Chẳng bao lâu sau đợt lễ hội tôi bị ốm và được đưa vào quân y viện. Bệnh viện này nằm biệt lập, cách xa pháo đài của chúng tôi chừng nửa véc-sta. Đó là dẫy nhà dài, một tầng quét sơn màu vàng. Mùa hè, khi tòa nhà được sửa chữa, thì có một đội lính lớn đến đây. Khu đất rộng của quân y viện là nơi xây cất các công trình làm việc và nhà ở cho ban lãnh đạo bệnh viện và các công trình khác nữa. Dãy nhà chính chỉ gồm toàn phòng bệnh. Phòng thì có nhiều, nhưng dành cho tù nhân thì chỉ có hai phòng thôi, lúc nào cũng đông nghẹt, đặc biệt là vào mùa hè, cho nên nhiều khi phải kê các giường sát lại với nhau. Các phòng bệnh chứa đủ loại “những con người bất hạnh”. Được đưa vào đây là những người của chúng tôi, là những lính tráng các kiểu đang phải hầu tòa, bị bắt giữ từ khắp nơi, những người đã thành án, chưa thành án, những người bị chuyển trại, rồi cả những người được chuyển đến từ đại đội cải huấn - một đơn vị kỳ cục - nơi tiếp nhận những binh sĩ phạm tội và ít được tin tưởng cải hối, nhằm cải tạo hành vi của họ, để rồi sau hai năm hoặc lâu hơn thế họ thường được thả ra mà vẫn là những tên đểu cáng hiếm thấy trên đời. Thường thường những anh em trại nhân ốm đau của chúng tôi cứ sáng sáng là phải thông báo bệnh tình của mình cho viên hạ sĩ. Những người ốm lập tức được ghi sổ và được gửi đi kèm theo quyển sổ đó cùng lính áp giải vào trạm y tế tiểu đoàn. Ở đây bác sĩ khám sơ bộ cho các bệnh nhân của các đội trong pháo đài gửi đến, ai được coi là ốm thực thì được đưa vào quân y viện. Tôi đã được ghi sổ, và đến giờ thứ hai, khi tất cả anh em đã rời trại đi làm ca chiều, thì tôi đi quân y viện. Tù nhân ốm thường được mang theo bao nhiêu tiền và bao nhiêu bánh mỳ cũng được, bởi vì hôm đó không ai biết có suất ăn trong quân y viện hay không, họ mang theo cả một tẩu hút thuốc lá nhỏ, một túi sợi thuốc lá, đá lửa và bùi nhùi. Những đồ vật tối thiết đó thường được dấu kín trong ống giầy. Bước chân vào quân y viện tôi không khỏi có chút tò mò đối với môi trường sống chưa quen trong sinh hoạt tù nhân chúng tôi.
Hôm đó là một ngày ấm cúng, u ám và buồn bã, một ngày mà những nơi như quân y viện này vẫn mang dáng vẻ hết sức bận rộn, thê thiết và sầu thảm. Tôi và tên lính áp giải bước vào phòng đón tiếp, trong đó có đặt hai cái thùng tắm bằng đồng, và đã có hai bệnh nhân ngồi đợi là hai bị can, có lính áp giải đi theo. Bước vào phòng là một viên y sĩ, hắn lười nhác và kênh kiệu nhìn chúng tôi và lại còn lười nhác hơn nữa khi đi tìm bác sĩ trực để báo cáo. Một lát sau bác sĩ xuất hiện, ông khám bệnh và tỏ ra rất dịu dàng, rồi đưa cho chúng tôi “mấy tờ giấy đưa đám”, trong đó có tờ ghi tên họ chúng tôi. Các giấy sau là bệnh án, đơn thuốc và suất ăn thì được trao cho người cấp lệnh, tức là người cai quản các phòng bệnh tù nhân. Trước khi vào đây tôi đã được nghe nói rằng các tù nhân ngợi khen các thầy thuốc không hết lời. “Các ông này còn hơn cả bố mình nữa!” - họ trả lời các câu hỏi của tôi như vậy, khi tôi sắp đi viện. Trong khi đó chúng tôi được thay quần áo. Những quần áo ngoài và đồ lót của chúng tôi mặc vào đây được mang đi, và được thay bằng đồ bệnh viện. Hơn thế nữa, chúng tôi được phát cả bít tất cao cổ, giày đi trong nhà, mũ vải và áo choàng bằng nỉ dày màu xám, lót trong bằng một thứ gì đó không ra vải gai cũng không ra một lớp keo dán. Tóm lại cái áo khoác thì bẩn hết chê, nhưng tôi lại rất khen vì nó rất hợp. Sau đó chúng tôi được đưa về các phòng bệnh nằm ở cuối dãy hành lang dài nhất có trần cao và sạch. Vẻ sạch sẽ bên ngoài khiến chúng tôi hài lòng; tất cả mọi thứ thoạt nhìn đều sáng bóng. Tuy nhiên, có thể tôi thấy như thế vì mới ở trại tù đến đây. Hai người bị cáo thì sang phòng bệnh bên trái, còn tôi sang phải. Chỗ cửa ra vào có vòng khóa sắt to tướng, có lính gác đứng cạnh bồng súng. Viên hạ sĩ (trong đội gác của bệnh viện) ra lệnh cho tôi vào và thế là tôi đã đứng trong căn phòng dài và hẹp, hai bên tường theo chiều dài kê một dãy giường, hình như hai mươi hai chiếc, trong đó còn ba bốn giường để trống. Tất cả giường đều bằng gỗ sơn xanh, rất quen thuộc đối với mỗi người dân nước Nga chúng tôi. Những giường đó chắc hẳn là không có bọ rệp. Tôi được vào trong góc, chỗ có cửa sổ.
Như tôi đã nói từ trước, ở đây có cả các trại nhân chúng tôi. Một số người đã quen biết tôi, ít ra thì cũng đã nhìn thấy tôi rồi. Phần đông là các bị cáo và những người từ đại đội cải huấn. Các bệnh nhân nặng, tức là những người đã liệt giường liệt chiếu, thì không nhiều lắm. Những người khác ốm nhẹ hoặc đang lành bệnh thì ngồi trên giường hoặc đi lại trong phòng, vì giữa hai dãy giường vẫn còn khoảng trống lớn, đủ để đi dạo. Trong phòng bệnh có thứ mùi bệnh viện hết sức ngột ngạt. Không khí nhiễm đầy các thứ hơi khó chịu và các mùi thuốc, mặc dù gần như suốt ngày trong góc phòng vẫn có lò sưởi. Giường của tôi được phủ bằng một tấm vải kẻ sọc. Tôi gỡ tấm vải ra. Dưới tấm vải là một tấm chăn bằng nỉ lót vải gai và bộ đồ lót dầy mà sự sạch sẽ của nó rất đáng nghi ngại. Cạnh giường có một bàn nhỏ, trên có cốc vại và bát bằng thiếc. Để cho lịch sự những thứ đó được đậy bằng cái khăn mặt nhỏ mà người ta đã đưa cho tôi. Dưới bàn có ngăn để bộ ấm chén cho người uống trà, mấy cái hũ đựng nước kvat v.v... Nhưng trong đám bệnh nhân thì những người uống trà là rất ít. Những tẩu thuốc và túi thuốc hút thì hầu như ai cũng có, kể cả những người ho lao, và được dấu dưới gầm giường. Bác sĩ và những người lãnh đạo khác hầu như không bao giờ xem xét những cái đó, và nếu như có thấy ai đó cầm tẩu thì cũng làm ra vẻ như không nhìn thấy. Tuy vậy, bệnh nhân hầu như bao giờ cũng thận trọng và họ thường đi ra chỗ lò sưởi để hút. Ban đêm họ hút thuốc ngay trên giường, nhưng ban đêm làm gì có ai đi quanh phòng bệnh, trừ đôi khi có sĩ quan phụ trách tuần tra.
Từ trước tới đó tôi chưa bao giờ nằm viện, vì thế đối với tôi mọi thứ xung quanh đều là đặc biệt mới mẻ. Tôi nhận thấy rằng mình đã gây ra một sự tò mò nào đó. Người ta cũng đã nghe nói về tôi và họ cứ nhìn tôi chòng chọc, thậm chí còn có vẻ cao ngạo chút đỉnh, giống như trong trường người ta nhìn một chú học trò mới hoặc nhìn thấy một người ăn xin ở nơi công cộng. Ở bên phải cạnh tôi là một bị cáo, một viên thơ lại, con ngoài giá thú của một tên đại úy về hưu. Anh ta bị cáo buộc tội làm tiền giả và đã nằm đây khoảng một năm, có lẽ anh ta chẳng ốm đau gì, nhưng cứ khăng khăng với bác sĩ rằng anh bị xơ vữa động mạch. Anh đã đạt được ý đồ của mình: lao động khổ sai và đòn vọt đã buông tha anh và từ năm ngoái anh đã được gửi đến trại T. liền ngay bệnh viện. Đó là anh chàng đậm người, chắc nịch, hai mươi tám tuổi, một tên đại bịp, sành sỏi luật pháp, rất khôn ngoan, tháo vát, tự tin, một kẻ tự yêu mình đến mức bệnh hoạn, luôn luôn tin rằng anh ta là con người trung thực nhất và chân thành nhất trên cõi đời này, thậm chí là hoàn toàn không có lỗi lầm gì, và anh ta cứ tin hoài như thế mãi. Anh ta là người đầu tiên nói chuyện với tôi, tò mò hỏi han tôi và kể cho tôi nghe khá tỉ mỉ về nội quy bệnh viện. Trước hết anh thông báo rằng anh ta là con một ngài đại úy. Anh rất muốn tỏ ra mình là nhà quý tộc, hoặc chí ít cũng là “nòi giống quân tử”. Đến với tôi sau anh ta là một bệnh nhân thuộc đại đội cải huấn, ông này bắt đầu thuyết phục tôi rằng ông ta quen biết nhiều người trước kia là quý tộc bị đày đến đây, ông còn gọi được cả họ tên họ ra nữa. Đó là một người lính đầu đã bạc. Nhìn mặt ông ta là biết ông ta toàn nói dối hết. Tên ông ta là Chekunov. Rõ ràng Chekunov nịnh bợ tôi, nhưng hiển nhiên là ông ngửi thấy tôi có tiền. Thấy tôi có túi đựng trà và đường, ông đề nghị ngay là được giúp tôi. Ấm pha trà thì đã có anh M. ở trong trại hứa là ngày mai sẽ gửi một trại nhân đến làm việc cho bệnh viện cầm sang cho tôi. Nhưng Chekunov đã làm hết mọi việc. Ông kiếm đâu được một chiếc ấm đồng, thậm chí có cả cốc, rồi ông đun nước, pha trà. Tóm lại, ông phục vụ tôi hết sức cần mẫn, đến nỗi đã có một bệnh nhân mỉm cười có phần cay độc với ông. Người bệnh này bị ho lao, nằm đối diện với tôi, họ là Ustiantsev, là lính can án, đó cũng chính là anh lính sợ đòn vọt, đã uống một cốc rượu ngâm thuốc lá, đến nỗi bị lao, mà trước đây tôi đã nhắc đến. Từ đầu đến giờ anh ta vẫn nằm im, hơi thở nặng nề, mắt nhìn tôi đăm đăm, tư lự và tỏ ra không hài lòng liếc sang Chekunov. Vẻ không hài lòng ấy thật nghiêm khắc một cách đặc biệt và trầm uất, có pha thêm nét hài hước đặc biệt. Cuối cùng anh ta không chịu được nữa, thốt lên:
- Này, thằng đầu sai! Tìm được ông chủ rồi đấy! - anh kéo dài giọng, nhấn mạnh từng chữ, giọng hổn hển vì kiệt sức. Anh đã đến những ngày cuối cùng tàn tạ.
Chekunov bất bình quay sang anh lính:
- Ai là đầu sai? - ông khinh bỉ nhìn sang Ustiantsev.
- Mày là đầu sai chứ ai! - anh lính trả lời, giọng vẫn đầy tự tin, dường như anh có toàn quyền để phê phán Chekunov, thậm chí là nói đốp vào mặt vì mục đích này.
- Tao là đầu sai?
- Mày chứ ai nữa. Các ông bà tốt bụng hãy nghe tôi nói đây, nó lại còn không tin! Lại còn ngạc nhiên nữa chứ!
- Thế còn mày là gì! Mày thấy không, ông này cô đơn, như người không tay. Không có ai giúp là không ổn, có gì là lạ đâu. Vì sao lại không giúp người ta, hả thằng hề mồm râu!
- Mày bảo ai là thằng mồm râu?
- Mày mồm râu chứ ai!
- Tao mồm râu?
- Mày chứ ai!
- Còn mày thì đẹp trai? Mặt thì như trứng con quạ... lại còn bảo người ta mồm râu.
- Mồm râu là cái chắc! Trời đã giết mày rồi, cứ nằm đấy mà chết. Không, trời đang lôi cổ mày về đấy! Đồ rẻ rách!
- Cái gì? Này, tao quý trọng giày ống chứ không phải dép cỏ đâu nhé! Bố tao cũng thế và ông ấy không bảo tao... Tao... tao...
Anh ta muốn nói tiếp, nhưng ho rũ rượi mấy phút và khạc ra máu. Lát sau trên vầng trán thấp ngắn của anh ta rịn ra một chút mồ hôi lạnh khiến anh mệt rũ. Cơn ho hành hạ anh, nếu không thì anh còn nói nhiều nữa, nhưng đôi mắt anh nói lên rằng anh vẫn muốn chửi bới thêm, nhưng do kiệt sức anh chỉ khoát khoát tay mà thôi. Thế nên cuối cùng Chekunov cũng quên đi anh ta.
Tôi cảm thấy rằng cơn giận của người lính ho lao đã nhằm vào tôi nhiều hơn là vào Chekunov. Chekunov mong muốn được phục vụ và muốn kiếm thêm mấy xu thì chẳng ai nỡ bực mình với ông, hoặc nhìn ông bằng con mắt khinh miệt quá đáng. Ai cũng hiểu rằng ông làm thế này chẳng qua vì tiền. Về mặt này thì những người bình thường hoàn toàn không hề so đo và rất nhạy cảm khi đánh giá công việc. Người Ustiantsev không ưa lại chính là tôi, anh không ưa ấm trà của tôi, không ưa vì tôi đang mang xiềng xích mà làm ra vẻ quí phái, làm như không có đày tớ thì không chịu được, mặc dù tôi không hề mời gọi ông lão và cũng không hề muốn có đày tớ. Quả thật là tôi chỉ muốn làm mọi việc một mình, thậm chí tôi còn rất mong muốn không để người khác thấy được mình là người ăn trắng mặc trơn, quen được hầu hạ, quen làm quí tộc. Cái đó, nếu phải nói ra, thì phần nào cũng do lòng tự trọng của tôi. Thế đấy, - và tôi cũng không hiểu tại sao nó lại cứ thế, - nhưng tôi cũng chưa bao giờ có thể từ chối được những người xin đến hầu hạ và giúp đỡ, những người tự gắn bó với tôi, và cuối cùng chính họ đã chinh phục được tôi hoàn toàn và chính họ mới là những ông chủ của tôi thật sự, còn tôi lại là đầy tớ, nhưng bề ngoài thì rõ ràng tôi vẫn cứ là ông chủ, tôi không thể không có đày tớ và tôi vẫn là quí tộc. Tất nhiên, điều này khiến tôi bẽ bàng. Nhưng Ustiantsev là anh chàng ho lao, đang dễ bị kích động. Những bệnh nhân khác ở đây đều giữ vẻ thản nhiên, thậm chí có đôi chút lên mặt ta đây. Tôi vẫn còn nhớ rằng tất cả mọi người đều có chung một tình huống đặc biệt: qua những câu chuyện của tù nhân tôi được biết rằng vào buổi chiều tối hôm ấy người ta sẽ đưa về chỗ chúng tôi một tên bị can bị trừng phạt bằng roi liễu. Anh em trong tù chờ đợi người bạn mới với đôi chút tò mò. Tuy nhiên, người ta cũng nói rằng mức trừng phạt nhẹ thôi - chỉ có năm trăm roi.
Tôi đứng nhìn xung quanh một chút. Theo như tôi nhận xét thì những người nằm đây quả thật chỉ là bệnh nhân nha cam hoặc đau mắt là những bệnh đặc trưng của địa phương này. Trong phòng tôi cũng có mấy người như thế. Trong số những bệnh nhân khác, ốm thật sự, thì có người bị sốt, bị các bệnh khác và bị đau ngực. Phòng tôi không như các phòng bệnh khác, ở đây tập hợp đủ các loại bệnh, thậm chí cả bệnh hoa liễu. Tôi nói là các bệnh nhân ốm thật sự, bởi vì cũng có một số người chỉ là đến đây thế thôi, chứ chẳng có bệnh tật gì cả, họ đến để “nghỉ dưỡng”. Các bác sĩ cho họ vào thoải mái chỉ vì thương hại, nhất là khi còn nhiều giường trống. So với bệnh viện thì chế độ nuôi dưỡng ở các trại tù tồi tệ đến nỗi nhiều bệnh nhân thấy hài lòng khi được đến đây, mặc dù không khí ở đây ngột ngạt và phòng nằm thì đóng chặt. Có những người đặc biệt thích nằm và nói chung là thích nề nếp sinh hoạt bệnh viện, trong đó yêu thích hơn cả là những người từ đại đội cải huấn. Tôi tò mò nhìn ngắm những người bạn mới, nhưng tôi nhớ rằng kích động trí tò mò đặc biệt nơi tôi lúc bấy giờ là một người đã hấp hối đến từ trại chúng tôi, cũng bị ho lao vào giai đoạn cuối cùng. Anh ta nằm bên kia giường Ustiantsev và như thế cũng là đối diện với tôi. Anh ta tên là Mikhailov. Mới ba tuần trước tôi vẫn còn thấy anh trong trại. Anh bị ốm đã lâu và lẽ ra anh cũng đã phải đi viện từ lâu, nhưng nhờ sức chịu đựng kiên cường và hoàn toàn không cần thiết mà anh đã chế ngự được mình, đã trụ vững được và mãi đến dịp lễ hội vừa rồi anh mới nhập viện để được chết ba tuần sau một đợt ho kinh khủng khiếp, tựa hồ như toàn thân anh cháy rụi. Bây giờ tôi thấy kinh ngạc vì bộ mặt đã biến dạng ghê gớm của anh, một trong những khuôn mặt mà tôi đã nhìn thấy khi tôi mới nhập trại, khuôn mặt mà hồi ấy dường như đập ngay vào mắt tôi. Nằm cạnh anh là một người lính bị cải huấn, một người lính già, một người bẩn thỉu một cách ghê sợ và đáng kinh tởm. Nhưng, nói thế thôi, làm sao mà điểm hết các bệnh nhân ở đây được... Bây giờ tôi chỉ nhớ lại được ông già duy nhất ấy thôi, bởi vì rằng khi đó ông đã gây ra cho tôi một ấn tượng nhất định, và trong một phút ông đã kịp cho tôi một khái niệm khá đầy đủ về một số đặc điểm của phòng bệnh tù nhân. Tôi nhớ rằng lúc đó ông già này bị cảm rất nặng. Ông hắt hơi liên tục và suốt tuần lễ sau đó ông vẫn cứ hắt hơi, ngay cả khi ngủ, ông hắt hơi cứ như từng loạt đạn một, mỗi bận năm sáu cái liền, lần nào cũng nói rành rọt “Lạy Chúa, ngài trừng phạt con đến thế này đây!”. Ông ngồi trên giường đến một phút, say sưa lấy thuốc lá trong cái túi giấy nhồi vào mũi mình để hắt hơi được mạnh hơn và rõ hơn. Ông hắt hơi vào chiếc khăn kẻ ô vuông của riêng mình đã được giặt đến hàng trăm lần và đã nhàu nát hết mức, trong khi đó thì cái mũi nhỏ bé của ông cũng nhăn nhúm lại, cũng bị chun vào trong trăm ngàn nếp nhăn khác và làm lộ hẳn ra những mảnh răng đen xỉn cùng hàm lợi đỏ chảy đầy rớt rãi. Hắt hơi xong, ông lập tức mở rộng khăn ra, thận trọng ngắm nghía xem xét đống rớt rãi bầy nhầy trong đó, rồi vội vã chùi khăn vào tấm áo choàng được cấp phát màu hung, đống rớt rãi nằm lại trên áo, cái khăn vẫn còn ướt mèm. Suốt cả tuần ông toàn làm như vậy. Lối tiết kiệm khăn kiểu cù lần, keo xỉn làm hại cái áo choàng được phát, nhưng lại hoàn toàn không bị đám bệnh nhân phản đối, mặc dù sau này trong anh em bệnh nhân sẽ có người phải mặc chính cái áo đó. Nhưng những người dân lành chúng ta thật đến lạ lùng, chẳng bao giờ khinh bỉ ai, kỳ thị ai. Ngay phút đó tôi thấy chạnh lòng, và ngay lập tức với thái độ ghê sợ kèm với tò mò tôi bắt đầu nhìn lại tấm áo choàng mà tôi vừa mặc. Tôi bắt đầu nhận thấy rằng từ lâu nó đã khiến tôi phải chú ý vì cái mùi nồng nặc của nó. Tấm áo trên người tôi đã kịp ấm lên và tỏa ra mỗi lúc một mạnh hơn mùi các loại thuốc, các loại cao dán và tôi cảm thấy dường như cái áo ấy không rời khỏi vai bệnh nhân từ đời thuở nào không rõ nữa như một cái ung nhọt. Có thể tấm lót áo phía sau lưng người ta cũng đã có giặt rồi, nhưng chắc rằng tôi không biết được. Thế nhưng vào lúc này đây tấm lót ấy đã thấm đượm đủ các thứ nước thuốc, nước mủ, nước vết thương, vết mổ v.v... Hơn thế nữa, những người nhập viện thường là những người vừa bị đòn roi với những tấm lưng rách nát. Họ thường được điều trị bằng thuốc đắp và vì thế áo khoác được mặc liền ngay ngoài áo sơ mi ẩm ướt và không thể nào lại không hư hại được: tất cả mọi thứ đều dính trên đó. Suốt cả thời gian tôi ở trại, suốt mấy năm đó, hễ cứ khi nào tôi phải nhập viện (mà chuyện này lại xảy ra luôn), thì lần nào tôi cũng mặc áo khoác với niềm bất tín kinh sợ. Tôi đặc biệt ghê hãi khi bắt gặp trong áo khoác những chú rận to tướng và béo mập căng tròn. Anh em tù nhân sướng khoái được hành hạ chúng, thế nên khi nào dưới móng tay của một bạn tù có chú thú dữ nhỏ được cấp phát đó nổ lên kêu bép thì ta có thể thấy trên gương mặt của kẻ săn mồi mức độ khoái cảm mà anh nhận được. Anh em chúng tôi cũng rất ghét loài rệp và đôi khi vào những buổi chiều đông dằng dặc, thê thiết cả phòng chúng tôi đồng loạt đứng lên tìm chúng tiêu diệt. Trong phòng bệnh, ngoài cái mùi nồng nặc ra thì nhìn vẻ bề ngoài mọi thứ trông cũng ra dáng sạch sẽ, nhưng cái thứ sạch bên trong, được gọi là sạch đằng lót thì còn lâu mới gọi là sạch. Bệnh nhân đã quen như thế và đã cho rằng cần phải như thế, và bản thân qui chế ở đây cũng không đòi hỏi phải sạch sẽ đặc biệt. Nhưng về qui chế tôi sẽ nói sau...
Ngay sau khi Chekunov pha cho tôi ấm trà (xin nói ngay rằng trà được pha bằng nước trong phòng, thứ nước được cấp một lần dùng cả ngày đêm và dường như trong bầu không khí của chúng tôi thứ nước ấy thiu đi rất nhanh), thì cánh cửa phòng được mở ra đánh kẹt một cái, và một người lính áp giải lôi sềnh sệch vào phòng một anh lính vừa bị đòn vọt. Đây là lần đầu tiên tôi được thấy một người bị hành hạ như vậy. Sau này những người như thế được đưa vào nhiều hơn, có những người thậm chí phải khiêng vào phòng (họ bị trừng phạt quá nặng) và những lần ấy lại mang đến cho các bạn tù những bận rộn to lớn. Thường là anh em đón nhận họ với vẻ mặt nghiêm nghị hơn lên, thậm chí là có phần cẩn trọng kéo dài, tuy nhiên, phương thức đó còn tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của án phạt, suy ra là tùy thuộc vào số lượng roi phạt. Những người bị đòn roi rất đau đớn và, xét về mặt tư cách thì đó là những tội phạm lớn, lại được mọi người kính nể nhiều hơn, được quan tâm nhiều hơn những người lính mới trốn trại, như cái anh chàng mà bây giờ người ta dẫn đến. Nhưng trong bất kể tình huống nào thì cũng không hề có ai tỏ ra thương tiếc đặc biệt, không hề có những lời xì xào kích động đặc biệt. Họ lặng lẽ giúp đỡ và chăm sóc những kẻ bất hạnh, đặc biệt là những người không thể tự mình làm được các việc. Chính các y sĩ cũng tự biết rằng họ đang giao một kẻ trọng thương vào tay những người có nhiều kinh nghiệm và khéo léo. Anh em giúp đỡ bằng cách thường xuyên thay cho họ những thứ khăn áo tẩm nước lạnh để đắp lên những tấm lưng chầy chợt, đặc biệt nếu như người bị hành hạ ấy lại không còn đủ sức để kiểm soát nổi mình, ngoài ra lại còn phải khéo léo nhổ đi những cái dằm từ những chiếc roi gẫy còn găm lại trên lưng. Cái thao tác này là hết sức khó chịu đối với người đau. Nhưng nhìn chung bao giờ tôi cũng lấy làm ngạc nhiên về tính kiên cường phi thường của những người bị hành hạ phải chịu đựng đau đớn. Nhiều người trong số họ tôi vẫn còn gặp lại, đôi khi là những người bị đánh rất ác liệt, nhưng hầu như không một người nào kêu rên cả! Chỉ có gương mặt họ dường như là biến đổi hẳn, tái xám đi, đôi mắt rực cháy, cái nhìn vô định, bất an, đôi môi run rẩy, thế nên con người khốn khổ ấy phải ráng sức mà lấy răng cắn môi, nhiều khi suýt rớm máu. Anh lính mới vào này hai mươi ba tuổi, người rắn rỏi, cơ bắp cuồn cuộn, xinh trai, cao ráo, cân đối, mập mạp. Tuy nhiên, lưng anh ta đã bị đánh có đủ hình ngang dọc. Người anh để trần từ đầu xuống đến thắt lưng, vai vắt khăn ướt, chân tay run cầm cập như lên cơn sốt, suốt một tiếng rưỡi đồng hồ anh cứ đi đi lại lại trong phòng. Tôi nhìn vào mặt anh, dường như anh không suy nghĩ điều gì vào phút giây ấy, anh nhìn bằng con mắt thoáng qua, kỳ lạ và hoang dã và rõ ràng là anh thấy nặng lòng khi phải dừng lại chăm chú nhìn một cái gì đó. Bây giờ tôi thấy được rằng anh đang chăm chú nhìn ấm trà của tôi. Trà đang nóng, khói từ cốc bay lên, còn anh chàng khốn khổ thì lại đang rét mướt và run rẩy, răng đánh vào răng cầm cập. Tôi mời anh uống trà. Anh lặng lẽ quay ngoắt về phía tôi, đón cái cốc, đứng đấy mà uống không cần đường ngọt, hơn nữa anh lại uống rất vội vàng và dường như đặc biệt cố gắng không nhìn đến tôi. Uống xong, anh lại lặng lẽ đặt cốc xuống, thậm chí cũng không gật đầu chào tôi, để rồi lại đi lên đi xuống trong phòng. Anh không cần phải gật đầu gì cả! Còn các tù nhân thì ban đầu không hiểu vì sao họ lại tránh không nói chuyện gì với anh lính bị trừng phạt, ngược lại, tuy ban đầu họ giúp đỡ anh, nhưng sau đó họ lại làm như cố gắng không để ý chút nào đến anh, có lẽ là muốn cho anh được yên tĩnh nhiều hơn và không làm anh phải rầu lòng vì những câu hỏi và “những số phận” tiếp theo, những thứ mà có lẽ anh hoàn toàn không ưa.
Trong khi đó thì trời đã tối, người ta thắp đèn đêm. Một số tù nhân mang theo chân nến riêng, tất nhiên cũng là rất ít người có thôi. Cuối cùng, sau khi bác sĩ khám bệnh ca chiều xong là đến tên hạ sĩ đi tuần bước vào. Hắn đếm đủ số bệnh nhân và người ta mang dự phòng vào đây một cái thùng rồi khóa cửa phòng lại. Tôi ngạc nhiên được biết rằng cái thùng ấy để đây suốt đêm, trong khi nhà vệ sinh ở ngay ngoài hành lang, cách cửa ra vào có vài bước chân. Nhưng đó chính là nội quy của bệnh viện. Ban ngày tù nhân được cho ra ngoài phòng, tất nhiên là không quá một phút, ban đêm thì dứt khoát là không được. Phòng bệnh của tù nhân không giống phòng bệnh nhân thường. Bệnh nhân tù ngay cả lúc mang bệnh cũng phải chịu hình phạt như thường. Không hiểu ban đầu ai đề ra cái nội quy này, tôi chỉ biết rằng nó chẳng mang đến một trật tự thực sự nào và cái bản chất vô tích sự của chủ nghĩa hình thức thì chưa bao giờ được thể hiện nhiều hơn là trong trường hợp này. Nội quy này được đưa ra hẳn không phải là từ các bác sĩ. Tôi xin nhắc lại rằng các tù nhân đã ca ngợi không hết lời các thày thuốc, coi họ như cha như chú và rất kính trọng. Ai cũng nhìn thấy nơi họ tấm lòng âu yếm, nghe thấy nơi họ những lời ân tình, tù nhân nào bị mọi người ruồng bỏ cũng đánh giá cao những điều đó, vì anh ta nhìn thấy trong sự âu yếm và lời ân tình có tính thuần khiết và tính chân thực. Sự âu yếm có thể không có, cũng không ai đòi hỏi thầy thuốc phải âu yếm, nếu thầy thuốc ứng xử theo cách khác, tức là thô bạo hơn và bất nhân hơn, như thế nghĩa là họ tốt bụng xuất phát từ lòng nhân ái chân thành. Chắc hẳn họ hiểu được rằng người bệnh, dù là ai đi nữa, là tù nhân hay người thường đều cần đến những thứ như là khí trời trong mát cũng y như một bệnh nhân khác, thậm chí là một bệnh nhân cao cấp nhất. Bệnh nhân các phòng khác lúc sắp bình phục có thể tự do đi lại ngoài hành lang, được vận động nhiều hơn, được thở hít bầu không khí không bị nhiễm độc như không khí trong phòng, thứ không khí bị khóa cửa chặt và luôn luôn bị bắt buộc phải nhồi nhét thêm những nguồn hơi ngột ngạt. Và bây giờ thật kinh khủng và thật ghê sợ phải hình dung rằng cái bầu không khí vốn đã bị đầu độc lại bị đầu độc thêm đến mức nào nữa vào ban đêm trong phòng chúng tôi, khi người ta mang vào đây cái thùng ấy trong điều kiện nhiệt độ ấm áp của căn phòng với các căn bệnh nổi tiếng, mà không có lối ra là không thể chấp nhận được. Nếu như bây giờ tôi nói rằng tù nhân ngay cả lúc mang bệnh cũng vẫn phải chịu hình phạt, thì có thể là tôi đã và đang không hình dung được rằng nội quy này được thiết lập chính là nhằm làm một hình thức trừng phạt. Có thể đó là sự vu khống vô nghĩa lý từ phía riêng tôi. Con bệnh thì chẳng có gì phải trừng phạt cả. Còn nếu đúng như thế thì hiển nhiên là đã có một nhu cầu thiết yếu rất nghiêm khắc bắt buộc bọn quản lý phải tiến hành một biện pháp mà xét về mặt hậu quả thì rất độc hại. Biện pháp gì mà kỳ quái vậy? Nhưng ở đây có một cái gì đó đáng phải bực mình là chẳng có lý do gì khác để giải thích cái nhu cầu thiết yếu của biện pháp này, và hơn thế nữa, của nhiều biện pháp khác, những biện pháp không thể hiểu được, đến mức không những không thể giải thích, mà còn không thể dự đoán được cách giải thích chúng nữa. Sự tàn bạo vô bổ như thế thì giải thích bằng cách nào? Các bạn có thấy không, ta phải giải thích rằng tù nhân nhập viện là cố tình giả vờ ốm, lừa dối các bác sĩ, ban đêm ra ngoài đi vệ sinh rồi lợi dụng bóng đêm mà tẩu thoát ư? Chứng minh một cách nghiêm túc toàn bộ cái bất ổn của lý giải đó là điều hầu như không thể đạt được. Tẩu thoát đi đâu? Tẩu thoát thế nào? Tẩu thoát bằng gì? Ban ngày còn cho đi ra ngoài được từng người một, thì ban đêm làm thế cũng được chứ sao. Ngoài cửa bao giờ cũng có lính bồng súng đứng canh, đạn đã lên nòng. Chỗ đi vệ sinh chỉ cách lính canh có hai bước chân, hơn thế nữa, bệnh nhân lại còn được một tên lính áp giải đi cùng và không lúc nào rời mắt ra cả. Nơi đó chỉ có một ô cửa sổ thiết kế theo kiểu mùa đông có hai khung và có lưới sắt. Ở ngoài sân ngay dưới cửa sổ ấy, sát dẫy cửa sổ các phòng bệnh lại cũng có lính đi tuần suốt đêm. Để chui ra được cửa sổ phải phá được khung sắt và lưới sắt. Ai cho phép làm được như thế? Ta cứ giả dụ rằng đầu tiên anh ta giết được tên lính áp giải, tên đó không kêu lên được và không ai nghe thấy gì hết. Nhưng cho dù có cái điều kỳ cục ấy xảy ra thì thế nào cũng phải phá được cửa sổ và lưới sắt. Các bạn còn phải nhận thấy rằng bên cạnh tên lính gác lại có một đội quân bảo vệ trại đang ngủ, và cách đấy mười bước chân, trước cửa phòng tù nhân bên kia lại có một tên lính khác bồng súng đứng đó, bên cạnh tên này lại là tên áp giải khác và một đội bảo vệ khác. Và tù nhân chạy đi đâu vào mùa đông mà trên người chỉ có bí tất và chân đi giày dép trong nhà, mình mặc áo khoác bệnh viện và đội mũ vải. Mà nếu đã như thế, nếu ít nguy hiểm đến như thế (mà thực sự không hề có sự nguy hiểm nào cả), thì việc gì phải làm căng thẳng nặng nề cho bệnh nhân, có thể là vào những ngày giờ cuối cùng của đời họ, những người mà một chút không khí tươi mát còn cần thiết hơn so với người khỏe? Để làm gì nhỉ? Điều này không bao giờ tôi có thể hiểu được...
Nhưng nếu như đã có câu hỏi là “Để làm gì?”, và chính vì bắt buộc phải lên tiếng trả lời, thì bây giờ tôi lại không thể không nhớ đến một sự vô lý khác mà suốt bao nhiêu năm cứ hiện ra trước mắt tôi như một sự kiện bí ẩn nhất và tôi cũng không có cách nào có thể tìm được lời đáp. Tôi không thể không nói về chuyện đó, dù chỉ là một đôi lời thôi, trước khi tôi tiếp tục phần mô tả của mình. Tôi xin nói về những chiếc xiềng mà không một thứ bệnh tật nào có thể giúp tù nhân khổ sai thành án trút bỏ được nó. Thậm chí những người ho lao đang hấp hối ngay trước mắt tôi cũng vẫn phải mang xiềng. Mọi người cũng đã quen với xiềng xích, coi đó là một cái gì định hình, không chối bỏ được. Chắc gì đã có một người nào đó trăn trở chuyện này, thậm chí trong các bác sĩ cũng chưa hề có ai nghĩ tới trong suốt mấy năm nay dù chỉ là một lần yêu cầu ban quản lý tháo xiềng cho tù nhân trọng bệnh, đặc biệt là bệnh lao phổi. Cứ cho rằng chiếc xiềng ấy tự thân nó không cần đến trời ta cũng biết nó nặng ra sao. Trọng lượng của nó thường là từ tám đến mười hai funt. Người khỏe mạnh vác mười funt cũng chẳng nhẹ nhàng gì. Tuy nhiên, người ta bảo với tôi rằng sau mấy năm mang xiềng hai chân tựa như bắt đầu khô héo đi. Tôi không biết rằng có đúng thế không, mặc dù ở đây cũng có đôi chút nghi hoặc. Một vật nặng, dù là nhỏ bé đi nữa, dù chỉ là mười funt thôi, mà cứ đeo mãi vào chân thì sẽ làm tăng trọng lượng chân lên một cách không bình thường và sau một thời gian dài sẽ gây ra tác động xấu nào đó... Nhưng cứ cho rằng đối với sức khỏe thì như thế cũng chưa hề hấn gì. Còn với người ốm thì cũng thế sao? Ta lại cho rằng đối với người ốm thường thì vẫn chưa sao. Nhưng tôi xin nhắc lại, chẳng lẽ vẫn là thế đối với người ốm nặng, chẳng lẽ vẫn là thế, tôi xin nhắc lại, đối với bệnh nhân ho lao, những người mà không đeo xiềng thì chân tay họ cũng đã khô héo, cho nên một cọng rơm cũng đã là nặng, phải không? Và quả thật là nếu như những người phụ trách y tế biết lo toan giảm nhẹ dù chỉ là riêng cho những người bị ho lao thôi, thì đó cũng đã là một nghĩa cử chân thành và vĩ đại rồi. Hãy cho rằng có người nào đó nói rằng tù nhân hung bạo thì không xứng đáng được hưởng nghĩa cử đó, nhưng chẳng lẽ ta lại phải làm trầm trọng thêm án phạt cho kẻ nào bị ngón tay của Chúa chạm đến hay sao? Và ta cũng không thể tin được rằng làm như thế chỉ là nhằm mục đích trừng phạt. Xét về lý thì người ho lao được thoát khỏi sự trừng phạt thể xác. Suy ra, ở đây lại chứa đựng một biện pháp quan trọng, huyền bí dưới dạng là phòng bị cứu nạn. Nhưng phòng bị cứu nạn thế nào? - điều này lại không thể hiểu được. Vấn đề là người ta phải thực sự không được sợ rằng người ho lao chạy trốn. Làm gì có ai lại nghĩ như thế, đặc biệt khi biết được rằng mức độ bệnh tình ngày một gia tăng? Còn chuyện giả vờ ho lao để đánh lừa bác sĩ mà chạy trốn là điều không thể có được. Nếu không có bệnh đó thì thoạt kỳ thủy người ta nhìn thấy ngay. Mà cũng cần phải nói thêm rằng: chẳng lẽ con người bị xiềng chân chỉ cốt để anh ta không chạy trốn hoặc để cản trở không cho chạy trốn? Hoàn toàn không phải thế. Xiềng gông chỉ là sự nhục mạ, nỗi xấu hổ và sự đau đớn cả về thể chất lẫn đạo lý. Ít ra thì tôi cũng tạm suy nghĩ như vậy. Xiềng gông chưa bao giờ có thể cản bước ai chạy trốn. Tù nhân khờ khạo nhất, vụng dại nhất cũng biết cách chẳng mấy khó khăn gì và chẳng tốn nhiều thời gian cưa đứt xiềng xích hoặc dùng đá mà đập vỡ mối hàn. Xiềng chân quyết là không ngăn chặn cái gì cả, mà nếu như có ngăn chặn, nếu như chúng được dùng chỉ để trừng phạt người tù thành án, thì tôi xin hỏi lại: chẳng lẽ người ta trừng phạt một người sắp chết hay sao?
Giờ đây, khi tôi đang viết những dòng này, tôi bỗng nhớ đến một người hấp hối, bị ho lao, đó chính là anh Mikhailov, nằm khá đối diện với tôi, gần Ustiantsev. Tôi nhớ rằng anh ta đã chết vào ngày thứ tư sau khi tôi nhập viện. Có thể là bây giờ tôi bất giác nhắc đến những ấn tượng và những suy nghĩ của mình về chuyện cái chết, nên tôi đã nói đến những người ho lao. Về cái anh chàng Mikhailov ấy thực ra tôi biết rất ít. Đó là con người còn rất trẻ trung, tuổi đời mới độ hai lăm, không hơn, dáng cao đẹp, mảnh mai và diện mạo rất tuấn tú. Anh sống trong khu biệt giam và im lặng đến mức lạ kỳ, lúc nào cũng buồn bã một cách nhẹ nhàng, yên tĩnh. Đúng là anh đang “héo hon dần” trong trại. Ít ra thì sau này anh em tù nhân vẫn nói về anh như thế, anh đã để lại cho anh em một ký ức tốt đẹp. Tôi chỉ nhớ được rằng anh có đôi mắt tuyệt vời, và quả thật tôi không biết vì sao tôi cứ phải nhớ về anh một cách sắc nét đến vậy. Anh chết vào khoảng ba giờ chiều một ngày giá buốt và trong sáng. Tôi vẫn còn nhớ là mặt trời rọi những tia sáng mạnh mẽ và chéo góc lên những tấm kính đã se lạnh màu xanh trên cửa sổ phòng bệnh. Cả một chùm ánh sáng như thế đổ xuống con người bất hạnh. Anh chết đi lúc nào không biết, ra đi một cách thật là nặng nhọc và lâu dài, phải mất mấy tiếng liền. Ngay từ buổi sáng đôi mắt anh đã bắt đầu không còn nhận ra hình ảnh những người đến gần. Nhiều người muốn tìm cách động viên an ủi anh, họ thấy rằng anh đã ốm yếu quá; anh thở nặng nhọc, hút hơi và đờm rãi khò khè; bộ ngực anh nhô cao lên, tựa hồ như rất thiếu không khí. Anh đạp tung chăn ra, cởi hết áo ngoài, và cuối cùng giật phăng cả áo sơ mi, cái áo ấy đối với anh thậm chí cũng là quá nặng. Mọi người đã giúp anh cởi áo. Thật khủng khiếp khi ta nhìn thấy cái cơ thể dài ngoẵng, những bộ chân tay khô khốc, chỉ còn da bọc xương, với cái bụng xẹp lép xuống, bộ xương ngực nhô cao lên, và những chiếc xương sườn nổi lên rõ rệt trông chẳng khác nào một bộ xương khô. Trên toàn bộ cái cơ thể này chỉ còn sót lại duy nhất là chiếc thập ác bằng gỗ, cái dây đeo cổ và cái xiềng sắt mà có lẽ giờ đây anh có thể rút ra lắp vào được nơi cái chân khô khốc kia. Từ nửa giờ trước khi anh ra đi, tất cả chúng tôi dường như nín im, chỉ nói với nhau thì thầm mà thôi. Những ai đi lại thì đều rón rén không để lộ tiếng. Mọi người nói chuyện không nhiều, toàn những chuyện đâu đâu bên ngoài, thỉnh thoảng lại liếc mắt về phía người hấp hối, còn anh thì mỗi lúc một khò khè mạnh hơn. Cuối cùng anh đưa một bàn tay ẽo ợt quào quíu lên ngực, vớ được chiếc dây đeo cổ rồi cố rứt ra, tựa hồ như cái dây ấy nặng lắm, phiền nhiễu lắm, nghẹt thở lắm. Mọi người tháo ra cho anh. Mười phút sau anh ra đi. Có người ra gõ cửa phòng trực ban để báo tin. Lính gác bước vào, lơ mơ nhìn vào người chết rồi đi tìm viên y sĩ. Y sĩ là một anh chàng trẻ tuổi và tốt bụng, hơi chú ý quá mức đến ngoại hình của mình, thứ ngoại hình tỏ ra khá hạnh phúc. Anh chàng đến ngay với những bước chân nhanh nhẹn và lộp cộp giữa căn phòng tĩnh lặng. Anh đến bên người quá cố và với vẻ bao dung đặc biệt, dường như cố tình tạo ra trong trường hợp này, anh cầm tay bắt mạch người chết, nắn bóp đôi chỗ rồi khoát tay bước ra. Ngay lập tức mọi người báo cho trực ban: người chết là một tội đồ hiểm trọng, đã bị giam ở biệt trại, muốn xác nhận là chết cũng phải có những thủ tục đặc biệt. Trong lúc chờ đợi trực ban, có người trong số trại nhân thì thào nêu ra ý kiến rằng bây giờ vuốt mắt cho người chết cũng là việc không có gì tệ hại cả. Một người khác lắng nghe, lặng lẽ đến bên người chết vuốt mắt cho anh. Nhìn thấy trên gối có cái thập ác, người này cầm lên nhìn ngắm rồi lặng lẽ đeo lại vào cổ Mikhailov, đeo xong lại làm dấu thánh cho anh. Lúc này mặt người chết chỉ còn toàn xương, ánh sáng nhảy nhót trên đó; miệng anh hơi hé mở, hai hàm răng trắng khỏe mạnh sáng bóng trong đôi môi mỏng mím vào đến lợi. Cuối cùng tên hạ sĩ trực ban bước vào, tay cầm đoản côn, đầu đội mũ vành, theo sau có hai tên lính gác. Hắn đi vào, mỗi bước một chậm hơn, ngơ ngơ nhìn anh em trại nhân đang đứng lặng bốn phía và đang căng mắt nhìn hắn. Bước thêm một bước về phía người chết, hắn dừng lại đứng như trời trồng, như đang lo lắng sợ sệt. Cái xác người hoàn toàn lõa lồ, khô cứng, chỉ còn đeo xiềng gông, khiến hắn kinh hãi, và thế là đột nhiên hắn cởi áo khoác, lột mũ, đưa tay lên làm dấu thánh một cách khoáng đạt. Đó là bộ mặt quân nhân căng thẳng, bạc nhợt. Tôi vẫn còn nhớ, vào đúng giây phút đó chính chỗ này đây còn có ông già Chekunov, đầu bạc. Ông cứ đứng lặng lẽ như thế mà nhìn chăm chăm, không hề chớp mắt, vào bộ mặt tên hạ sĩ, và với một sự chú ý đặc biệt đến kỳ lạ ông theo dõi từng cử chỉ một của tên này. Nhưng rồi ánh mắt của hai người gặp nhau, cái môi dưới của ông già Chekunov không hiểu sao bỗng run lên. Ông đã làm nó biến dạng một cách lạ lùng, rồi ông nhanh chóng nhe răng ra, tựa hồ như bất giác gật đầu ra hiệu cho tên hạ sĩ quay về phía người chết, rồi nói liền một hơi:
- Anh ta cũng có mẹ đấy! - nói rồi bước đi luôn.
Tôi vẫn còn nhớ, những lời ấy xé buốt tim tôi... Ông nói câu ấy để làm gì, và câu ấy lọt vào trí óc tôi như thế nào nhỉ? Bây giờ người ta nâng cái xác lên, nâng luôn cả cái gường sắt, lớp đệm rơm kêu lào xào, cái xiềng sắt kêu loảng xoảng, và trong cảnh tĩnh lặng như tờ mọi người lạch bạch bước đi. Mọi thứ đồ đạc được thu dọn, cái xác được mang đi. Bỗng chốc mọi người lại nói to lên. Ngoài hiên đã nghe tiếng tên hạ sĩ sai người đi tìm thợ nguội đến tháo xiềng cho anh...
Nhưng tôi đã đi lạc đề mất rồi...