hồ như ngượng ngập trước mặt chúng tôi vì món quà bé nhỏ. Những người khác thì nói (tôi đã nghe và đọc được) rằng tình yêu quá lớn đối với đồng loại thì cũng đồng thời là lòng ích kỷ lớn nhất. Nhưng ở đây có gì ích kỷ không thì tôi chưa hiểu được.

Mặc dù khi nhập trại tôi không có nhiều tiền, nhưng khi đó tôi cũng không thể bực mình được với những anh em trong trại, những người mà ngay những giờ phút đầu tiên của tôi ở đây đã lừa tôi một lần rồi lại thản nhiên đến với tôi lần thứ hai, lần thứ ba và thậm chí đến lần thứ năm để vay tiền tôi. Nhưng tôi thành tâm thú nhận một điều là tôi rất bực mình vì con người rất mực khôn ngoan đến mức ngây thơ ấy, như tôi nghĩ, đã coi tôi là thằng mặt thộn, là thằng ngốc và đã cười khẩy với tôi chính bởi lẽ đến lần thứ năm ấy tôi vẫn đưa tiền cho mượn. Những người ấy hẳn đã nghĩ rằng tôi đã chịu thua những trò lừa bịp và khôn vặt kia, và nếu ngược lại, nghĩa là tôi từ chối và xua đuổi họ thì tôi tin rằng họ sẽ kính trọng tôi hơn hẳn. Nhưng dù tôi bực mình đến đâu đi nữa, tôi cũng không thể nào từ chối được. Tôi bực vì vào những ngày đầu tiên ấy tôi đã suy nghĩ một cách nghiêm túc và chí tình rằng tôi sẽ bước vào trại này như thế nào và với tư cách gì, hoặc là nói đúng hơn, tôi sẽ sống với họ theo kiểu gì. Tôi cảm thấy và hiểu rằng đối với tôi đây là môi trường sống hoàn toàn mới, rằng tôi hoàn toàn đang ở trong bóng tối và rằng tôi không thể sống trong bóng tối từng ấy năm được. Phải tự chuẩn bị. Và thế là tôi quyết định rằng trước hết tôi phải hành động thẳng thắn theo đúng như nội tâm và lương tâm của tôi chỉ dạy. Nhưng tôi cũng biết rằng đó chỉ là một câu châm ngôn, còn trước mắt tôi vẫn sẽ là một thực tại đầy bất ngờ nhất.

Và chính vì thế, mặc dầu vẫn có những quan tâm nho nhỏ đến việc ăn ở của tôi trong trại, những điều tôi đã nói bên trên và chủ yếu là ông Akim Akimych đã lôi kéo tôi vào đó, mặc dù những điều ấy cũng làm lòng tôi vui vui, nhưng có một nỗi buồn ghê gớm và day dứt vẫn hành hạ tôi ngày càng nhiều hơn. “Nhà chết!” - tôi đã tự nói với mình như thế khi căng mắt trong ánh chạng vạng qua lán trại của mình để nhìn vào những trại nhân đứng túm tụm sau buổi đi làm về rồi lại lười nhác tản ra khắp sân, từ lán đi ra bếp rồi lại quay lại. Nhìn họ, nhìn những gương mặt và cử chỉ của họ tôi cố gắng nhận ra rằng họ là ai và tính cách của họ thế nào? Họ diễu qua trước mắt tôi với những vầng trán cau có hoặc với vẻ nhởn nhơ (hai dáng vẻ này được thấy nhiều nhất và cũng gần như là đặc trưng của trại), họ chửi mắng nhau hay đang trò chuyện, hoặc chỉ là dạo chơi đơn lẻ tựa hồ như đang trầm mặc suy tư, lặng lẽ, nhịp nhàng, một số người thì có vẻ mệt mỏi, u sầu, một số người khác (thậm chí đang ở đây!) thì lại vênh vênh vang vang, đội mũ lệch sang một phía, khoác áo tu-lúp trùm vai, mắt nhìn ngạo ngược, tinh quái với nụ cười xấc xược. “Tất cả đó là sinh quyển của tôi, là thế giới hôm nay của tôi, - tôi nghĩ thế, - mà dù muốn hay không tôi cũng phải sống trong đó...” Tôi đã thử căn vặn ông Akim Akimych về những con người kia, tôi rất thích ngồi uống trà với ông, để khỏi phải ngồi một mình. Trong những ngày đầu này trà là món ăn gần như duy nhất của tôi. Ông Akim Akimych không từ chối uống trà và còn tự mình đặt lên bếp lò cái ấm xa-mô-va của chúng tôi bằng thiếc be bé, trông thật buồn cười mà M. đã đưa tôi giữ hộ. Thường thường ông Akim Akimych uống một cốc (ông có mấy cái cốc như vậy), ông uống lặng lẽ và trang trọng rồi đưa cốc cho tôi, cảm ơn tôi và ngay lập tức bắt tay vào sửa cho tôi cái chăn. Nhưng còn cái điều tôi muốn tìm hiểu thì ông không nói được gì, thậm chí cũng không hiểu vì sao tôi lại cứ quan tâm đặc biệt đến các cá tính của những anh em xung quanh và những bạn tù khổ sai thân cận, thậm chí ông còn nghe tôi nói với một nụ cười tinh ranh làm tôi nhớ mãi. “Thôi, mình phải tự mình trải nghiệm thôi, hỏi cũng không được”, - tôi nghĩ.

Đến ngày thứ tư, cũng giống như cái lần tôi đi cải huấn, các anh em tù nhân đứng xếp thành hai hàng dọc từ sớm trên bãi đất trước trạm gác ngoài cổng, đằng trước đằng sau có lính gác, đạn lên nòng và lưỡi lê tuốt trần. Lính canh được quyền xả súng vào tù nhân, nếu tù nhân có ý định chạy trốn, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm về phát súng của mình, nếu đó không phải là trường hợp đặc biệt thiết yếu, ngay cả vào lúc tù khổ sai công khai nổi loạn. Nhưng ai mà lại dám chạy trốn? Viên sĩ quan kỹ sư xuất hiện, rồi đến viên hướng dẫn, rồi đến các hạ sĩ quan kỹ thuật, lính tráng và cả bọn cảnh sát trông nom công việc. Bắt đầu điểm danh; một số tù nhân làm việc ở xưởng may thì đi trước, bọn chỉ huy kỹ thuật không động đến họ. Họ chỉ làm cho trại và may khâu trong trại. Sau đó là những người đi các xưởng, sau đó đến bọn tạp phu. Trong số khoảng hai mươi người khác nữa thì có tôi. Đằng sau pháo đài trên dòng sông đóng băng có hai chiếc sà lan đã hỏng, bây giờ cần phải tháo rỡ, may ra thì đống gỗ thải cũng không phải bỏ phí. Thế nhưng cả cái đồng cũ rích ấy xem ra rất ít giá trị, chẳng được gì cả. Trong thành phố củi đun được bán với giá rẻ mạt, quanh đây cũng bao nhiêu là củi. Chúng tôi bị bắt đi chỉ là để cho tù nhân không ngồi khoanh tay bó gối, điều ấy chính anh em tù cũng hiểu cả. Công việc như thế bao giờ họ cũng làm uể oải, chán chường. Còn nếu làm việc khác đáng gọi là việc, có giá trị và đặc biệt là khi có thể học hỏi được thì lại là chuyện khác. Khi đó họ phấn khởi, và mặc dù họ chẳng được hưởng lợi lộc gì cả, nhưng chính tôi đã nhìn thấy, họ làm đến kiệt sức để có thể kết thúc càng sớm càng tốt, thậm chí lòng tự trọng của họ cũng là thành tố hữu quan trong đó. Còn cái thứ việc này, có làm cũng chỉ là để duy danh thế thôi, chứ không phải vì cần thiết, thì có gì mà xin khoán, chỉ cần làm đến lúc nghe trống thu quân vào lúc mười một giờ trưa thì nghỉ. Hôm ấy trời ấm và nhiều sương mù, tuyết vẫn chưa tan. Cả nhóm chúng tôi đi ra bờ sông sau trại với tiếng xiềng xích lách cách chói tai theo từng bước chân, mặc dù chúng đã được dấu kín trong mớ quần áo. Một vài người được cử vào kho lấy những dụng cụ cần thiết. Tôi đi cùng với anh em và cảm thấy mình có thêm sinh khí: tôi rất muốn được nhìn thấy và được tìm hiểu xem công việc này là thế nào? Thế nào là khổ sai? Và bản thân tôi lần đầu tiên trong đời sẽ làm khổ sai thế nào?

Tôi vẫn nhớ mọi việc đến từng chi tiết nhỏ nhất. Trên đường chúng tôi gặp một anh tiểu thương để râu. Anh ta đứng dừng lại đút tay vào túi. Từ trong nhóm tôi có một tù nhân chạy ra ngả mũ nhận tiền bố thí năm cô-pếch rồi thoăn thoắt quay về đội ngũ. Chàng tiểu thương làm dấu thánh rồi tiếp tục đi. Buổi sáng ấy năm đồng cô-pếch được đem ra mua bánh mỳ rồi chia đều cho anh em nhóm tôi.

Trong cả đám tù binh ấy một số vẫn có thói quen âu sầu lặng lẽ, một số khác thì thản nhiên và uể oải, một số khác nữa thì lười nhác chuyện trò với nhau. Có một người không biết làm sao mà vui như Tết, luôn mồm ca hát và một chút nữa thì nhảy múa ngay trên đường đi, cứ tung chân lên là xích kêu loảng xoảng. Đó chính là anh chàng tù nhân thấp bé, chắc nịch mà ngay buổi sáng đầu tiên của tôi trong trại đã cãi lộn với một anh bạn bên vòi nước lúc rửa mặt chỉ vì anh kia dám vô lối tự xưng mình là điểu vương. Anh chàng vui nhộn này tên là Skuratov. Cuối cùng anh cất giọng ca một bài hào sảng, trong đó tôi vẫn nhớ được cái điệp khúc:

Cưới vợ cho tôi mà không có tôi -

Tôi vẫn còn ngồi bên cối xay gió.

Chỉ có điều không có cây đàn đệm balalaika.

Trạng thái tâm thần vui vẻ bất thường của anh khiến một số người bực bội, thậm chí còn suýt giận dữ nữa là khác.

- Làm gì mà rống lên thế! -một anh bạn lên tiếng, mặc dù sự việc chẳng liên quan gì đến anh.

- Đấy là bài hát của chó sói, hắn học mót được. Thật là con vẹt thành Tula! - đó là nhận xét của một người khác thuộc nhóm người âu sầu, nói tiếng miền Ukraina.

- Cứ cho rằng tôi là con vẹt thành Tula đi, - anh chàng Skuratov phản ứng ngay, - còn ở Poltava của các anh thì ăn cả cứt vẹt.

- Nói láo! Chúng ông ăn cơm đấy chứ! Húp canh nhai với giày cỏ!

- Còn bây giờ thì ma quỷ nuôi mi bằng sỏi đá, - một người nữa nói thêm.

- Các anh em ơi, bây giờ tôi hư thân mất nết rồi, - Skuratov thở một hơi nhẹ, dường như hối hận về sự hư hỏng của mình, anh nói với mọi người chung chung chứ không riêng gì với ai, - lúc còn bé tí thì tôi đã được chén no nào hắc mai tử, nào các thứ bánh. Được dưỡng dục tốt mà (tức là được giáo dục. Skuratov cố tình nói sai). Các anh em ruột thịt của tôi giờ đây vẫn có cửa hàng ở Moskva, buôn không khó nơi người qua lại, giàu lên nhanh lắm.

- Thế trước đây anh buôn bán gì?

- Chúng tôi vào đời mỗi người một tính. Các anh em ạ, đã có hồi tôi được nhận hai trăm đầu tiên...

- Chẳng lẽ được đến hai trăm rúp cơ à! - một anh tò mò chộp lấy câu ấy, thậm chí còn giật mình khi nghe đến hai trăm đồng.

- Không đâu, anh bạn ạ, không phải hai trăm đồng rúp, mà là hai trăm gậy. Luka, Luka này!

- Ai cho gọi trống không là Luka, anh phải gọi tôi là Luka Kuzmich, - một anh bạn tù thấp bé, nhỏ nhắn, mũi nhọn hoắt thờ ơ lên tiếng.

- Vâng, thì Luka Kuzmich, quỷ bắt anh đi, đằng nào chả thế.

- Ai cho gọi là Luka Kuzmich, anh phải gọi là bác Luka Kuzmich.

- Quỷ tha ma bắt anh với ông bác đi. Thôi không nói chuyện ấy nữa! Tôi đang muốn nói nghiêm túc. Chuyện là thế này, một thời gian tôi giàu lên ở Moskva thì các anh tôi cho tôi mười lăm roi rồi đuổi tôi đi. Thế là...

- Vì sao lại đuổi anh? - một người sốt sắng theo dõi câu chuyện, cắt lời.

- Không biết ăn chơi, không biết rượu chè, không biết cờ bạc, tức có nghĩa là tôi không thể làm giàu đích thực ở Moskva được. Tôi rất rất rất là muốn được giàu có. Tôi muốn đến mức không biết làm thế nào nói ra cho các vị hiểu được.

Nhiều người cười ầm lên. Rõ ràng Skuratov nằm trong số những người sẵn lòng vui vẻ, hay nói đúng hơn là trong số những anh hề tự đặt ra cho mình nghĩa vụ làm trò cười cho những người bạn mặt ủ mày chau, và rõ ràng là không nhận lại được cái gì ngoài những lời mắng mỏ. Anh thuộc về nhóm người đặc sắc và tài năng, mà có thể tôi sẽ còn phải nhắc đến sau này.

Luka Kuzmich nhận xét:

- Bây giờ thì có thể nọc anh ra mà đánh chứ không phải đập bụi cho cái áo khoác bằng da hắc điêu thử. Một cái áo ấy cũng giá một trăm rúp.

Skuratov đang mặc một chiếc áo tu-lúp hết sức nhàu nát, cũ kỹ, tứ phía đầy những miếng vá. Luka nhìn Skuratov từ trên xuống dưới một cách khá thản nhiên nhưng lại chăm chú.

- Tuy nhiên, cái đầu mới đáng giá, anh em ạ, cái đầu ấy! - anh trả lời. - Khi chia tay với Moskva tôi vẫn thấy yên lòng vì cái đầu vẫn còn đi theo tôi. Vĩnh biệt Moskva, xin cám ơn vì được tắm hơi, vì không khí tự do và vì bị đánh lằn roi trên mông! Có gì đâu mà anh cứ phải ngắm áo tu-lúp của tôi, anh bạn thân yêu ơi...

- Thế thì phải nhìn đầu anh hay sao?

- Nhưng cái đầu ấy không phải của anh ta. Đấy là cái đầu người ta bố thí cho đấy. - Luka lại tán thêm vào. - Lạy Chúa, người ta cho anh ấy hồi ở Tyumen, lúc anh ấy cùng đi trong đoàn.

- Này Skuratov, hồi ấy anh có nghề chứ?

- Nghề ngỗng gì đâu! Dắt người mù, mách lối cho trộm cướp, - một anh cau có nói - nghề của anh ta là thế đấy!

- Hồi bé tôi đã thử khâu giầy, - Skuratov hoàn toàn không để ý đến lời châm chọc vừa rồi, - nhưng chỉ khâu được đúng một đôi.

- Thế mà cũng có người mua à?

- Có chứ, có một anh chàng cứ lăn xả vào mua, cái anh chàng buồn cười lắm, trời đất không sợ, bố mẹ không kính, thế là bị Trời phạt bắt mua.

Mọi người bò lăn ra cười.

- Sau đó tôi còn làm nữa, ở ngay đây này, - Skuratov nói tiếp, mặt thản nhiên như không, - tôi làm cho ông trung úy Stepan Fedorych Pomortsev, dắt những cái đầu xinh xẻo đến cho ông ấy.

- Thế ông ta có hài lòng không?

- Anh em ơi, ông ấy chẳng hài lòng tí nào. Ông ấy chửi tôi một ngàn năm không hết lời, lại còn dùng đầu gối thúc đít tôi nữa chứ. Cái ông ấy bẳn tính lắm. Chao ôi, sao mà cuộc đời tôi nó khốn khổ thế không biết, cái cuộc đời khổ sai này!

Chỉ lát sau chồng của Akulina

Lẳng lặng bước ra ngoài sân...

Anh chàng bỗng dài giọng hát vang một câu rồi thoăn thoắt bước đi như chạy.

- Một kẻ vô dụng! - một người nhận xét với giọng kết luận nghiêm khắc.

Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao người ta lại cáu bẳn với Skuratov, và nói chung cũng không hiểu vì sao mà tất cả những con người vui nhộn, như tôi đã kịp nhận xét trong những ngày đầu tiên ấy, dường như cứ bị khinh rẻ thế nào ấy? Cơn giận dữ của anh bạn tóc chỏm và những người khác tôi liệt vào hạng hiềm xích cá nhân. Nhưng cũng không phải là hiềm xích cá nhân, mà họ giận là vì Skuratov không biết chịu đựng, không có cái vẻ giả tạo khắc khổ của phẩm giá riêng mà cả trại này vẫn lây nhiễm nhau thành ra thói thông thái rởm. Nói tóm lại họ cáu giận là vì rằng, nói theo lối của họ, anh ta là một con người “vô dụng”. Tuy nhiên họ lại không cáu giận với tất cả những người vui nhộn, không xét nét tất cả những người vui nhộn như đối với Skuratov và những kẻ giống anh ta. Mỗi người lại cho phép người khác đối xử với mình một kiểu: người hảo tâm và không biết toan tính thì ngay lập tức bị miệt thị. Điều đó thậm chí khiến tôi kinh ngạc. Nhưng trong số những người vui tính có những anh biết ăn đũa trả đũa và không độ lượng với một ai: những người ấy thì lại được kính trọng. Trong đám người ấy có một tay ác khẩu, nhưng thực ra là người rất vui tính và rất hiền dịu, nhưng mãi về sau tôi mới biết anh ta về phương diện đó, một anh chàng đàng hoàng cao to, có một nốt ruồi lớn trên má và có nét mặt cực kỳ khôi hài, nhưng thực ra lại điển trai và sáng dạ. Mọi người gọi anh là nhà tiên phong vì có một thời anh tham gia vào đội tiền phong; còn bây giờ thì anh lại ở phân trại đặc biệt. Về anh này tôi sẽ còn có dịp phải nói tới.

Tuy nhiên, không phải tất cả những người “nghiêm túc” đều dễ tự bộc lộ giống như anh chàng tóc chỏm nổi giận với trò vui nhộn. Trong trại tù khổ sai có mấy người cứ muốn giành ghế độc tôn, muốn biết hết mọi điều, muốn cả lanh lợi, cả cá tính rồi cả thông minh nữa. Trong số đó nhiều người quả là thông minh, có cá tính và thực sự đã đạt tới cái đích mà họ nhắm tới, tức là giành ghế vô địch và có ảnh hưởng tinh thần đáng kể đến bạn bè. Giữa họ với nhau thì những kẻ thông minh lại thường là những kẻ thù lớn và mỗi người lại có nhiều kẻ ghen ghét mình. Đối với những trại nhân khác thì họ nhìn với con mắt đức độ và thậm chí là khoan dung, họ không gây ra những cuộc tranh cãi vô bổ, được bọn cai quản đánh giá tốt, khi đi làm thì được chỉ định giữ gìn trật tự chung và không ai trong số họ lại đi bẻ hành bẻ tỏi người khác, chẳng hạn như là vì mấy câu hát chơi: họ không tự hạ mình xuống đến mức tiểu tiết như vậy. Đối với tôi tất cả bọn họ đều rất lễ độ trong suốt thời gian ở trại, nhưng họ cũng không hay trò truyện nhiều lắm, dường như họ cũng muốn giữ phẩm giá cho mình. Về những người này tôi cũng phải nói chi tiết sau.

Bây giờ chúng tôi đã đến bờ sông. Dưới sông là chiếc sà lan cũ mèm bị đóng băng mà chúng tôi phải phá bỏ. Bên kia sông là thảo nguyên xanh xanh; quang cảnh hoang dã gợi buồn. Tôi chờ xem mọi người lao vào công việc thế nào, nhưng không ai màng đến công việc. Nhiều người tìm những hòn đá to rải rác ven bờ mà ngồi; phần lớn đều rút thuốc lá trong ủng ra hút. Thuốc lá này họ mua ở chợ đây lúc còn là lá chưa thái, có ba xu một bịch, lại mua cả những cái tẩu nhỏ có ống gỗ bé tự chế. Họ cứ thế ngồi rít thuốc, bọn lính áp tải quây quanh như đai xích, buồn rầu trông nom chúng tôi.

- Ai lại nghĩ ra cái trò phá sà lan thế này nhỉ? - một người nói vu vơ, chẳng nhằm vào ai, - muốn lấy ván vụn chắc?

- Ai không sợ chúng ta thì nghĩ ra thế, - một người khác nhận xét.

- Những thằng cha muzik kia đi đâu nhỉ? - người hỏi lúc đầu, đã ngồi yên lặng một lát, dường như không thấy ai trả lời câu hỏi ban nãy, liền hất hàm về phía một đám đàn ông đang theo gót nhau lội vào bãi tuyết chưa có dấu chân người. Mọi người lười nhác quay về phía ấy rồi cười với nhau chẳng biết làm gì hơn. Người đàn ông đi cuối cùng trông thật buồn cười, hai tay khua lên, đầu ngoẹo sang bên, trên đầu là một chiếc mũ dài như chiếc bánh kiều mạch. Trên nền tuyết trắng hình dáng anh nổi lên rất rõ toàn bộ.

- Này ông anh Petrovich, trông vẹo vọ quá nhỉ! - một người bắt chước giọng muzik nhà quê. Có một điều thú vị là nói chung thì các trại nhân nhìn những người muzik có phần hơi dưới tầm mắt, mặc dầu phần nửa trong số họ lại xuất thân từ lớp người muzik.

- Các bạn ơi, cái anh chàng đi sau rốt kia cứ ngật ngưỡng như là đi trồng củ cải ấy.

- Thằng cha này đầu óc nặng nề lắm, nhưng tiền thì rất nhiều, - người thứ ba nhận xét.

Mọi người cười ồ lên, nhưng vẫn lười nhác, dường như rất uể oải.

Đúng lúc này thì có người đến. Đó là cô bán bánh mỳ nhanh nhảu và hoạt bát.

Mọi người đem năm xu bố thí ra mua rồi chia đều.

Có một chàng thanh niên vốn trước đây đã bán bánh mỳ trong trại, vơ lấy một lúc hai chục bánh. Anh chàng gân cổ tranh luận đòi lấy thêm ba chiếc, chứ không phải hai chiếc như thường lệ, nhưng cô bán hàng không đồng ý.

- Thế cô không bán à?

- Anh còn muốn thêm gì nữa?

- Thêm gì à? Mấy cái bánh này thì chuột cũng không ăn?

- Vả vào cái miệng anh!

Cô gái rít lên rồi cười khanh khách.

Cuối cùng thì tên quản việc và tên hạ sĩ quan cầm gậy cũng đến.

- Sao còn ngồi đây? Làm đi!

- Thưa ông Ivan Matveich! Xin ông khoán việc! - một trong số những người “đầu trò tù nhân” vừa nói vừa chậm chạp đứng dậy.

- Tại sao lúc nãy thì không xin? Rỡ sà lan ra. Đấy, công việc có thế thôi!

Cuối cùng thì mọi người cũng đứng dậy và lê bước ra sông. Trong đoàn lập tức xuất hiện những người “điều hành”, ít nhất cũng là bằng lời nói. Hóa ra cái sà lan này rỡ ra không phải vô ích. Gỗ sà lan tùy mức độ mà cần giữ lại, nhất là những tấm dầm ngang được đóng đinh chi chít từ đầu đến cuối. Công việc thật mất thì giờ và buồn tẻ.

- Đầu tiên phải kéo tấm gỗ này ra đã! Chung tay vào, các bạn ơi! - một người lên tiếng. Anh ta không phải người điều hành, cũng chẳng phải chỉ huy, mà chỉ là phu đen lầm lũi, chẳng biết ăn nói. Anh ta cúi mình, hai tay túm vào một khúc gỗ to, chờ người chung tay. Nhưng chẳng ai giúp anh ta cả.

- Nâng sao được! Anh là con gấu mà còn không nâng được thì đến cụ kỵ nhà anh đến đây cũng chịu, - một người nào đó rít răng nói.

- Vậy thì sao, anh em ơi? Làm thế nào bắt đầu được? Tôi cũng không biết... - anh chàng rắp tâm lập công bần thần bỏ mặc khúc gỗ rồi đứng dậy.

- Anh không làm hết việc được đâu, cố mà làm gì?

- Cho ba con gà nhà ăn còn tính nhầm, thế mà đòi... Đồ vịt giời!

- Phải rồi, thưa các anh em, tôi là cái đinh gì đâu, - anh chàng bần thần đáp lại, - tôi chỉ...

- Tôi đeo đá lên lưng các người hay sao thế này? Hay là phải ướp muối các người để ăn thịt vào mùa đông đây? - tên quản đốc lại gầm lên, mắt ngơ ngác nhìn hai chục đầu người mà không biết phải bắt đầu công việc thế nào. - Bắt đầu đi! Mau lên!

- Không mau được đâu, thưa ông Ivan Matveich!

- Cái thằng này không làm gì cả, Saveliev! Nói thế đủ rồi, Petrovich! Tao bảo cái thằng này: mày trợn mắt đứng đấy làm gì!... bắt đầu đi!

- Một mình tôi thì làm gì được?...

- Thưa ông Ivan Matveich! Ông khoán việc đi!

- Đã nói rồi, còn chỉ bảo gì nữa? Rỡ sà lan ra rồi đi về. Nào, bắt đầu!

Cuối cùng mọi người cũng nhúc nhắc, nhưng uể oải, chán nản, vụng về. Ai nhìn cũng thấy đáng bực với đám người khỏe mạnh như thế mà không biết cách vào việc thế nào. Họ vừa mới lấy được một thanh gỗ nhỏ đầu tiên ra thì nó đã gãy, “tự nó gãy đấy nhé”, có người chống chế với tên quản đốc; có nghĩa là làm thế này không xong rồi, phải tìm cách làm khác mới được. Thế là họ lại thảo luận hồi lâu với nhau xem bắt đầu cách khác thế nào? Dần dà cuộc thảo luận biến ra chửi mắng và có chiều hướng đi xa hơn nữa... Tên lao quản lại quát tháo rồi vung gậy lên, nhưng rồi một thanh gỗ nữa lại gãy. Cuối cùng họ nhận ra rằng số rìu mang đi ít quá, và phải lấy thêm một công cụ gì nữa. Thế là hai chàng trai được cử đi, có áp giải, về trại lấy dụng cụ. Trong lúc chờ đợi mọi người lại ngồi nghỉ trên sà lan, lấy thuốc ra và lại hút.

Cuối cùng tên quản đốc nhổ nước bọt.

- Làm như các người thì ai mà chả làm được! Người với lại ngợm! - Hắn giận dữ nói một tràng dài rồi vung tay về trại, vừa đi vừa huơ huơ cây gậy.

Một giờ sau tên chỉ đạo tới nơi, bình tĩnh nghe anh em nói rồi tuyên bố rằng hắn sẽ khoán gỡ ra bốn cây gỗ ngang nữa, gỡ làm sao để gỗ nguyên vẹn, không gãy vỡ, ngoài ra, còn phải tháo dỡ được một phần lớn sà lan, như thế rồi mới về nhà được. Việc khoán thì lớn, nhưng, cha mẹ ơi, họ vào việc thế nào! Lười nhác và vụng về đâu còn nữa! Mọi người vung rìu lên rồi bắt đầu nhổ các đinh gỗ. Những người khác thì luồn xuống dưới ván những chiếc sào to, dùng hai mươi cánh tay tì xuống rồi mạnh dạn và khéo léo bẩy những thanh gỗ ngang, nhưng thật đáng ngạc nhiên, chúng được bẩy mà vẫn hoàn toàn nguyên lành, không hề hấn gì cả. Công việc thật sôi động. Mọi người bỗng chốc khôn ngoan hẳn lên. Không ai nói thừa, không cãi lộn nhau, ai cũng biết phải nói gì, làm gì, đi đâu. Chỉ mất đúng nửa giờ trước lúc trống điểm thì việc khoán kết thúc, đám tù nhân ra về mệt mỏi, nhưng hoàn toàn hài lòng, mặc dù họ chỉ lãi được nửa tiếng so với thời gian qui định. Về phần tôi, tôi nhận thấy một điều đặc biệt: dù tôi có định giúp họ việc gì trong khi làm việc, thì ở đâu tôi cũng không có chỗ đứng, ở đâu tôi cũng làm phiền anh em và ở đâu tôi cũng bị anh em đuổi ra thậm chí còn suýt bị chửi mắng.

Một tay khố rách áo ôm mạt hạng, làm việc tồi tệ bậc nhất, không dám đằng hắng trước mặt anh em trại nhân hoạt bát hơn và nhanh trí hơn y cho mình có quyền quát mắng tôi và xua đuổi tôi nếu tôi cứ xán lăn vào chỗ anh ta, lấy lý do là tôi quấy rầy anh ta. Cuối cùng, một anh chàng bạo mồm nhất đã nói với tôi một cách thẳng thắn và thô bạo “Ông lăn xả vào đâu thế, đi ra ngoài kia đi! Không ai bảo mà cũng cứ vào”.

- Hết đường rồi! - một người khác đế vào.

- Tốt nhất là ông cầm cái ca, - người thứ ba nói, - đi xin bố thí cho chúng tôi xây thành và hút thuốc, còn ở đây ông không có việc gì làm đâu.

Tôi đành phải đứng một mình, mà đứng một mình khi mọi người làm việc thì thấy xấu hổ. Nhưng quả thật, khi tôi bước ra xa và đã đi đến tận cuối chỗ sà lan thì lập tức họ lại lớn tiếng:

- Đấy, đi làm như thế đấy. Làm gì được với những vị như thế này? Chẳng làm gì được.

Chắc chắn đấy là chuyện họ cố ý, vì việc đó làm mọi người được tiêu khiển. Thì họ cũng phải ra oai một tí đối với một người vốn là quý tộc và tất nhiên là họ vui mừng có dịp được như vậy.

Như tôi đã nói ở trên, bây giờ thì đã rất rõ vì sao khi bước chân vào trại tôi đã vướng mắc với câu hỏi đầu tiên: phải cư xử thế nào, phải thể hiện mình thế nào trước những con người này? Tôi đã dự cảm thấy rằng rồi đây tôi sẽ phải thường xuyên va vấp với họ, cũng giống như trong công việc bây giờ. Nhưng dù có phải va chạm thế nào đi nữa, thì tôi cũng quyết không thay đổi kế hoạch hành động của mình, mà một phần tôi đã nghĩ kỹ trong thời gian đó; tôi biết rằng kế hoạch ấy là đúng. Cụ thể là: tôi định là phải giữ mình càng đơn giản và càng độc lập càng tốt, tuyệt đối không bộc lộ mong muốn gần gũi với họ, nhưng cũng không chối bỏ họ, nếu bản thân họ muốn gần gũi với tôi. Hoàn toàn không sợ họ đe dọa và căm ghét, và cố hết sức tỏ ra không nhận thấy điều đó. Hoàn toàn không tiếp cận với họ ở một số điểm và cũng không dung túng cho họ một số tập quán và thói quen. Nói tóm lại là mình không cầu cạnh làm bạn bằng vai phải lứa hoàn toàn với họ. Ngay từ cái nhìn đầu tiên tôi đã đoán ra rằng họ sẽ là những người đầu tiên khinh bỉ tôi về điều đó. Tuy nhiên, theo các quan niệm của họ (mãi về sau tôi mới biết được chắc chắn) thì thế nào tôi cũng phải giữ gìn và tôn trọng trước mặt họ cả cái gốc gác quý tộc của tôi, nghĩa là tôi phải làm mình làm mẩy, phải điệu bộ, phải kỳ thị họ, phải càu nhàu khắp nơi khắp chốn, phải đòi ăn trắng mặc trơn. Họ hiểu phải như thế mới là quý tộc. Hiển nhiên là họ sẽ mắng chửi tôi vì chuyện đó, thế nhưng trong thâm tâm thì họ sẽ kính nể. Cái vai ấy lại không hợp với tôi. Tôi chưa bao giờ là quý tộc theo cách hiểu của họ, thế nhưng tôi đã thề với mình là không hề nhượng bộ để phải hạ thấp trình độ học vấn và lối suy nghĩ của mình trước mắt họ. Nếu như để chiều lòng họ mà tôi phải nịnh bợ họ, tán thành họ, xuê xoa với họ và chấp nhận những “đức tính” của họ để tranh thủ sự đồng cảm của họ, thì ngay lập tức họ sẽ cho rằng tôi làm như thế chỉ vì sợ hãi và hèn nhát và họ sẽ bắt đầu khinh bỉ tôi. Anh chàng A. không phải là một tấm gương - anh ta đi đêm với tên thiếu tá và họ tự thấy sợ. Mặt khác, tôi lại không muốn sống khép mình trước mắt họ trong phép xã giao lạnh lùng và xa lạ như những người Ba Lan. Bây giờ tôi đã thấy rõ rằng họ khinh bỉ tôi vì tôi muốn làm việc như họ, tôi đã không ẻo lả và ươn hèn trước mặt họ và mặc dù tôi biết trước rằng sau này họ sẽ phải thay đổi ý kiến về tôi, nhưng dù sao thì cái ý nghĩ cho rằng bây giờ dường như họ có quyền được khinh bỉ tôi vì ban nãy, trong lúc làm việc, tôi đã cầu cạnh họ, - cái ý nghĩ ấy làm tôi buồn bực kinh khủng.

Buổi chiều, sau khi kết thúc công việc tôi trở về trại mệt mỏi và rầu rĩ thì nỗi buồn ghê gớm kia lại hành hạ tôi. Tôi nghĩ “Còn bao nhiêu ngàn ngày như thế này nữa đây, những ngày cứ như thế này, giống hệt thế này!” Một mình trong ánh hoàng hôn tôi lặng lẽ đi quanh lán trại men theo hàng rào và bỗng chốc tôi nhìn thấy con chó Sharik chạy thẳng về phía tôi. Sharik là con chó chung của cả trại, bởi vì vẫn còn những con chó của các đơn vị như trung đội, tiểu đội, chi đội... Con chó này sống trong trại không biết tự thuở nào, nó không có chủ nên coi ai cũng là chủ và sống bằng cơm thừa canh cặn trong bếp. Đó là một con chó không nòi khá lớn, lông đen đốm trắng, không già lắm có đôi mắt thông minh và cái đuôi xù. Chẳng bao giờ có ai âu yếm bên nó, không có ai thèm để ý đến nó. Ngay từ ngày đầu tiên tôi đã vuốt ve nó và tự tay cho nó bánh mỳ. Khi tôi vuốt ve nó thì nó đứng yên, âu yếm nhìn tôi và nhẹ nhàng vẫy đuôi ra dấu hài lòng. Bây giờ lâu không thấy tôi, tức là thấy cái con người đầu tiên trong vòng mấy năm đã nghĩ đến chuyện vuốt ve nó, nên nó thường chạy tìm tôi trong đám mọi người, và khi thấy tôi ra đằng sau trại thì nó rít lên chạy tới. Tôi không biết tâm trạng tôi ra làm sao, nhưng tôi cũng lao tới ôm nó mà hôn. Khi tôi ôm đầu nó, nó tung hai chân trước lên vai tôi và bắt đầu liếm mặt “Đây là người bạn mà số phận mang đến cho tôi!” - tôi nghĩ như thế và sau này trong thời kỳ nặng nề khắc khổ đầu tiên mỗi lần tôi đi làm về thì trước hết không vội đi đâu bao giờ tôi cũng vòng ra sau trại. Con Sharik vừa rít lên sung sướng vừa chạy đằng trước mặt tôi. Tôi ôm đầu nó mà hôn, tôi hôn nó và một thứ tình cảm vừa dịu ngọt vừa cay đắng xâm chiếm lấy trái tim tôi. Tôi nhớ rằng tôi thấy thoải mái khi nghĩ cứ như khoe khoang ngay trước mặt mình một niềm đau khổ bởi lẽ trong cả gầm trời này bây giờ còn lại với tôi chỉ có một thực thể mà thôi, một thực thể yêu thương tôi, quấn quít tôi, người bạn của tôi, người bạn duy nhất của tôi - con chó trung thành của tôi Sharik.

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.