Chẳng bao lâu sau cái vụ tên thiếu tá, trong trại chúng tôi đã diễn ra những thay đổi căn bản. Đơn vị khổ sai đã được hủy bỏ và thay vào đó là thành lập đại đội tù nhân thuộc bên quân đội trên cơ sở các đại đội tù nhân của toàn nước Nga. Điều đó có nghĩa là người ta không đưa về trại chúng tôi những tù nhân lưu đày loại hai nữa. Từ nay trại chúng tôi chỉ nhận những tù nhân quân đội, tức là những người chưa mất quyền sở hữu tài sản, tức là những người lính giống như những người lính khác, chỉ có điều là họ bị trừng phạt, phải đi tù ngắn hạn (tối đa là sáu năm), và sau khi xuất trại họ lại trở về tiểu đoàn cũ làm lính trơn như trước đây. Tuy nhiên, những người phải quay lại trại khi mắc tội lần thứ hai thì bị trừng phạt như ngày xưa, tức là thời hạn hai mươi năm. Trước khi có sự thay đổi này thì ở đây chúng tôi có một đơn vị tù binh loại quân nhân, họ sống với chúng tôi vì không có nơi nào khác. Bây giờ cả trại là loại người đó. Dĩ nhiên, những tù khổ sai cũ, những tù khổ sai dân sự hiện thời, những người đã mất mọi quyền hạn, bị đóng dấu và bị gọt nửa đầu thì vẫn ở lại trong trại cho đến mãn hạn. Tù mới không đến, tù cũ thì cứ dần dần hết hạn ra đi, cho nên chỉ trong mười năm trại chúng tôi không thể còn một tù nhân khổ sai nào nữa. Đơn vị đặc biệt thì vẫn còn trong trại, nhưng thỉnh thoảng mới có những tù nhân trọng án thuộc bên quân đội đưa đến trước khi ở Sibir mở ra những công trường khổ sai nặng nhọc nhất. Như vậy là về bản chất, đối với chúng tôi, cuộc sống vẫn kéo lê dài dài như trước: vẫn khoản tiền nuôi dưỡng ấy, vẫn công việc ấy và gần như vẫn là nội quy ấy, chỉ có điều ban chỉ huy đã thay đổi và phức tạp hơn. Đã điều về đây một sĩ quan hành dinh, một đại đội trưởng, và trên hết là bốn sĩ quan chỉ huy thay nhau trực trại. Nhóm thương bệnh binh cũng bị bãi bỏ, thay vào đó là nhóm mười hai hạ sĩ quan và một sĩ quan hậu cần. Bắt đầu có chế độ phân tổ mười người, có một ông cai được chọn trong số tù nhân. Ông Akim Akimych về danh nghĩa đã hiển nhiên được là ông cai. Toàn bộ cơ chế mới, toàn bộ trại tù với tất cả các cấp hàm và các trại nhân vẫn nằm trong tay một người chỉ huy cao nhất gọi là tổng quản. Đó là tất cả những gì xảy ra. Đầu tiên, trại nhân rất xôn xao, họ bàn tán, đồn đoán và dò xét các thủ lĩnh mới, nhưng sau thấy rằng thực chất thì mọi việc lại vẫn như xưa, lúc đó họ yên tâm và cuộc sống lại dần trôi như cũ. Nhưng có điều chủ yếu là tất cả đã tách rời khỏi tên thiếu tá ngày xưa, mọi người như được thở phào và được tỉnh táo. Đã mất đi vẻ mặt hãi hùng, bây giờ mọi người biết rằng khi cần thiết người ta có thể giãi bầy với người chỉ huy rằng lẽ nào người vô tội lại bị hành xử như người có tội. Thậm chí bây giờ rượu cũng vẫn được bán theo những nguyên tắc trước đây, có điều người bán không còn là các thương bệnh binh, mà là các hạ sĩ. Các hạ sĩ quan này phần lớn là những người đứng đắn và có suy nghĩ, có hiểu biết vị thế của mình. Tuy nhiên, trong số họ ban đầu cũng có những người có ý đồ làm liều, và tất nhiên, cũng vì còn thiếu kinh nghiệm, nên họ nghĩ rằng có thể đối xử với tù nhân như đối với binh lính. Nhưng cuối cùng những người ấy cũng hiểu ra sự việc. Những người khác nữa rất chậm hiểu thì được chính các anh em trại nhân chứng minh cho biết thực chất vấn đề. Cũng đã xảy ra các cuộc xung đột khá quyết liệt, chẳng hạn như dụ dỗ hạ sĩ, chuốc rượu cho say, rồi sau đó báo lên theo cách nói của mình là anh ta uống rượu với họ, và như thế là... Câu chuyện kết thúc ở chỗ các hạ sĩ quan đã thờ ơ nhìn nhận, hoặc nói đúng hơn là cố gắng không nhìn nhận việc đưa rượu vào và bán rượu ra sao. Hơn thế nữa, cũng giống như các thương bệnh binh ngày trước, họ lại ra chợ mang về cho các trại nhân đủ các thứ bánh mỳ, thịt bò, v.v,... tức là tất cả những gì mà họ có thể làm được không cần có sự trông coi ngặt nghèo. Để làm được điều đó thì tất cả đã phải thay đổi, phải hình thành một đại đội tù nhân, điều này tôi không biết được. Điều này xảy ra vào những năm cuối cùng của thời tôi bị khổ sai. Vậy tôi còn hai năm nữa được sống trong trật tự mới...
Có nên ghi chép toàn bộ cuộc sống đó, toàn bộ những năm tháng của tôi trong trại khổ sai ra không? Tôi nghĩ là không. Nếu viết ra theo đúng trình tự những gì đã có thì hẳn phải viết đến số lượng chương hồi gấp hai lần, bốn lần hơn lên so với những gì tôi đã viết bấy nay. Nhưng cách mô tả như thế xét cho cùng hết sức đơn điệu. Mọi cuộc phiêu lưu đều xuất hiện với cùng một giọng nói, đặc biệt nếu như qua các chương sách tôi viết độc giả đã kịp hình thành cho mình một khái niệm khá chắc chắn về đời sống lao ngục khổ sai của loại tù hạng hai. Tôi chỉ muốn giới thiệu toàn bộ trại tù của chúng tôi và tất cả những gì tôi đã sống qua trong những năm đó trên một bức tranh trực quan rõ nét. Tôi không biết mình có đạt mục tiêu ấy không. Một phần cũng vì tôi không có quyền phán xét điều đó. Nhưng tôi tin chắc rằng đến đây tôi có thể kết thúc được. Hơn thế nữa đôi khi những hoài niệm kia lại mang nỗi buồn đến xâm chiếm trái tim tôi. Mà chắc gì tôi đã nhớ được hết mọi chuyện. Những năm tháng về sau dường như đã bị xóa mờ trong ký ức tôi. Tôi tin thế vì có nhiều tình huống tôi đã quên hẳn. Chẳng hạn, tôi nhớ rằng những năm tháng đó thực sự là giống nhau lắm, cứ thế trôi đi nhàm chán, hiu quạnh. Tôi nhớ có những ngày dài lê thê đơn điệu tựa như sau cơn mưa nước giọt đều đều trên mái xuống. Tôi nhớ tôi chỉ có một niềm khao khát cháy bỏng là được phục sinh, được đổi mới, được có một cuộc sống khác, nó thôi thúc tôi phải chờ đợi, phải hy vọng. Và cuối cùng tôi đã đứng vững: tôi đã chờ đợi, đã ngồi đếm từng ngày, dù số ngày đó còn đến hàng ngàn, nhưng tôi vẫn say sưa tính đếm, vẫn tiễn đưa từng ngày, chôn cất từng ngày, rồi lại vui với một ngày sắp đến, vui vì số ngày không còn đến một ngàn nữa, mà chỉ còn chín trăm chín mươi chín thôi. Tôi nhớ rằng trong suốt thời gian đó, mặc dù có hàng trăm đồng đội, nhưng tôi vẫn thấy cô đơn kinh khủng, và cuối cùng tôi yêu cảnh cô đơn đó. Tôi cô đơn về tâm hồn. Tôi nhìn lại toàn bộ cuộc đời trước đây của tôi, kiểm lại mọi chi tiết từ đầu tới cuối, suy ngẫm về những gì đã qua, mình tôi ngồi phán xét tôi một cách không khoan nhượng, một cách nghiêm khắc và thậm chí đã có lúc tôi phải vinh danh số phận đã đem đến cho tôi cuộc sống cô đơn này, bởi không có nó thì tôi đã chẳng có cái tòa án xử hình chính tôi, không có những phút nhìn nhận trở lại những gì đã sống. Và còn biết bao hy vọng tràn ngập trong trái tim tôi! Tôi đã suy nghĩ, đã quyết định, đã thề với chính mình rằng trong cuộc đời mai hậu tôi sẽ không mắc vào những lầm lỗi, những sa ngã như ngày xưa nữa. Tôi đã vạch ra cho mình toàn bộ chương trình cuộc sống tương lai và hạ quyết tâm theo đuổi như thế đến cùng. Trong lòng tôi lại sống dậy một niềm tin chói lóa rằng tôi sẽ thực hiện chương trình đó và có đủ sức thực hiện. Tôi chờ đợi, tôi kêu gọi tự do đến đây mau mau. Tôi muốn thử thách mình một lần nữa trong cuộc chiến đấu mới. Đôi khi tôi bắt gặp mình nôn nóng hoảng hốt. Nhưng bây giờ tôi lại thấy đau đớn khi nhớ đến trạng thái tâm thần mình khi đó. Tất nhiên, chuyện đó chỉ liên quan đến một mình tôi... nhưng chính vì thế mà tôi đã ghi lại rằng có lẽ mọi người sẽ hiểu được, bởi lẽ nó phải xảy ra với bất kỳ ai, nếu như người đó phải ngồi tù giữa tuổi đời sung mãn và sức mạnh đang lên.
Nhưng thôi, nói ra chuyện ấy mà làm gì! Tốt hơn hết là tôi sẽ kể một chuyện gì đó để khỏi kết thúc một cách hụt hẫng.
Tôi nhớ rằng hình như đã có người hỏi: thế trong những năm tháng ấy không có ai chạy trốn và đào thoát được nhà tù hay sao? Tôi đã viết rằng một tù nhân sống hai ba năm trong trại bắt đầu đánh giá những năm tháng đó và bất chợt tính rằng tốt nhất là sống yên thời gian còn lại không động cựa gì, không gây họa gì để cuối cùng được trở về đời thường hợp pháp. Nhưng cách tính toán ấy chỉ trú ngụ trong đầu những tù nhân ngắn hạn. Những tù dài hạn có thể sẵn sàng phiêu lưu... Nhưng ở chỗ tôi không hiểu sao chuyện ấy không có. Tôi không biết có phải họ rất nhút nhát, có phải vì đám quân nhân canh giữ quá chặt, có phải vì địa phương thị trấn này không tạo điều kiện thuận lợi (vùng đất thảo nguyên, rộng mở) - thật là khó nói. Tôi nghĩ tất cả những nguyên nhân đó đều có ảnh hưởng. Quả thật, trốn trại là việc khá khó. Thế nhưng thời tôi ở đấy cũng xảy ra một chuyện: có hai kẻ liều mạng, mà lại là tù nhân trọng án nhất...
Sau khi thay tên thiếu tá thì ông A. trở nên hoàn toàn đơn độc, không còn nơi nào bấu víu nữa. Ông hãy còn rất trẻ, nhưng tính cách đã dần dần rõ nét và ổn định cùng với tháng năm. Nhìn chung, đó là con người táo bạo, quyết đoán và rất chịu nghĩ. Lẽ ra ông vẫn có thể thăm dò và làm mọi việc chui lủi, nếu người ta cho ông được tự do, chứ không phải bây giờ chịu thất bại một cách ngu ngốc và ngớ ngẩn như trước đây, khi ông đã phải trả giá bằng lao tù khổ sai cho sự ngu ngốc đó. Trong trại này ông đã phần nào tập dượt cách làm giấy thông hành giả. Tuy nhiên, tôi không dám chắc như vậy. Tôi chỉ được nghe qua các bạn tù thôi. Họ nói rằng ông làm việc đại loại như vậy ngay từ khi ông hay đi cùng tên thiếu tá xuống bếp, và chắc hẳn ông cũng kiếm được một khoản thu nhập vừa sức. Tóm lại, ông cũng dám làm mọi chuyện để thay đổi số phận. Tôi cũng đã có dịp tìm hiểu phần nào tâm hồn ông: thói tráo trở của ông đã đạt tới mức trơ trẽn khó chịu, đạt tới nụ cười nhếch mép lạnh lùng bậc nhất và gây ra cho mọi người cảm giác không nhịn được buồn nôn. Tôi có cảm giác nếu như ông thèm một cốc rượu, mà cốc rượu ấy muốn kiếm được lại không có cách nào khác ngoài cách chặt cổ một người, thì ông cũng chặt cổ ngay người ta, nếu như việc đó có thể thực hiện được một cách thầm lặng, không ai biết được. Trong trại này ông học được cách tính toán. Chính vì lẽ đó mà anh chàng Kulikov thuộc khu biệt giam đã rất chú ý đến ông.
Về Kulikov tôi đã nói ở bên trên. Anh không còn trẻ nữa, nhưng biết sống say sưa, sôi nổi, hùng mạnh và có nhiều tài lẻ đặc sắc. Anh là người có sức mạnh và ham sống. Những người như anh thì đến già khọm rồi vẫn còn ham sống. Và nếu như tôi có ngạc nhiên, tại sao người ta lại không tính chuyện đào thoát, thì chắc hẳn người đầu tiên khiến tôi ngạc nhiên là Kulikov. Nhưng Kulikov dám trốn. Trong hai người thì ai có ảnh hưởng đến người kia to lớn hơn ai: A. đối với Kulikov hay là Kulikov đối với ông A.? Thú thật tôi cũng không biết. Nhưng cả hai người đều có giá xứng đáng ngang nhau và đều phù hợp với việc trốn trại. Họ đã kết giao với nhau. Theo tôi, Kulikov tính toán rằng ông A. sẽ làm được giấy thông hành. Ông A. xuất thân quý tộc, có một cộng đồng tốt đẹp - điều này hứa hẹn có sự thay đổi đa dạng trong những cuộc phiêu lưu mai hậu, chỉ cần về lại được nước Nga mà thôi. Ai biết được họ thỏa thuận gì với nhau và có những hy vọng gì, nhưng chỉ biết chắc rằng những hy vọng của họ xuất phát từ thói thủ cựu thông thường của lối sống giang hồ Sibir. Kulikov có bản năng diễn viên, có thể sắm nhiều vai trong cuộc sống, có thể hy vọng nhiều điều, nhưng chí ít thì cũng là hy vọng có những thay đổi đa dạng. Những người như thế thì trại này buộc phải đè bẹp. Họ thỏa thuận với nhau là phải đào thoát.
Thế nhưng, không có người dẫn đường thì không chạy được. Không có dẫn đường thì phải mách bảo lẫn nhau. Trong pháo đài, ở một tiểu đoàn kia có một người Ba Lan đầy nghị lực, và có thể xứng đáng với vai trò ấy nhất, một người đứng tuổi, năng nổ và nghiêm túc. Từ hồi còn trẻ, khi mới về làm việc ở Sibir, anh ta đã bỏ trốn vì nhớ quê hương da diết quá. Anh ta bị bắt, bị trừng phạt và bị giữ lại đến ngót hai năm trong các đội tù. Khi được trở về làm lính, anh suy nghĩ lại và bắt đầu làm việc hết mình. Vì xuất sắc nên anh được phong lên chức cai. Anh là người tự trọng, tự tin và biết mình biết người. Anh biết nhìn nhận, biết nói năng vừa phải. Vào những năm tháng đó tôi đã có mấy lần được trò chuyện với anh trong số những lính áp giải. Anh em người Ba Lan cũng nói đôi điều với tôi về anh. Tôi nhận ra rằng nỗi buồn xưa kia trong anh nay đã biến thành nỗi hận thầm kín, khô khốc và dai dẳng. Con người này dám làm mọi chuyện, và Kulikov đã không nhầm khi chọn anh làm bạn. Họ của anh là Koller. Họ thỏa thuận với nhau và định ngày. Dạo ấy là tháng Sáu, những ngày nóng nực. Trong thị trấn này khí hậu khá là ổn định, mùa hè thời tiết không đổi, lúc nào cũng ấm nóng: điều ấy tiếp tay cho kẻ giang hồ. Có lẽ họ không thể xuất phát trực tiếp từ pháo đài này được: cả thị trấn đứng chơ vơ, khoáng đạt về mọi hướng. Xung quanh, trên mọi nẻo đường dài đều không có rừng. Họ cần cải trang, mặc quần áo dân thường. Muốn thế, đầu tiên họ phải ra được ngoại ô, nơi từ lâu Kulikov đã có một chốn dung thân. Tôi không biết các bạn bè ngoại ô của anh có hoàn toàn bí mật hay không. Cứ cho rằng là có những người như thế, mặc dù về sau, khi vào việc, điều ấy không hoàn toàn được minh chứng. Năm ấy ở một góc ngoại ô có một cô gái trẻ bắt đầu làm công việc này. Đó là một cô có biệt danh Vanka-Tanka, người đã gieo mầm hy vọng lớn lao và sau này cũng thực hiện được phần nào. Người ta cũng biết rằng cô là ngọn lửa. Có lẽ cô cũng tham gia một phần trong vụ này. Kulikov đã to tiếng với cô suốt cả một năm. Mấy anh nhà ta xuất hành vào buổi sáng đi điểm danh chia tổ, rồi khéo léo để được đi cùng với anh tù nhân Shilkin, một anh thợ lò và thợ quét vôi, để đi quét vôi dãy nhà trống của tiểu đoàn, nơi các binh sĩ đã rời bỏ để đi trại từ lâu. Ông A. và Kulikov đi cùng anh ta để làm chân khuân vác. Koller được giao việc áp giải, nhưng bởi lẽ áp giải hai người phải cần ba lính, nên Koller vừa là lớn tuổi lại vừa là cai nên được giao thêm nhiệm vụ huấn luyện một anh lính mới đi cùng. Chắc chắn là nhóm đào tẩu có ảnh hưởng cực lớn đến Koller và anh này cũng tin tưởng họ, cho nên sau nhiều năm phục vụ và thành đạt trong những năm gần đây, hơn nữa anh lại là người thông minh, chắc chắn và biết tính toán, nên anh mới dám đi theo với họ.
Họ đã đến dãy nhà lính. Lúc ấy là sáu giờ sáng. Ngoài họ ra không còn ai cả. Làm việc được độ một tiếng thì Kulikov và A. bảo Shilkin rằng họ phải về xưởng để gặp một người nào đó và để lấy thêm một dụng cụ. Nói với Shilkin thì phải rất khéo, tức là càng tự nhiên càng hay. Anh này người Moskva, có nghề thợ lò, thuộc tầng lớp tiểu thị dân, là người lanh lợi, khôn ngoan, ít nói. Bề ngoài trông anh ta gày gò, hốc hác. Lẽ ra anh ta phải là người suốt đời mặc áo gi-lê và áo khoác theo kiểu Moskva, nhưng số phận lại trớ trêu, và sau bao năm lang thang đây đó anh ta lại ngồi bẹp dí ở đây trong biệt khu này, tức là được xếp vào hạng tù quân sự khủng khiếp nhất. Cơn cớ gì mà anh phải gánh chịu cái nghiệp chướng ấy, tôi cũng không rõ, nhưng anh không hề tỏ ra có sự bất bình đặc biệt; lúc nào anh cư xử cũng ôn hòa, bình thản, đôi lúc cũng quá chén như một bác thợ giày, nhưng cả những lúc đó anh cũng vẫn giữ mình nghiêm chỉnh. Lúc ấy anh không nói ra, nhưng đôi mắt anh sáng lên. Rõ ràng là Kulikov đã nháy mắt với anh rằng họ đi uống rượu. Chai rượu đã được dấu trong xưởng từ hôm qua. Shilkin rất cảm thông, anh chia tay họ mà không mảy may nghi kỵ và ở lại đó với một mình anh lính mới, còn Kulikov, ông A. và Koller thì lên đường đi ra ngoại ô.
Nửa tiếng trôi qua; nhóm vắng mặt không thấy quay về, và bỗng nhiên Shilkin thấy giật mình, bắt đầu ngẫm nghĩ. Anh chàng vốn đã nếm trải mùi đời, nên chợt nhớ lại: Kulikov có vẻ gì xúc động đặc biệt, ông A. thì có hai lần như muốn nói thầm với anh, Kulikov đã hai lần nháy mắt với anh, anh đã thấy thế, nhưng bây giờ mới nhớ lại hết. Anh cũng thấy Koller có điều gì đó đáng chú ý; ít ra thì khi đi cùng với họ, anh ta lại đọc những lời hướng dẫn cho lớp lính mới rằng phải xử trí như thế nào khi anh vắng mặt, điều này có vẻ gì không hoàn toàn tự nhiên, ít ra thì cũng là từ phía Koller. Tóm lại, Shilkin càng nhớ ra nhiều bao nhiêu, anh càng thấy nỗi ngờ vực tăng lên bấy nhiêu. Trong khi đó thời gian cứ trôi, họ vẫn không về, và anh thấy bất ổn đến cùng cực. Anh hiểu rất rõ rằng trong chuyện này anh đã liều mạng đến là nhường nào và các cấp chỉ huy có thể nghi cho anh. Họ có thể nghĩ rằng chính anh đã biết trước, nhưng đã thỏa thuận có đi có lại mà thả họ ra, nhưng nếu như anh chậm trễ công bố về việc Kulikov và A. mất tích thì mọi sự nghi kỵ sẽ càng chắc hơn. Chẳng còn gì để mất thời gian hơn nữa. Bây giờ anh đã nhớ ra rằng gần đây Kulikov và A. quấn quít đặc biệt với nhau, thường hay xì xầm các chuyện, thường rủ nhau ra đằng sau trại, tránh xa con mắt mọi người. Anh cũng nhớ rằng những lúc đó anh đã bắt đầu nghĩ gì đó về họ... Anh nhìn chú lính áp giải một cách dò xét: anh chàng ngồi ôm súng ngáp dài, lấy ngón tay lau mũi hết sức vô tư, cho nên Shilkin thấy không cần thiết phải thông báo cho anh ta những ý nghĩ của mình, mà chỉ nói một cách thật đơn giản bảo anh ta theo mình về xưởng. Đến xưởng thì hỏi xem hai người kia có về đây không. Hóa ra ở đó không ai nhìn thấy họ cả. Mọi nghi ngờ của Shilkin đã tan biến. “Nếu họ chỉ đơn thuần là đi uống rượu và ra ngoại ô dạo chơi một chút, như Kulikov đòi khi vẫn làm thế, - Shilkin nghĩ, - thì ngay điều đó cũng không thể thế được. Lẽ ra họ phải nói thật với anh, bởi vì chuyện đó không đáng phải dấu”. Shilkin bỏ dở công việc, không rẽ về lán mình mà đi thẳng vào trại.
Lúc ấy đã gần chín giờ, anh đến chỗ viên tổng quản để báo cáo mọi việc. Tên này khiếp sợ quá, thậm chí ban đầu không muốn tin là thật. Hắn cho rằng Shilkin thông báo chuyện đó chỉ mới là dự đoán, là nghi ngờ thôi. Ngay lập tức hắn chạy đến chỗ thiếu tá. Thiếu tá lập tức chạy đến chỉ huy. Mười lăm phút sau mọi biện pháp cần thiết đã được tung ra. Báo cáo đã được gửi ngay cho tướng quân tỉnh trưởng. Bọn tội nhân này thuộc loại quan trọng, và vì thế mà bọn quan quản này sẽ bị Peterburg quở mắng thậm tệ. Chả biết có đúng không mà ông A. bị kết vào nhóm tội nhân chính trị, Kulikov thuộc nhóm biệt khu, tức là siêu tội phạm, hơn nữa, còn là siêu tội phạm quân sự. Từ trước đến nay chưa hề có tiền lệ là tội nhân biệt khu bỏ trốn. Nhân đây xin nhớ lại rằng theo qui định thì cứ mỗi trại nhân biệt khu phải có hai lính áp giải dẫn đi làm, chí ít cũng phải có một. Qui định này đã không được thực thi. Rõ ràng đây là việc chẳng hay ho gì. Người ta gửi thông báo đi khắp các thôn xã, khắp các vùng ngoại ô về những kẻ đào tẩu kèm với các dấu tích về họ. Người ta cử đi một nhóm người kazak để đuổi theo và bắt lại, người ta gửi cả công văn đến các tỉnh huyện lân cận. Tóm lại, mọi người đều thấy khiếp sợ.
Trong khi đó thì ở trại lại dấy lên làn sóng xôn xao kiểu khác. Anh em trại nhân đi làm về gần đến trại thì hay tin đào thoát. Tin đó bay khắp mọi người. Mọi người tiếp nhận thông tin với một niềm vui thầm lặng đặc biệt. Dường như trái tim ai cũng đập rộn. Ngoài việc là trường hợp này phá vỡ cuộc sống đơn điệu trong trại và đã chọc vào ổ kiến lửa, thì đó không phải là chuyện đào thoát thường, mà là vụ đào thoát tạo ra hồi âm tha thiết trong mọi tâm hồn và làm rung động những dây đàn từ lâu đã bị lãng quên. Một cái gì đó tựa như những hy vọng, những khả năng thay đổi số phận bắt đầu cựa quậy trong mọi trái tim. “Đã có người chạy trốn, vì sao nhỉ?” Với ý nghĩ đó mỗi người đều thấy tỉnh ra và nhìn những người khác với vẻ thách đố. Ít ra thì mọi người ai cũng thấy tự hào và bắt đầu nhìn bọn hạ sĩ bằng nửa con mắt. Tất nhiên là bọn chỉ huy kéo nhau ầm ầm đến trại, kể cả chỉ huy trưởng. Anh em chúng tôi sướng lắm, mạnh dạn đứng xem, thậm chí còn tỏ ra có đôi chút khinh bỉ, có thái độ đàng hoàng, lặng lẽ mà nghiêm khắc. “Chúng tôi, ý họ nói, cũng biết làm công việc của mình đấy chứ”. Tất nhiên, chúng tôi cũng đã dự đoán được rằng bọn chỉ huy phải đến. Anh em cũng dự đoán rằng ngay lập tức sẽ có lục soát, nên anh em đã dấu đi mọi thứ. Ai cũng biết rằng trong những trường hợp thế này bọn chỉ huy sẽ nghĩ ra mọi chuyện. Chuyện xảy ra đúng như thế: chúng lục tung khắp nơi, đào bới mọi chỗ, tìm kiếm đủ thứ, nhưng rồi không thấy gì cả. Buổi chiều anh em đi làm chúng tăng cường áp giải. Chiều tối tuần tra đi từng phút một, điểm danh nhiều hơn hàng ngày. Cả trại vì thế lại náo động: mọi người bị dồn ra sân, bị đếm lại. Rồi sau lại bị đếm nữa theo từng lán... Tóm lại là có nhiều điều lủng củng.
Nhưng được cái anh em bình chân như vại, hết sức thản nhiên theo dõi mọi điều, và vẫn như mọi khi trong những trường hợp thế này, anh em ứng xử vô cùng đĩnh đạc trong cả buổi tối: “Bọn chúng không thể bẻ hành bẻ tỏi gì được”. Còn bọn chỉ huy thì nghĩ: “Liệu trong trại còn đứa nào muốn chạy nữa không?”, rồi chúng lệnh cho tay chân phải dò xét, nghe ngóng tù nhân thật kỹ. Nhưng anh em chỉ cười khẩy “Đâu phải chỉ có vụ này mới làm nảy sinh trong trại những người muốn trốn!” “Người ta phải nhón gót mà đi chứ lại, làm sao khác được”. “Chẳng lẽ những người như Kulikov, như ông A. lại hành xử dại dột để về sau anh em mất đường trở gót hay sao? Họ thực hiện công việc thật tài nghệ, thật kín kẽ. Đúng là những người từng trải, cửa khóa kín mà vẫn chui lọt!” Tóm lại Kulikov và ông A. đang nổi lên như cồn, ai cũng tự hào về họ. Mọi người cảm thấy rằng chiến công của họ sẽ còn vang dội đến tận các đời con cháu khổ sai mãi mãi về sau, toàn trại sẽ còn rung cảm. Họ nói:
- Những con người ấy thật là tài nghệ!
- Chúng nó cứ nghĩ rằng ở đây không ai dám chạy. Thế mà họ chạy đấy!... - những người khác đế thêm.
- Chạy thật rồi! - người thứ ba xuất hiện và đưa mắt nhìn quanh có vẻ oai vệ. - Mà những người chạy là thế nào? Bây giờ đến lượt anh rồi đấy, phải không?
Vào lúc khác trại nhân nào bị nghe câu ấy tất sẽ đáp trả ngay lời thách thức và bảo vệ ngay danh dự của mình, nhưng bây giờ người đó chỉ khiêm nhường im lặng. “Thực ra là không ai được như Kulikov và ông A.; việc đầu tiên là phải cho thấy mình là ai đã chứ...”
- Này các anh em, chúng ta cứ phải sống ở đây là thế nào nhỉ? - người thứ tư phá vỡ bầu không khí yên lặng, anh ta ngồi lọt thỏm trong góc cửa sổ nhà bếp, nói giọng kéo dài như hát với cảm xúc thư thái, nhưng ngầm tự thỏa mãn và đưa bàn tay lên xoa má. - Sao chúng ta lại phải ở đây? Sống cũng không ra sống, mà chết cũng chẳng ra chết. Chà chà!
- Đời không buồn thế đâu. Không ai quật ngã được chúng ta đâu. Vì sao lại chà chà nhỉ?
- Thế nhưng mà Kulikov... - có một người nào đó trong số những người sôi nổi lên tiếng, đó là một anh chàng trẻ lắm, mặt búng ra sữa.
- Đấy là Kulikov! - lại có một người nữa đưa mắt khinh bỉ nhìn anh chàng mọng sữa. - Kulikov!...
Nói thế có nghĩa là: liệu có được mấy người như Kulikov?
- Lại còn ông A. nữa chứ, các anh em ạ, một con người đầy kinh nghiệm, đầy bản lĩnh!
- Còn phải nói! Ông ấy thì Kulikov còn phải xách dép. Cứ là chạy theo như đèn cù, không biết đường nào mà lần!
- Giá mà mình biết được bây giờ hai người đi đến đâu rồi thì hay quá nhỉ...
Thế là câu chuyện lại quay sang chủ đề: Họ đi xa chưa? Đi hướng nào? Đi đâu thì tốt hơn? Đã gần đến vùng đất nào rồi?
Có những người thuộc hết các vùng lân cận. Mọi người há hốc mồm nghe họ nói chuyện. Họ nói về dân cư các làng xung quanh và khẳng định rằng đó là những người không thể tin được. Họ ở gần thị trấn, bị chà xát ghê gớm, nên họ sẽ không cho tù nhân dung thân, sẽ bắt giữ và sẽ đem nộp.
- Anh em ạ, họ là nông dân ấy mà, họ sống bạt mạng...
- Nông dân là không có chắc chắn đâu!
- Dân Sibir này đa nghi lắm. Đừng có đến đó, họ giết đấy.
- Tôi nghĩ thế này, các anh em ạ, - Skuratov chen vào, - tôi mà đi lang thang thì họ không thể nào bắt được tôi, nếu tôi còn sống!
- Anh ấy à?
Mọi người cười ầm. Có những người làm ra vẻ như không muốn nghe. Nhưng Skuratov không tán thành.
- Họ không thể nào bắt được tôi chừng nào tôi còn sống. - Anh ta lại sôi nổi lên tiếng. - Các anh em ạ, tôi vẫn thường nghĩ về mình như thế, và chính mình cũng thấy ngạc nhiên. Cho tôi cái lỗ kim tôi cũng chui qua, đố mà bắt được.
- Nhưng rồi anh đói, anh phải vào nhà nông dân xin ăn.
Mọi người cười phá lên.
- Xin ăn ấy à? Nói bậy!
- Anh định đánh võ mồm đấy à? Anh cùng với ông cậu Vasia đã giết chết một người hại bò[1], vì thế mà phải vào đây.
Tiếng cười lại vang lên lớn hơn. Những người nghiêm túc lại bực mình hơn.
- Nói bậy! - Skuratov kêu lên, - đó là Mikitka đồn thổi về tôi, mà cũng không phải về tôi, mà là về Vaska, nhân tiện ghép tôi vào đó. Tôi là dân Moskva, từ bé đã quen lang thang rồi. Tôi đã học một thày là ông từ trông nom nhà thờ, ông ấy hay beo tai và nhắc đi nhắc lại “Lạy Chúa tha tội cho con, xin Chúa đại xá cho con, rồi con...”. Tôi cũng phải nhắc lại theo ông ấy “Lạy Chúa cho con vào đồn cảnh sát, đại xá cho con, rồi con...”. Ngay từ nhỏ tôi đã biết lẻo khẩu như vậy.
Mọi người lại cười rộ lên. Nhưng Skuratov là phải đúng thế. Anh ta không thể không ngốc nghếch được. Lát sau mọi người bỏ rơi anh ta và bắt đầu nói chuyện nghiêm túc. Những người già cả và từng trải thì nhận xét nhiều hơn. Những người trẻ hơn và hiền hòa hơn thì chỉ cần ngẩng đầu nghe và nhìn các bậc bề trên là đã thấy vui rồi; đám người tập trung trong bếp bây giờ đã đông; chắc hẳn vì không có bóng dáng bọn hạ sĩ quan. Khi có chúng thì không thể nói gì được. Trong số những người đặc biệt vui sướng tôi nhận ra có một người tatar tên là Mametka, một người tầm thước, rắn rỏi, có gương mặt hết sức hài hước. Người này hầu như không nói gì bằng tiếng Nga và hầu như chẳng hiểu người khác nói gì, nhưng cũng ló đầu ra khỏi đám đông mà nghe, say sưa mà nghe.
- Thế nào? Mametka? Vui không? - anh chàng Skuratov bị mọi người bỏ rơi, quay sang phía đó.
- Vui! Vui! - Mametka lắp bắp, mặt tươi rói, gật gật đầu một cách ngộ nghĩnh với Skuratov.
- Họ sẽ không bị bắt chứ? Không à?
- Không, không! - và Mametka lại lắp bắp, lần này còn vung tay lên.
- Có nghĩa là người của các anh sẽ khai dối, sẽ không tố giác người của chúng tôi, có phải thế không?
- Phải, phải, vui! - Mametka gật đầu hưởng ứng.
- Thế là vui!
Rồi Skuratov đột nhiên búng một cái vào mũ Mametka, kéo sụp mũ xuống mắt anh ta, bước ra khỏi nhà ăn, tinh thần cực kỳ vui sướng, bỏ lại Mametka trong trạng thái có phần ngỡ ngàng.
Suốt tuần đó bọn chỉ huy tiếp tục gây căng thẳng khắp trại, tăng cường truy lùng khắp các vùng phụ cận. Tôi không biết bằng cách nào mà anh em tù nhân vẫn nhận được kịp thời và chính xác mọi thông tin về các thủ đoạn của bọn chỉ huy ở bên ngoài trại. Trong những ngày đầu mọi thông tin đều nghiêng về phía có lợi cho những người đào thoát: họ vẫn biệt tăm, biệt tích. Anh em chúng tôi toàn cười khẩy. Mọi lo toan về số phận của họ đã tan biến. “Bọn chúng không tìm thấy gì, không bắt được ai!” - trong trại người ta hài lòng nói vậy.
- Tuyệt nhiên không thấy gì cả!
- Xin chào, đừng làm kinh động, lát nữa tôi quay lại!
Chúng tôi được biết rằng tất cả nông dân ngoại ô đã được đánh động, bọn chúng canh gác tất cả những chỗ đáng nghi, tất cả mọi cửa rừng, mọi bến vực.
- Vớ vẩn! - anh em tôi cười nhạo. - Thế nào cũng phải có người cho anh em đào thoát nương náu.
- Hiển nhiên là phải có chứ! -một số người nói, - họ không phải thường đâu. Mọi việc đã tính trước hết rồi.
Anh em còn phán đoán xa hơn nữa: những người đào thoát cho đến nay vẫn còn ở vùng ngoại ô, sống đâu đó trong một nhà kho chờ thời. Họ ở đấy nửa năm, một năm rồi ra đi...
Nói tóm lại, mọi người sống trong một trạng thái tinh thần thật lãng mạn. Bỗng nhiên, tám ngày sau cuộc trốn trại, có tin đồn rằng bọn chúng đã dò được dấu vết. Tất nhiên, tin đồn thất thiệt ấy ngay lập tức bị bác bỏ với sự khinh bỉ. Nhưng ngay tối đó tin ấy lại được khẳng định. Trại nhân bắt đầu lo âu. Sáng hôm sau khắp thị trấn nói rằng họ đã bị tóm và đang được giải về. Ăn trưa xong mọi người biết thêm nhiều chi tiết: họ bị bắt cách trại bảy mươi vec-sta, trong một ngôi làng. Cuối cùng thì có tin chính xác. Viên quản tù ở chỗ thiếu tá về tuyên bố đanh thép rằng đến chiều thì bọn họ sẽ bị giải về phòng cảnh vệ của trại. Chẳng còn gì phải nghi ngờ nữa. Thật khó diễn tả nổi cái ấn tượng mà thông tin này gây ra cho anh em tù nhân. Đầu tiên mọi người nổi giận thật sự, sau đó thì họ than vãn, rồi sau đó chuyển dần sang cười cợt. Họ bắt đầu cười không phải diễu cợt những người đi bắt, mà là chế nhạo những người bị bắt. Số người cười đầu tiên thì ít, càng về sau gần như tất cả, ngoại trừ những người nghiêm túc, cứng cỏi, có suy nghĩ độc lập và không bị những nụ cười kia làm cho lạc hướng. Họ khinh thường nhìn đám quần chúng nhẹ dạ và chỉ im lặng.
Tóm lại, trước đây người ta tung hô Kulikov và ông A. bao nhiêu, thì giờ đây họ hạ nhục hai người ấy bấy nhiêu, thậm chí còn hạ nhục với thái độ hả hê, tựa như hai người kia làm tổn thương tất cả mọi người. Họ kể lại một cách khinh bỉ rằng hai người ấy đói khát quá, không chịu đựng nổi, nên phải vào làng tìm bà con xin ăn. Đó là mức độ tủi nhục cuối cùng của khách giang hồ. Tuy nhiên, những câu chuyện ấy là không đúng. Những kẻ đào thoát bị theo dõi; họ lẩn trốn trong rừng, nhưng bọn chúng đã dùng lực lượng nhân dân để bao vây cả khu rừng đó. Kẻ nào tự thấy không còn khả năng thoát thân thì ra đầu thú. Không còn cách nào khác.
Chiều tối, quả thật, họ bị dẫn về, chân tay bị trói, có cảnh binh áp giải, cả trại đổ ra chỗ hàng cọc xem họ bị làm gì. Hẳn là họ không nhìn thấy được gì, trừ chiếc xe ngựa chở tên thiếu tá và đám chỉ huy đỗ cạnh nhà cảnh vệ. Hai người kia bị còng giam vào phòng kín, chờ đến mai ra tòa. Nhưng những nụ cười và những lời khinh bỉ của các trại nhân chẳng bao lâu sau cũng tự trầm lắng. Mọi người biết nhiều chi tiết hơn, biết rằng chẳng còn cách nào hơn là phải đầu hàng, và họ lại bắt đầu chăm chú theo dõi phiên tòa.
- Một ngàn roi. - Một số nói.
- Một ngàn thấm vào đâu! -một số khác nói, - chỉ là khúc dạo đầu thôi. Ông A. bị một ngàn roi, còn anh kia, người anh em ơi, chỉ mới là khởi đầu vì thuộc về đơn vị đặc biệt.
Tuy nhiên, mọi người đã nhầm. Ông A. chỉ bị có năm trăm, vì tòa chú ý đến tư cách trước đây của ông được các quan trên hài lòng và đây cũng là sai phạm đầu tiên. Kulikov lại bị một ngàn rưởi. Hình phạt như thế là khá nhẹ tay. Hai kẻ đào thoát là những người biết điều. Trước tòa họ không lừa dối ai, họ nói rõ ràng, chính xác rằng họ từ pháo đài chạy thẳng đi, chứ không rẽ ngang rẽ tắt. Tôi thấy đáng thương nhất là Koller: anh ta đã mất hết, mất hết cả những hy vọng cuối cùng, anh phải chịu đòn nhiều nhất, hình như đến hai ngàn roi và bị đày đi đâu đó làm tù nhân, chứ không vào trại chúng tôi. Ông A. bị nhẹ nhất vì được thương hại, vì được các thày thuốc giúp đỡ. Nhưng trong bệnh viện ông đã bạo gan nói lớn rằng ông đã nhận đủ đòn roi rồi, đã sẵn sàng chấp nhận mọi việc và sẽ không làm như trước nữa. Kulikov thì vẫn thế, tức là đứng đắn, nghiêm chỉnh, và sau khi lãnh đủ anh bước vào trại cứ như là anh chưa rời trại bao giờ. Thế nhưng anh em tù nhân không nhìn anh như vậy: mặc dù Kulikov ở mọi lúc, mọi nơi đều biết giữ mình, nhưng anh em trại nhân thì trong thâm tâm đã không còn kính trọng anh nữa, chỉ coi anh có phần đồng trang đồng lứa hơn xưa mà thôi. Tóm lại, sau cuộc đào thoát danh tiếng của Kulikov đã mòn đi rõ rệt. Thành công chỉ có nhiều ý nghĩa ở giữa con người với nhau mà thôi...
❀ ❀ ❀
[1] Tức là giết một người nào đó vì nghi người này thả mồi độc giết súc vật. Ở đây cũng đã có một người bị giết như vậy (Chú thích của tác giả).