Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI - CHUYỆN CON BÒ TRẮNG VÀ CHUYỆN GÃ MUGIC XỨ KOMARIN
VI CHUYỆN CON BÒ TRẮNG VÀ CHUYỆN GÃ MUGIC XỨ KOMARIN

❊ ❊ ❊

Nhưng trước khi có hân hạnh giới thiệu với độc giả về nhân vật Foma Fomits vừa đến, tôi thấy rất cần có đôi lời về Falalei và nói rõ đâu chính là điều đáng sợ trong việc nó nhảy điệu Komarin để cho Foma Fomits bắt được quả tang là nó đang đắm đuối với trò giải trí vui vẻ đó. Falalei là một thằng nhỏ - một gia nhân nhỏ tuổi, - mồ côi từ thuở trong nôi và là con đỡ đầu của thím tôi - vợ chú tôi. Chú tôi rất yêu nó. Riêng điều đó đã quá đủ để Foma Fomits một khi đã chuyển về Stepantsikovo và chế ngự được chú tôi, sinh bụng ghét bỏ nó. Nhưng thằng bé lại rất được lòng tướng quân phu nhân nên dù bị Foma Fomits tức tối hằm hè, vẫn được o bế trong giới chủ: chính tướng quân phu nhân đã nhất quyết giữ nguyên thái độ nên Foma Fomits đành nhượng bộ nhưng vẫn ôm hận trong lòng - chuyện gì cũng được gã coi là hận - và hễ có dịp là ra tay rửa hận bằng cách trả thù ông chú hiền lành trong trắng của tôi. Falalei xinh trai kỳ lạ. Nó có vẻ mặt con gái, vẻ mặt một thôn nữ xinh tươi hết ý. Tướng quân phu nhân chăm sóc và âu yếm nó, nâng niu nó như một món đồ chơi quý hiếm; có điều còn chưa rõ là người quý con chó nhỏ lông xoăn Ami của mình hơn hay quý nó hơn. Chúng ta đã nói về bộ quần áo nó đang mặc, một tác phẩm của người. Vào các dịp lễ hội, các bà các cô cho nó sáp chải tóc và gã thợ cắt tóc Kuzma có nhiệm vụ làm đầu cho nó. Nó là đứa bé hơi kỳ cục. Không thể bảo nó là khờ khạo hoặc ngây ngô nhưng nó ngây thơ, thật thà và chất phác đến nỗi quả thật đôi lúc có thể cho nó là ngốc nghếch. Cứ nằm mơ thấy chuyện gì là đến kể ngay với các ông lớn. Nó góp chuyện tự nhiên với các ngài, không chút lăn tăn về việc ngắt lời người lớn. Nó tông tốc kể đủ thứ chuyện đáng ra không được kể với các ông lớn. Nó khóc sướt mướt khi cụ lớn ngất xỉu hoặc khi bị các ông lớn mắng mỏ nặng lời. Nó động lòng thương cảm trước bất cứ nỗi bất hạnh nào. Thỉnh thoảng nó vẫn đến bên tướng quân phu nhân, hôn tay người và xin người bớt giận, - và tướng quân phu nhân rộng lòng miễn thứ cho nó về những cử chỉ táo bạo đó. Nó cực kỳ đa cảm, lại hiền lành, vô hại như một chú cừu non, vui vẻ như một đứa trẻ hạnh phúc. Các vị thường cho nó những món ăn được bày trên bàn uống nước.

Nó thường xuyên đứng hầu tướng quân phu nhân trong phòng khách và rất thích đường. Được viên nào là vứt luôn vào mồm nhai rau ráu bằng hai hàm răng cứng cáp, trắng như sữa, và lạc thú thăng hoa ánh lên trong đôi mắt vui vẻ màu xanh lam và trên toàn gương mặt xinh xẻo của nó.

Foma Fomits hờn giận khá lâu; rút cuộc, khi đã nhận ra rằng hờn giận mấy cũng bằng thừa bèn quay ra sắm vai người ưu ái chăm lo cho Falalei. Sau khi lớn tiếng quở trách chú tôi là chẳng chịu bảo ban kẻ ăn người làm gì ráo, y bắt tay ngay vào việc dạy dỗ thằng bé tội nghiệp về đạo đức, phép lịch sự và tiếng Pháp. “Thế đấy! - y nói, cố giữ rịt lấy cái ý tưởng mù quáng của mình (cái ý tưởng từng len vào đầu khối người chứ chẳng riêng gì Foma Fomits, như người viết những dòng này đã được chứng kiến) - thế đấy! Nó là đứa hầu cận, luôn luôn theo hầu bà lớn; bây giờ ngộ nhỡ bà quên là nó không hiểu tiếng Pháp, cứ quen mồm mà bảo nó đonnê moa mông musoa[1] - thì nó cũng phải biết ý mà hầu hạ chứ!” Nhưng hóa ra Falalei chẳng những không học nổi tiếng Pháp, mà đến cả đầu bếp Andron, cậu nó, sau bao nhiêu lâu ra công cố sức một cách vô tư để nhồi nhét ngữ pháp tiếng Nga cho nó cũng đành phẩy tay từ bỏ và xếp cuốn vỡ lòng lên giá sách từ lâu! Nói về chuyện học hành thì Falalei đúng là thằng dốt đặc cán mai, không tiếp thu nổi một tý gì. Đã thế lại còn lắm chuyện rầy rà nữa chứ. Bọn gia nhân bắt đầu trêu Falalei là chàng người Pháp, còn già Gavrila, người hầu tin cẩn của chú tôi thì dám công khai phủ nhận lợi ích của việc học ngữ pháp tiếng Pháp. Chuyện đến tai Foma Fomits, y nổi giận và ra tay trừng phạt kẻ chống đối bằng cách ép buộc chính lão, Gavrila, phải theo học tiếng Pháp. Đó là căn nguyên của toàn bộ câu chuyện về tiếng Pháp đã khiến ông lớn Baktseev nổi giận. Về phép lịch sự thì tình hình còn tệ hại hơn: Foma không tài nào uốn nắn được Falalei: dù đã có lệnh cấm, sáng sáng nó vẫn đem chuyện nằm mơ ra kể với y, điều mà theo y là quá ư bất nhã, sỗ sàng. Nhưng Falalei vẫn cứ là Falalei. Dĩ nhiên chú tôi đã là người trước tiên phải hứng chịu mọi lời trách cứ.

- Liệu ngài có biết hôm nay nó đã làm gì không nhỉ? - để đạt hiệu quả cao, Foma thường đợi đến lúc có đủ mặt mọi người mới quát ngậu lên. - Ngài có biết, sự nuông chiều trước sau như một của ngài đã dẫn đến hậu quả thế nào không, thưa đại tá? Ngài có biết hôm nay khi vừa nuốt xong miếng bánh ngọt ngài cho bên bàn uống nước, nó đã nói gì không? Lại đây, lại đây, đồ quái thai kia, lại đây, đồ ngu, cái thằng mặt mẹt má đỏ hây hây kia!...

Falalei vừa khóc vừa bước đến bên y, hai tay quệt nước mắt.

- Mày đã nói gì khi vừa ngốn xong miếng bánh? Nhắc lại trước mặt mọi người xem!

Falalei không đáp, cứ khóc như cha chết.

- Thế thì để ta nhắc hộ cho. Mày vừa vỗ bồm bộp vào cái bụng no căng, thây lẩy như cái trống cái của mày mà nói: “Ních đầy một bụng bánh như Martin ngốn xà phòng!” Xin lỗi ngài, thưa đại tá, lẽ nào có thể nói những câu như vậy trước mặt những người có học, mà lại là người trong giới thượng lưu? Mày có nói như thế hay không? Nói!

- Co-o-ó!... - Falalei sụt sịt xác nhận.

- Được, bây giờ mày hãy nói cho ta biết: Martin ăn xà phòng thật chứ? Mày thấy cái gã Martin ăn xà phòng như thế ở đâu? Nói ngay, nói cho ta biết qua về cái nhân vật Martin kỳ quái ấy!

- Không có câu trả lời.

- Nghe ta hỏi đây, - Foma gặng, - cái nhân vật Martin ấy là ai? Ta muốn nhìn thấy hắn, làm quen với hắn. Nào, hắn là ai? Một viên đăng bạ, một nhà thiên văn học, một nhà thơ, một sĩ quan hậu cần, một gã đầy tớ - phải là một người nào đó chứ. Trả lời đi!

- Đâ-â-ầy tơ-ơ-ớ, - cuối cùng Falalei cũng trả lời nhưng vẫn không nín khóc.

- Đầy tớ của ai? Đầy tớ nhà nào? - Nhưng Falalei không biết đằng nào mà trả lời. Rút cục Foma đành điên tiết bỏ chạy khỏi phòng và hô hoán là đã bị mọi người trêu tức; tướng quân phu nhân bắt đầu lả đi, còn chú tôi chỉ còn biết than thân trách phận, xin mọi người thứ lỗi và suốt từ đó cho đến tối phải đi lại rón rén trong các phòng riêng của mình.

Vậy mà ngay sáng hôm sau, lúc mang trà lên cho Foma Fomits, Falalei đã kịp quên tiệt cả Martin lẫn toàn bộ nỗi khốn khổ hôm qua, cứ bô bô kể với ông chủ rằng đêm qua nó đã nằm mơ thấy một con bò trắng. Thật là quá thể! Foma Fomits nổi trận lôi đình, gọi ngay chú tôi đến để quở trách ông về những giấc mơ khiếm nhã của thằng Falalei của ông. Lần này thì hình phạt nghiêm khắc đã được áp dụng: Falalei bị phạt quỳ ở góc nhà. Nó bị nghiêm cấm không được nằm mơ thấy những chuyện thô lậu như thế, những giấc mơ của dân mugic. “Tôi bực tức là vì vậy, - Foma nói, - ngoài ra, tôi muốn cấm ngặt nó không được cả gan làm rác tai tôi bằng những giấc mơ của nó, nhất là bằng con bò trắng; ngoài ra - điều này hẳn ngài cũng đồng ý với tôi, thưa đại tá, - con bò trắng là gì nếu không phải là điều minh chứng cho sự lỗ mãng, dốt nát, quê kệch của cái thằng Falalei thô lậu của ngài? Đầu óc làm sao chiêm bao làm vậy. Tôi đã chẳng báo trước với ngài rằng nó là đứa không thể nên người và không nên để nó theo hầu những bậc cao sang quyền quý hay sao? Không bao giờ, không bao giờ ngài có thể biến một cái đầu rỗng tuếch của đám người hèn mọn thành một một tâm hồn tao nhã nên thơ được. Chẳng lẽ mày lại không thể, - y quay sang với Falalei, nói tiếp, - chẳng lẽ mày lại không thể mơ thấy một cảnh sang trọng, êm đềm, cao quý, một cảnh đời thường của giới thượng lưu, chẳng hạn như cảnh các ông lớn đánh bài hay cảnh các bà lớn dạo chơi trong một vườn hoa trăm hồng tràn tía? Falalei hứa đêm nay nhất định sẽ mơ thấy các ông lớn hoặc các bà lớn dạo chơi trong vườn hoa đẹp.

Trằn trọc trên giường, Falalei vừa khóc vừa cầu nguyện và tìm đủ cách để xua đuổi hình bóng con bò trắng khốn nạn kia. Nhưng hy vọng vẫn chỉ là hy vọng. Sáng ra tỉnh dậy, nó hoảng hồn khi nhớ lại là suốt đêm qua nó lại mơ thấy con bò trắng chết tiệt kia và tịnh không mơ thấy một bà nào dạo chơi trong vườn hoa đẹp cả. Lần này thì hậu quả đưa đến lại thật đặc biệt. Foma Fomits nói như đinh đóng cột rằng y không tin là có thể có chuyện như thế được, không ai lại có thể mơ đi mơ lại như thế được, đây hẳn là có kẻ nào trong nhà, mà cũng có thể là chính ngài đại tá đã xui nó cố tình chọc tức Foma Fomits. Tiếng quát hét, lời trách móc vang lên rầm rĩ, nước mắt chảy cũng nhiều. Đến tối thì tướng quân phu nhân phát ốm, nhà như có đám ma. Chỉ còn le lói một tia hy vọng là đêm nay, tức là đêm thứ ba, may ra Falalei sẽ mơ thấy một cảnh đời của giới thượng lưu. Rủi cho cả nhà là suốt một tuần liền, đêm nào Falalei cũng nằm mơ thấy con bò trắng, mỗi một con bò trắng! Chẳng thấy bóng dáng giới thượng lưu đâu cả.

Nhưng điều thú vị nhất ở đây là Faladei không nói dối được: chỉ cần bảo là mình không nằm mơ thấy con bò trắng mà chỉ thấy một cỗ xe ngựa chẳng hạn, xe lèn chặt các bà lớn cùng với Foma Fomits, thế thôi, nhất là nói dối thế này thì thật chẳng chết ai, nhưng Faladei vốn thực thà như đếm, có muốn cũng chẳng biết đường mà dối giả. Đó là điều mọi người cùng thấy rõ. Ai cũng biết là nó mà nói dối thì lộ tẩy ngay, bịp thế nào được Foma. Làm thế nào bây giờ? Chú tôi đã lâm vào thế bí: Falalei hỏng mất rồi, vô phương cứu chữa. Thằng bé tội nghiệp tọp hẳn đi vì sầu não. Ả thủ kho Malania quả quyết là nó bị ma làm, bèn lấy nước tôi than phun vào mặt nó. Vốn tính hay thương người, Praskovia cũng xúm vào với chị ta, nhưng cũng chẳng thấy gì chuyển biến. Đúng là hết sách!

- Quỷ tha ma bắt cái giống khốn nạn nhà nó chứ! - Falalei kể, - chả có đêm nào là không mơ thấy nó! Mà đêm nào con cũng khấn ngay từ tối: “Xin các đấng bề trên đừng bắt con mơ thấy con bò trắng, đừng bắt con mơ thấy con bò trắng!” Thế mà rồi nó cứ hiện lù lù ra ngay trước mắt con, cái giống khốn nạn ấy, to ơi là to, sừng nhọn hoắt, mõm nhành ra, ối giời đất ơi!

Chú tôi ủ rũ chán chường. May thay, Foma Fomits dường như đã quên béng câu chuyện con bò trắng. Tất nhiên chẳng có ai tin là Foma Fomits có thể quên cái chuyện quan trọng như thế được. Mọi người lo sợ đồ rằng có thể y đang để dành con bò trắng, có dịp sẽ tung ra ngay tức khắc. Về sau mới vỡ lẽ ra rằng thời gian này Foma Fomits không còn bụng dạ nào mà để tâm đến bò trắng nữa: y phải quay sang những việc khác, những mối quan tâm khác; những ý đồ khác đã chín muồi trong cái đầu lọc lõi, đa mưu túc kế của y. Đó là lý do khiến y cũng để cho Falalei được thở phào nhẹ nhõm. Cùng với Falalei, ai nấy đều được thảnh thơi thư giãn. Thằng bé vui vẻ hẳn lên, thậm chí còn quên dần chuyện cũ, càng ngày càng ít mơ thấy con bò trắng, tuy đôi lúc con vật vẫn còn gợi lại sự tồn tại huyền hoặc của mình. Tóm lại, mọi chuyện sẽ diễn ra tốt đẹp nếu trên đời không có điệu vũ Komarin.

Phải thấy rằng Falalei nhảy rất đẹp; đó là khả năng số một, năng khiếu thiên bẩm của nó; nó nhảy với nguồn năng lượng dồi dào, niềm phấn hứng không vơi cạn nhưng chủ yếu là nó đặc biệt yêu thích gã mugic xứ Komarin. Chẳng phải vì nó ưa chuộng những hành vi nông nổi và dù sao cũng kỳ quặc của cái gã mugic ất ơ ấy - không, nó thích nhảy điệu Komarin chỉ vì đối với nó, nghe điệu nhạc đó cất lên mà không nhảy theo nó dứt khoát là điều không thể. Thỉnh thoảng, vào các buổi chiều, vài ba gã đầy tớ, xà ích, gã làm vườn chuyên kéo vĩ cầm và thậm chí còn mấy nữ gia nhân nữa vẫn tụ tập ở một bãi đất trống tận cuối vườn, phía sau dinh cơ nhà địa chủ, cách xa nơi ở của Foma Fomits; nhạc cất lên, các điệu vũ sống dậy và sau rốt, vũ điệu Komarin cũng trang trọng cất cao tiếng nói của mình. Dàn nhạc gồm hai balalaika[2], một ghi-ta, một vĩ cầm, một trống lục lạc, do kỵ sĩ Mitiuska chỉ huy quá tốt. Phải thấy cho được hình ảnh của Falalei lúc bấy giờ: nó nhảy quên chết, nhảy đến kiệt sức, say sưa bởi tiếng reo hò, tiếng cười vang động; nó hét, nó thét, nó cười, nó vỗ tay; nó nhảy như bị cuốn theo một lực siêu hình nào đó mà nó không thể nào theo kịp, cứ việc cắm đầu cắm cổ đuổi theo cái nhịp độ mỗi lúc một nhanh của cả một điệu thức ngang tàng, khoái chí nện mạnh gót giày xuống đất. Đó là những phút thăng hoa của niềm hoan lạc thực sự của con người nó; và mọi chuyện hẳn đều tốt đẹp nếu rốt cuộc việc thể hiện điệu Komorin không đến tai Foma Fomits.

Foma Fomits choáng váng, lập tức cho người đi mời ngài đại tá đến.

- Tôi chỉ muốn được ngài cho biết một điều thôi, thưa đại tá, - Foma cất tiếng, - ngài đã quyết chí trừ khử cái thằng ngu xuẩn đốn đời mạt kiếp ấy hay chưa? Nếu đã thì tôi xin rút lui ngay, bằng không thì tôi...

- Cái gì mà lạ thế? Có chuyện gì vậy? - chú tôi hốt hoảng hỏi to.

- Còn phải hỏi nữa ư? Thế ngài có biết là nó nhảy điệu Komarin không nhỉ?

- Ừ... thế thì sao?

- Còn giăng sao gì nữa? - Foma rít lên. - Mà người hỏi như thế lại là ngài, ông chủ của chúng nó và còn có thể nói: người cha của chúng nó! Liệu ngài có nhận thức rõ ràng về điệu vũ Komarin hay không? Ngài có biết là bài hát đó nó miêu tả một thằng mugic tởm lợm chỉ chực giở trò đồi bại dưới bộ dạng một thằng say không chứ? Ngài có biết là thằng đầy tớ trác táng kia đã gây nên những tổn thất gì? Nó đã chà đạp lên những mối thâm tình vô giá, đúng thế, chà đạp bằng những gót ủng mugic của nó, những gót ủng chỉ quen lê lết trên cái sàn tiệm rượu mà thôi! Và ngài có hiểu rằng ngài đã phỉ báng những tình cảm cao quý nhất của tôi bằng câu trả lời của ngài không? Ngài có hiểu không?

- Nhưng, Foma ạ... Nó cũng chỉ là một bài hát thôi mà, Foma ạ...

- Chỉ là một bài hát là thế nào? Và ngài cũng không biết xấu hổ khi thú nhận với tôi rằng ngài có biết bài hát đó, trong khi ngài là người của giới thượng lưu, là cha của những đứa con ngoan ngoãn và trong trắng, lại còn là một đại tá nữa! Chỉ là một bài hát! Nhưng tôi tin chắc rằng bài hát đó đã xuất phát từ một chuyện có thật! Chỉ là một bài hát! Nhưng liệu có người đứng đắn nào lại không hề xấu hổ khi thú nhận rằng mình có biết bài hát đó, có nghe thấy bài hát đó dù chỉ trong một dịp tình cờ? Có người nào như thế hay không? Người đó là ai?

- Ông hỏi thế có nghĩa là ông phải biết rồi, Foma ạ... - chú tôi trả lời một cách hồn nhiên, dù vẫn chưa hết ngượng.

- Thế đấy! Tôi biết ư? Tôi... tôi... có nghĩa là tôi đấy!... Ngài đã phỉ báng tôi! - Foma bỗng hét lên, rời ghế đứng phắt dậy và nghẹn thở vì tức giận. Y không ngờ được nghe một câu trả lời váng óc đến thế.

Tôi sẽ không mô tả cơn giận của Foma Fomits. Để trả giá cho câu trả lời khiếm nhã và ngớ ngẩn của mình, ngài đại tá buộc phải lủi thủi ra về, rút khỏi tầm mắt của đấng cầm cân nảy mực. Nhưng từ đó Foma Fomits đã hạ quyết tâm phải bắt quả tang thằng Falalei đang nhảy điệu Komarin mới được. Tối tối, khi mọi người cho rằng y đang chúi mũi vào công việc, y đã lẻn ra vườn, đi quanh các vườn rau và nấp vào một bụi gai dầu, từ đó có thể nhìn sang bãi đất trống có bọn người đang khiêu vũ. Y rình thằng Falalei khốn khổ như mèo rình chuột, hí hửng tính đến chuyện loan tin giật gân cho cả nhà, đặc biệt là cho ông đại tá, một khi vớ được con mồi. Rút cuộc, những cố gắng không mệt mỏi của y đã được đền đáp: y đã chộp được kẻ tội đồ nhảy điệu Komarin! Vậy là chúng ta đã rõ vì sao sau đó chú tôi đã phải bàng hoàng khi nhìn thấy thằng Falalei khóc mếu và nghe thấy tiếng gã Vidopliasov thưa là Foma Fomist đã đến. Ngay trong giây phút hoang mang nhường ấy, chính y đã bất đồ hiện ra trước mắt chúng tôi.

❀ ❀ ❀

[1] Donnez moi mon mouchoir - Đưa cho ta cái khăn tay của ta nào! (tiếng Pháp)

[2] Một kiểu đàn gảy, nhạc cụ dân gian Nga, có ba dây đàn, hộp đàn hình tam giác.

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.