Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII - FOMA FOMITS
VII FOMA FOMITS

❊ ❊ ❊

Tôi đã ngắm nghía ông lớn này với vẻ săm soi hết cỡ. Gavrila đã đúng khi gọi y là một kẻ bẩn tướng. Foma vóc người nhỏ bé, tóc màu trắng nhợt điểm sợi bạc, mũi khoằm, mặt đầy những nếp nhăn nhỏ. Ở cằm có một mụn cóc lớn. Tuổi trạc năm mươi. Y vào nhà một cách lặng lẽ, chân bước đều đặn, mắt nhìn xuống. Nhưng vẻ dương dương tự đắc lại hiện rõ trên gương mặt cùng toàn bộ dáng vẻ khệnh khạng của y. Tôi lấy làm lạ là y lại mặc một chiếc áo choàng mặc ở nhà, kiểu áo nước ngoài, nhưng dù sao vẫn là áo mặc ở nhà, chân còn dận giày ba-ta nữa. Chiếc cổ áo sơ mi không thắt cà-vạt thì đúng là cổ áo à l’enfant[1]; cách ăn mặc như thế đã đem lại cho Foma một vẻ ngu đần. Y đến bên một chiếc ghế bành bỏ không, đẩy nó đến bên bàn và ngồi xuống, không nói không rằng. Trong giây lát, toàn bộ cảnh nhốn nháo, toàn bộ bầu không khí hồi hộp âu lo vừa ngự trị nơi đây bỗng bay biến hết. Tĩnh lặng đến mức nghe được cả tiếng ruồi bay. Tướng quân phu nhân đã trở nên hiền dịu như một chú cừu non. Thái độ luồn cúi của bà già ngu ngốc đáng thương đối với Foma Fomits giờ đây được bộc lộ hết ra ngoài. Bà nhìn thẳng vào mắt ý trung nhân, vẻ nồng nàn đắm đuối. Ả Perepelisina cứ ngoác miệng ra cười, xoa xoa đôi bàn tay nhỏ nhắn, còn cô Praskovia tội nghiệp của tôi thì cứ run run vì sợ. Chú tôi lập tức lên tiếng, vẻ lăng xăng.

- Trà, trà, kìa em! Cho thêm đường vào, em ạ; Foma Fomits cứ ngủ dậy là thích uống trà đậm đường đấy. Ông uống đậm đường chứ, Foma?

- Bây giờ tôi còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện chè cháo nữa! - Foma nói chậm rãi và phẩy tay một cách cảnh vẻ, ra điều ta đang có quá nhiều suy nghĩ âu lo. - Chuyện ngọt nhạt mong ngài lo liệu hết cho!

Những lời lẽ ấy cùng với cách vào nhà lố bịch ở cái vẻ khệnh khạng cố hữu của Foma đã đặc biệt thu hút sự chú ý của tôi. Tôi đang rất muốn biết cái trâng tráo của cái ông-lớn-ất-ơ vênh váo như bố vợ phải đấm này rút cuộc sẽ đi đến chỗ nhố nhăng càn rỡ nào đây.

- Foma! - chú tôi gọi to, - ta xin giới thiệu: đây là cháu ta: Serjei Aleksandrits! Cu cậu vừa về đến đây thôi.

Foma Fomits đưa mắt nhìn ông từ chân lên đầu.

- Tôi lấy làm lạ là ngài chỉ khoái ngắt lời tôi thôi, ngài đại tá ạ, - y cất tiếng sau một quãng lặng khá dài, không mảy may để ý đến tôi. - Người ta đang trao đổi với ngài về công việc, vậy mà ngài cứ đi... bàn chuyện đâu đâu... Ngài đã nhìn thấy thằng Falalei chưa nào?

- Thấy rồi, Foma ạ...

- Hay lắm, ngài đã thấy rồi! Vậy tôi xin mời ngài xem lại, nếu như ngài đã thấy rồi. Ngài có thể ngắm nghía cái tác phẩm của ngài... trên bình diện đạo đức. Lại đây, thằng ngốc! Lại đây, thằng mặt mẹt! Đi đi, đi! Đừng sợ!

Falalei vừa bước ra vừa khóc thổn thức, mồm há hốc, cố nuốt nước mắt để khỏi òa lên. Foma Fomits đưa mắt nhìn nó với vẻ khoái trá.

- Tôi gọi nó là thằng mặt mẹt là có dụng ý, Paven Semionits ạ, - y vừa nói vừa ngả người ra trong ghế bành và khẽ quay sang phía người ngồi cạnh là Obnoskin, - và nói chung, cậu biết không, tôi thấy không cần phải ăn nói nhẹ nhàng làm cái quái gì nữa. Sự thật phải là sự thật. Có che đậy thế nào thì vết bẩn vẫn cứ là vết bẩn thôi. Hơi đâu mà còn phải lựa lời để dối mình lừa người nữa! Chỉ bên trong cái tháp ngà ngốc nghếch của giới thượng lưu thì nhu cầu về những phép lịch sự vô nghĩa như thế mới có thể nảy sinh. Cậu nói đi, tôi chọn cậu làm quan tòa, cậu có tìm thấy cái gì đẹp đẽ ở cái thằng mặt mẹt kia không? Tôi muốn nói đến cái cao quý, diễm lệ, thanh tao chứ không phải bất cứ cái gì ở cái ngữ mặt nạc đóm dày mà người ngợm cứ phây phây ra đâu?

Foma Fomits nói khẽ, giọng đều đều với một vẻ lạnh lùng ẩn chứa sự thâm nghiêm.

- Cái gì đẹp đẽ ở nó ư? - Obnoskin trả lời với vẻ sỗ sàng ngông ngáo, - Tôi cảm thấy nó cũng chỉ như một miếng bít-tết ngon mắt, thế thôi...

- Hôm nay mới đến trước gương để soi gương, - Foma nói tiếp, bỏ qua đại từ tôi một cách ngạo mạn. - Còn khuya mới dám cho mình là đẹp, nhưng bất giác phải đi đến kết luận là vẫn có một cái gì ánh lên trong đôi mắt màu gio này nó làm mình khác hẳn cái hạng người như Falalei. Đó là tư tưởng, là sự sống, là trí tuệ hiển hiện trong đôi mắt ấy! Chả phải là vỗ ngực, mèo khen mèo dài đuôi đâu. Đây là nhận định chung về đẳng cấp của chúng ta. Bây giờ cậu nghĩ sao: liệu có thể có được một mẩu, một dúm tâm hồn nào đó trong cái miếng bít-tết sống kia không? Không, quả thật là như vậy, cậu để ý mà xem, Paven Semionits ạ, ở cái hạng đầu rỗng như đít bụt, không có qua một tý gì gọi là tư duy, lý tưởng và chỉ biết hốc thịt bò ấy, mặt mũi chúng lúc nào mà chả tươi roi rói, nhưng nhìn kỹ mới thấy ghê, vì đó là cái tươi thô lậu, ngu đần! Cậu có muốn biết tầm suy nghĩ của thằng nhóc này không? Ê, thằng kia! Dịch nữa vào đây cho quan khách ngắm! Sao lại há mồm ra thế? Muốn nuốt cá voi chăng? Mày có đẹp trai không? Trả lời đi: mày có đẹp trai không?

- Đe-e-ẹp tra-a-ai! - Falalei trả lời trong tiếng thổn thức.

Obnoskin cười rũ rượi. Tôi cảm thấy mình đã bắt đầu run lên vì tức giận.

- Cậu nghe rõ rồi đấy chứ? - Foma quay sang với Obnoskin, vẻ đắc thắng. - Cậu sẽ còn được nghe nữa đấy! Tôi sửa soạn kiểm tra nó đây. Cậu biết không, Paven Semionits, có những người đang muốn làm hư hỏng, bại hoại thằng bé ngu ngốc, đáng thương này. Cũng có thể là tôi quá khắt khe, cũng có thể tôi sai; nhưng tôi lên tiếng vì tình thương yêu đồng loại. Nó vừa nhảy một điệu vũ đồi bại nhất. Không một ai ở đây liên quan gì đến việc này. Nhưng các vị hãy lắng nghe cho rõ. Mày trả lời đi: mày vừa làm gì? Trả lời mau, mau lên! Nghe rõ chứ?

- Khi-i-iêu vu-u-ũ... - Falalei nói, càng nấc to hơn.

- Khiêu vũ điệu gì? Vũ điệu gì? Nói!

- Komarin...

- Điệu Komarin! Komarin là ai vậy? Komarin là cái gì? Trả lời như thế mà tao hiểu được à? Nào, hãy nói cho chúng ta biết qua: cái thằng Komarin của mày là ai nào?

- Gã mu-u-gic...

- Gã mugic! chỉ đơn giản là gã mugic thôi sao? Tao lấy làm lạ đấy! Phải là một gã mugic thế nào chứ! Phải là một gã mugic tiếng tăm lừng lẫy ra sao người ta mới phải làm thơ, chế ra vũ điệu để ca ngợi chứ? Nào, trả lời đi!

Làm tình là tội người khác vốn là một nhu cầu của Foma. Y quần thảo nạn nhân như mèo vờn chuột; nhưng Falalei vẫn câm như hến, chỉ thúc thít khóc vì không hiểu câu hỏi.

- Trả lời đi chứ! - Foma gặng, - người ta đang hỏi mày: gã mugic ấy là ai? Nói đi chứ... một tá điền ư, một nông dân nhà nước ư, một nông dân tự do, một nông nô đã chuộc được người nhưng vẫn nợ tiền đất, một nông dân làm khoán ruộng nhà thờ[2]? Thiếu gì loại mugic...

- Ru-u-uộng nha-a-à thơ-ơ-ờ...

- Ồ, làm khoán! Cậu nghe thấy đấy chứ, Paven Semionits? Một sự kiện lịch sử mới: gã mugic xứ Komarin là một nông dân làm khoán. Hừm!.. Được, vậy gã mugic làm khoán ấy đã làm được những gì? công tích ra sao mà người ta phải múa hát, ca ngợi gã.

Một vấn đề không đơn giản, và như vậy đối với Falalei lại càng hiểm hóc.

- Ồ, thưa ông... tuy thế... - Obnoskin định góp ý khi thấy mẹ bắt đầu ngọ nguậy trên đi-văng. Nhưng biết làm gì được bây giờ? Những ý muốn thất thường của Foma Fomits vẫn được coi là pháp lệnh.

- Thưa chú, con xin lỗi, nếu chú không đánh tháo cho thằng bé ngốc nghếch này thì con e rằng nó... Chú nghe nó ăn nói dấm dớ đến mức độ nào rồi đấy chứ? Falalei thế nào rồi cũng phụt ra câu ngớ ngẩn, con đoan chắc với chú... - tôi rỉ tai ông chú lúc này cũng đang trong thế bí!

- Mà này, tuy thế, Foma ạ... - ông cất tiếng, - xin giới thiệu với ông, Foma ạ, đây là cháu tôi, một chàng trai, cậu ấy đã nghiên cứu khoáng vật học đấy...

- Tôi xin ngài, thưa đại tá, xin ngài đừng ngắt lời tôi bằng cái môn khoáng vật học của ngài, mà theo chỗ tôi được biết, thì ngài cũng chẳng biết gì về nó, và có thể, cả các môn khác nữa. Tôi không phải là đứa trẻ con. Nó phải trả lời tôi rằng đáng lẽ phải chịu khó làm ăn để vun đắp cho cuộc sống gia đình thì gã mugic đó lại rượu chè be bét, uống mất cả áo lông trong quán rượu rồi chạy liêu xiêu ngật ngưỡng ngoài đường. Mọi người đều biết đó chính là nội dung của toàn bộ bản trường ca ca ngợi cái thú say mèm, say quắc cần câu. Ngài đừng lo, giờ đây nó đã biết phải trả lời thế nào rồi. Nào, mày trả lời đi: gã mugic ấy đã làm gì? Tao đã gà cho mày, đã mớm cho mày rồi đấy. Tao muốn nghe chính mồm mày nói là gã đã làm gì, đã nổi danh vì sự tích gì, có công tích gì xứng đáng với ánh vinh quang bất tử khiến cho bọn hát rong phải hát hò ca ngợi? Sao?

Thằng Falalei bất hạnh rầu rĩ đưa mắt nhìn quanh, thực tình không biết nói sao, cứ há mồm ra lại ngậm mồm vào, ngáp ngáp như con cá giếc bị hất lên bờ ruộng.

- Ngư-ư-ượng mô-ô-ồm! - cuối cùng nó lúng búng trong mồm như sắp chết.

- À ra thế! ngượng mồm! - Foma chộp ngay lấy câu nói, vẻ đắc chí. - Đấy, tôi đã có được câu trả lời như vậy đấy, thưa đại tá! Ngượng nói nhưng không ngượng làm ư? Đấy, hạt giống đạo đức ngài gieo đã nẩy mầm rồi, bây giờ ngài chỉ việc... tưới tắm nữa mà thôi. Nhưng không việc phải phí lời thêm nữa! Cút ngay xuống bếp, Falalei! Bây giờ ta sẽ không nói gì với mày nữa vì phải tôn trọng mọi người; nhưng ngay hôm nay, ngay hôm nay mày sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc và đau đớn. Nếu không thế thì ngay lần này, ta và mày sẽ thế chỗ cho nhau, mày sẽ ở lại để làm đẹp lòng các ông lớn của mày bằng điệu vũ Komarin, còn ta sẽ ra khỏi cái nhà này ngay trong hôm nay! Đủ rồi đấy! Ta đã nói xong! Bước!

- Kìa ông, hình như... nghiêm khắc quá... - Obnoskin cất giọng lè nhè.

- Chính thế, chính thế, chính thế. - chú tôi hét lên, vẻ rất hăng hái nhưng lại bỏ lửng, chẳng nói gì thêm. Foma liếc nhìn ông với vẻ rầu rầu.

- Tôi lấy làm lạ đấy, Paven Semionits ạ, - y nói tiếp, - không hiểu rồi sau đó, tất cả những nhà hoạt động văn học, các nhà thơ, các học giả, các nhà tư tưởng thời nay làm những việc gì? Sao họ lại không hề để ý đến việc nhân dân Nga hát những bài hát gì; nhảy múa theo những lời ca tiếng hát nào? Tất cả những Pushkin, Lermontov, Borozdny, ấy cho đến tận bây giờ đã làm được những gì? Tôi lấy làm lạ đấy! Nhân dân cứ việc nhảy múa điệu Komarin, cái vũ khúc tán dương cái thú rượu chè, còn họ thì chỉ để hồn vào những đóa lưu li[3]. Tại sao họ chẳng bao giờ viết được những bài ca sáng giá hơn về đức hạnh cho nhân dân múa hát và vứt vào sọt rác cái mớ hoa lưu li của mình đi nhỉ? Cả một vấn đề xã hội! Mong họ hãy xây dựng cho tôi hình tượng một chàng mugic, nhưng là một chàng mugic cao quý, một thôn dân khác lạ, vượt lên trên mức thông thường. Mong họ hãy xây dựng cho tôi hình tượng bậc đại hiền nơi thôn dã, chân chỉ mang giày cỏ bện thôi nhưng sáng ngời đức hạnh khiến tôi dám nói rằng ngay đến Aleksandr Makedonski[4] quá lẫy lừng cũng không khỏi có chút ghen tị. Tôi hiểu nước Nga và nước Nga cũng hiểu tôi[5] nên tôi mới nói năng như vậy. Mong họ hãy xây dựng hình tượng một gã mugic có thể còn nặng gánh gia đình, bạc tóc vì lo nghĩ, còn phải chui rúc trong căn nhà ngột ngạt, còn đói cơm rách áo nhưng lòng dạ thảnh thơi, cam phận nghèo hèn, thờ ơ với lầu son gác tía đến nỗi chính người giàu sẽ động lòng trắc ẩn mà tự đem vàng đến đặt vào tay; vậy là đức hạnh của gã mugic sẽ gắn liền với đức hạnh của nhà điền chủ và có thể còn của bậc đại thần nữa ấy chứ. Gã nhà quê với bậc đại thần, những người có địa vị xã hội cách biệt nhau là thế, cuối cùng lại gắn kết với nhau về đạo đức - đúng là một ý tưởng cao đẹp! Vậy mà chúng ta đang chứng kiến những gì? Một đằng là những đóa lưu li mỏng mảnh, một đằng là một thằng say lem thuộm vọt ra khỏi quán rượu mà chạy lông nhông trên phố! Nào, xin cậu cho biết, có gì là thơ mộng ở đây không? Có gì đáng chiêm ngưỡng không đây? Trí tuệ ở đâu? Vẻ kiều diễm ở đâu? Phẩm giá đâu rồi? Tôi nghĩ không ra!

- Tôi nợ ông một trăm rup đấy, nói hay quá! - Ejevikin ngỏ lời thán phục.

- Có mà ăn cái dải rút của thằng này, - lão rỉ tai tôi. - Tâng bốc vào đi!

- Vâng, đúng... ông diễn đạt tài tình lắm, - Obnoskin lè nhè.

- Chính thế, chính thế, chính thế! - chú tôi reo lên sau khi lắng nghe cực kỳ chăm chú và đưa mắt hoan hỉ nhìn tôi.

- Một đề tài quan trọng đã được xới lên! - ông vừa nói vừa xoa tay, giọng khẽ khàng. - Một vấn đề nhiều mặt, ghê gớm thật! Foma Fomits này, đây là cháu tôi, - ông nói thêm lúc đang vui, đang dạt dào cảm xúc. - Cu cậu cũng đã nghiên cứu văn học đấy, tôi xin giới thiệu.

Vẫn như trước, Foma Fomits không thèm đếm xỉa đến lời giới thiệu của chú tôi.

- Lạy Chúa, chú đừng giới thiệu con nữa! con nói nghiêm túc đấy, - tôi nói thầm vào tai chú, giọng cương quyết.

- Ivan Ivanits! - Foma bỗng quay về phía Mizintsikov, chăm chú nhìn anh ta và cất tiếng gọi, - chúng tôi đã nói cả rồi, ý kiến cậu thế nào?

- Tôi ư? Ông hỏi tôi ư? - anh ta ngơ ngác hỏi lại như người đang ngủ bị đánh thức.

- Vâng, tôi hỏi cậu mà. Tôi hỏi cậu vì tôi tôn trọng ý kiến của những người thực sự thông minh chứ không phải của bọn thông thái rởm chỉ thông minh do được liên tục giới thiệu là thông minh, là trí thức, bọn này có khi còn chạy vạy để được lăng-xê bằng được ấy, đại khái thế.

Câu nói này rõ ràng muốn ám chỉ tôi. Và dù ra bộ không thèm để ý đến tôi, Foma Fomits vẫn dành toàn bộ câu chuyện về văn học cho một mình tôi với mục đích tung hỏa mù và đập tan thanh thế một trí thức Peterburg ngay từ đầu. Tôi tin chắc là như vậy.

- Nếu ông muốn biết ý kiến của tôi thì... tôi đồng ý với ý kiến của ông, - Mizintsikov trả lời uể oải và miễn cưỡng.

- Cậu hoàn toàn nhất trí với tôi! nghe phát ngấy lên được, - Foma nhận xét. - Nói thực lòng với cậu, Paven Semionits ạ, - sau một lúc im lặng, y lại quay sang với Obnoskin, - nói đến những trước tác tôi công nhận là bất hủ của Karamzin[6] thì đó không phải là lịch sử, không phải là “Marfa Posanisa”, không phải là “Nước Nga xưa và nay”, mà chính là “Frol Silin”: đúng là một sử thi siêu việt! Tác phẩm đó mang đậm tính nhân dân và sẽ sống mãi với thời gian! Một sử thi siêu việt miễn bàn!

- Chính thế, chính thế, chính thế! Một tử thi siêu việt! Frol Silin, một con người đức độ! Tôi vẫn nhớ, tôi đọc rồi mà; ông ấy còn phải chuộc hai cô gái nữa, nhưng về sau đã ngước nhìn trời mà khóc. Một tấm lòng cao thượng, - chú tôi phụ họa, mặt mày hớn hở.

Tội nghiệp chú tôi! Ông không tự kiềm chế được, cứ lanh chanh góp chuyện với cánh trí thức. Foma mỉm cười cay độc, nhưng vẫn làm thinh.

- Tuy nhiên, ngay cả bây giờ người ta vẫn viết hay đấy chứ, - Anfisa Petrovna thận trọng xen vào. - Đấy, “Những bí mật thành Brussel”[7] chẳng hạn.

- Tôi không nghĩ thế đâu ạ, - Foma nhận xét, có vẻ lấy làm tiếc. - Tôi mới được đọc một trường ca... Phải rồi! “Những đóa lưu li”! Và nếu các vị muốn thì trong số những tác phẩm gần đây nhất, tôi thích “Người trao đổi thư từ[8]” hơn cả, văn phong thanh thoát lắm!

- “Người trao đổi thư từ”! - Anfisa Petrovna reo lên, - đó là cái anh chuyên viết thư cho tạp chí chứ gì? Ô, tuyệt tác! chơi chữ rất hay!

- Chính thế, chơi chữ đấy. Rất uyển chuyển, văn phong thanh thoát lạ thường!

- Vâng, nhưng đúng là một anh thông thái rởm, - Obnoskin nhận xét với vẻ ngạo mạn.

- Thông thái rởm, thông thái rởm - tôi công nhận, - nhưng là một anh thông thái rởm đáng yêu, có duyên! Tất nhiên không một ý tưởng nào của anh ta có thể đứng vững trước lý lẽ phê bình xác đáng; nhưng độc giả vẫn bị cuốn hút bởi một giọng điệu thanh thoát! Bảo đó là một kẻ ba hoa trên trời dưới biển thì tôi cũng nhất trí thôi; nhưng ba hoa đấy mà vẫn đáng yêu, mà vẫn có duyên! Các vị còn nhớ chứ, trong một bài nghị luận văn học ông mãnh tuyên bố là mình có những mấy thái ấp cơ đấy?

- Thái ấp ư? - chú tôi có vẻ vui chuyện, - ghê quá! Ở tỉnh nào?

Foma ngừng lời, nhìn chú tôi chằm chằm rồi lại nói tiếp, không đổi giọng.

- Rõ chán, vì trí tuệ anh minh, các vị hãy cho biết: đối với một người đọc sách như tôi thì biết chuyện anh ta có thái ấp để làm gì mới được chứ? Nếu có thì cũng mừng cho anh bạn thôi! Nhưng viết như thế nó đáng yêu, nó dí dỏm lắm! Sắc sảo vào loại bậc thầy ấy chứ! Đấy, viết là phải viết như thế! Tôi có cảm tưởng là tôi cũng sẽ viết y như thế, nếu tôi nhận lời viết cho các tạp chí...

- Còn hay hơn nữa ấy chứ ạ, - Ejevikin nói với vẻ kính cẩn.

- Còn du dương thánh thót nữa kia! - chú tôi phụ họa.

Rút cuộc Foma Fomits đã không còn chịu đựng nổi.

- Thưa đại tá, - y nói, - rất mong ngài lượng thứ cho, nhưng tôi xin được van ngài đừng quấy rầy chúng tôi và để yên cho chúng tôi nói nốt câu chuyện của mình. Ngài không thể góp chuyện với chúng tôi được đâu, không thể! Xin ngài đừng phá bĩnh câu chuyện văn chương lý thú của chúng tôi. Ngài hãy lo việc gia tư điền sản, uống trà, nhưng... hãy để cho văn chương được yên. Văn chương sẽ không vì thế mà thua thiệt, tôi xin đoan chắc với ngài!

Xấc xược càn rở đến thế là cùng! Tôi chưa biết tính sao.

- Thì chính ông cũng vẫn nói về cái chuyện du dương trầm bổng đấy thôi, - chú tôi ngượng ngùng nói chữa, giọng ỉu xìu.

- Đúng thế đấy ạ. Nhưng tôi nói với sự am hiểu vấn đề, nói đúng lúc đúng chỗ; còn ngài thì sao chứ?

- Thưa vâng, thì chúng tôi cũng nói theo hiểu biết của chúng tôi đấy chứ ạ, - Ejevikin đỡ lời, vẫn là để lấy lòng Foma Fomits. - Hiểu biết của chúng tôi còn nông cạn lắm, phải tranh thủ chứ ạ, chẳng lẽ mới nắm được hai bộ trong chính phủ mà đã đủ sao, không, phải nắm tiếp bộ thứ ba nữa chứ, - đấy, cái kiểu của chúng tôi là như thế đấy ạ!

- Đấy, cái lão lại nói chuyện liên thiên rồi! - chú tôi kết luận và nở nụ cười hiền cố hữu của ông.

- Chí ít các vị cũng sẽ hiểu được ý tôi, - Foma phán.

- Không sao, không sao, Foma ạ, ta không cảm thấy bất bình trong chuyện này đâu. Ta biết ông can ngăn ta với tư cách một người bạn, một người anh ruột. Đây chính là việc ta cho phép ông làm, thậm chí còn yêu cầu ông làm. Việc thiết thực đấy, rất thiết thực! Bổ ích cho ta lắm chứ! Ta cảm ơn và xin tiếp thu ngay!

Tôi đã hết kiên nhẫn. Mọi điều tôi nghe được từ trước đến nay về Foma Fomits tôi đều có cảm tưởng là có phần phóng đại. Giờ đây khi đã tận mắt chứng kiến mọi điều tôi mới ngả ngửa ra vì quá lạ lùng. Tôi không tin vào chính mình nữa; tôi không sao hiểu được sự láo xược đến thế, cách hành xử độc tài ngang ngược đến thế - là một mặt, mặt khác là sự luồn cúi tự nguyện lạ lùng đến thế, sự nhẹ dạ cả tin kỳ cục đến thế. Tuy nhiên, ngay cả chú tôi cũng đã tỏ ra bối rối trước sự ngông nghênh quá quắt. Rõ ràng là như vậy... Lòng tôi đang bừng bừng khát vọng được cà khịa với Foma, tranh cãi với y, sỉ vả y cho hả giận, muốn ra sao thì ra! Ý định này cứ hối thúc tôi. Trong lúc loay hoay tìm cách mở màn trận chiến, tôi đã làm gẫy hết cái vành mũ. Nhưng chẳng có cớ gì để gây hấn cả. Foma tuyệt nhiên không để ý gì đến tôi.

- Ông nói thẳng thắn đấy, Foma ạ, - chú tôi nói tiếp, ra sức lấy lòng bằng được ông bạn quý và xuê xoa cho hết chỗ bực bõ vừa rồi. - Ông nói thế là nói thẳng đấy, Foma ạ, ta xin đa tạ. Phải nắm vững vấn đề đã rồi hãy nói chuyện bàn đến nó. Ta công nhận. Ta cũng đã mấy lần rơi vào tình thế nan giải đấy. Serioja này, con hãy tưởng tượng xem, chú cũng đã có bận đi chấm thi rồi đấy nhé... Các vị lại đùa rồi! Chả phải thế đâu, thủ trưởng cứ đi đi! Lạy Chúa, thế mà rồi chú cũng chấm xong chứ lị. Số là người ta mời mình đi khảo hạch thí sinh ở một học viện, xếp mình ngồi cùng với các thành viên ban giám khảo, chả là lúc bấy giờ ban này đang khuyết một chân, người ta mới rước mình sang. Thú thật với con chứ lúc bấy giờ chú mới hoảng chứ: chú có nắm được cái môn khỉ gió nào đâu! Tiến thoái lưỡng nan! Bụng thì cứ lo ngay ngáy, chúng nó mà gò lên bảng thì có mà ê cái mặt ra! Ồ, thế mà rồi trót lọt hết cả; thậm chí chú còn tự ý nêu câu hỏi nữa chứ, chú hỏi: Noe[9] là ai? Nói chung thí sinh đã trả lời đâu ra đấy; thế là bọn chú đi ăn sáng và uống sâm-banh mừng thắng lợi. Một học viện tuyệt vời!

Foma Fomits và Obnoskin cười rũ ra với nhau.

- Mà rồi chính ta sau đó cũng không nhịn được cười, - chú tôi vừa nói rất to vừa phá lên cười hiền hậu, lấy làm sung sướng khi thấy mọi người vui vẻ hẳn lên. - Thôi được, Foma này, chuyện ấy cho qua! Bây giờ để ta kể cho mọi người nghe chuyện này mới thấy thú: đó là cái lần ta bị hố... Serioja này, con hãy hình dung lúc bấy giờ bọn chú đang có mặt ở Krasnogorsk...

- Xin được hỏi ngài, thưa đại tá: ngài kể chuyện này có lâu không ạ? - Foma ngắt lời.

- Kìa, Foma! Đã bảo là chuyện tuyệt hay mà; có mà cười vỡ bụng. Ông cứ nghe xem: hay thật mà, lạy Chúa, rất hay. Ta sẽ kể câu chuyện ta đã bị hố như thế nào.

- Tôi lúc nào cũng khoái nghe loại chuyện này của ngài, - Obnoskin vừa nói vừa ngáp.

- Biết làm sao được, phải nghe thôi, - Foma quyết định.

- Thế là phải, lạy Chúa, sẽ tốt cả thôi, Foma ạ. Tôi đang muốn kể câu chuyện có lần tôi đã bị hố đấy, Anfisa Petrovna ạ. Con cũng phải nghe đấy, Serjei ạ: đây thậm chí còn là một bài học đường đời nữa. Bọn tôi đang có mặt ở Krasnogorsk (chú tôi bắt đầu, mặt mày hớn hở, giọng liến thoắng, vẻ vội vã, với vô số những câu mào đầu ông vẫn luôn luôn dùng đến khi mở đầu một câu chuyện nào đó mà ông đang muốn kể để góp vui với mọi người). Ngay tối hôm mới đến, tôi đã đi xem kịch. Nữ diễn viên sáng giá nhất là Kuropatkina; về sau nàng này còn bỏ dở một vở kịch đang diễn để chạy theo một trung úy kỵ binh có họ là Zverkov, buộc sân khấu phải hạ màn. Thì ra Zverkov là một tay đại bịp, rượu chè cờ bạc đủ trò, và không chỉ là sâu rượu mà còn lê la đàn đúm suốt ngày. Hắn mà đã nốc đẫy vào là quên hết, không nhớ là mình đang sống ở đâu, ở quốc gia nào, tên là gì, - tóm lại là quên tiệt; nhưng thực chất là một anh chàng rất tốt... Vàng đấy, tôi đang ngồi trong nhà hát. Đến giờ giải lao tôi đứng lên thì bắt gặp một đồng đội cũ, anh bạn Kornoukov... Nói thật với các vị chứ đúng là một anh chàng có một không hai. Đã sáu năm chúng tôi chưa gặp lại nhau. Chúng tôi vốn là bạn trong nhóm chơi thân, quý lắm. Hồi này tôi cũng mới nghe đồn rằng anh ấy đã là một quan chức có cỡ; anh ấy đã chuyển sang ngạch dân sự, thăng tiến rất nhanh... Gặp nhau thế này, tất nhiên là mừng rỡ quá. Thôi thì mặc sức hàn huyên. Ngồi cạnh chúng tôi trên ghế lô có ba người phụ nữ, bên trái là một ả xấu điên xấu đảo... Về sau tôi mới biết đó là một người phụ nữ tuyệt vời, một người mẹ đông con, một người vợ hiền thục... Vậy mà lúc đó tôi lại cứ như một thằng ngu, hất hàm hỏi Kornoukov: “Này, người anh em, cậu có biết cái con bù nhìn dọa chim kia là ai không?” - “Người nào cơ?” - “Cái ả kia kìa.” - “Bà chị họ tôi đấy”. Ối giời đất ơi! Các vị cứ nghĩ mà xem cái tình cảnh của tôi lúc bấy giờ! Tôi nói chữa luôn: “Không, không phải bà ấy. Mắt quáng thế hở ông! Cái cô ngồi kia kìa, ai đấy?” - “Em gái tôi đấy”. Thế có chết không! Nhưng em gái anh bạn lại là một cô nàng xinh như mộng, diện ngất trời: những là đồ nữ trang cài áo, găng tay, xuyến, vòng các kiểu, - tóm lại cô ta ngồi đó như một đóa hoa tươi thắm; về sau cô ta đã lấy một chàng trai trên cả tuyệt vời, cậu Piktin đấy; cô ta theo không anh chàng, hai đứa tự ý đi làm phép cưới với nhau; vậy mà đến nay cũng đâu vào đấy cả: vợ chồng sống sung túc; hai ông bố vui mừng nở ruột nở gan!... Thế đấy các vị ạ. “Ồ không! - tôi rú lên, ngượng quá độn thổ, - không phải cô ấy!” - “Thế thì người ngồi giữa chứ gì?” “Phải, người ngồi giữa”. - “Vợ tôi đấy, người anh em ạ”... Giữa chúng tôi là tình bạn keo sơn chứ đâu phải một người phụ nữ! Giá mà tôi có thể nuốt chửng chị ta một cách ngon lành... “Trời đất ơi, tôi nói, cậu đã bao giờ được thấy một thằng ngu chưa hở cậu? Hắn đang đứng trước mặt cậu đây này, đầu hắn đây thôi: cậu hãy chém phăng đi, đừng thương tiếc!” Anh ấy chỉ cười. Xem xong kịch anh ấy giới thiệu tôi với mọi người, chắc là cũng kể hết chuyện vừa rồi, cái gã tinh nghịch ấy. Mọi người cười như nắc nẻ! Xin thú thật là tôi cũng chưa có dịp nào vui đến thế. Đấy, Foma, người anh em ạ, thỉnh thoảng cũng có thể bị hố như thế đấy! Ha-ha-ha-ha!

Nhưng ông chú tội nghiệp của tôi đã cười một cách vô duyên; ông hoài công đưa ánh mắt vui vẻ và hiền hậu nhìn khắp xung quanh; một sự im lặng chết chóc đã là câu trả lời cho câu chuyện vui nhộn của ông. Foma Fomits ngồi im, mặt ỉu xìu, mọi người thấy vậy cũng ngồi im; riêng Obnoskin cứ tủm tỉm cười một mình như đã biết trước là thế nào mọi người cũng tẩy chay ông. Chú tôi tỏ ra ngượng ngùng, mặt đỏ nhừ. Đó chính là điều Foma mong muốn.

- Ngài kể xong chưa? - cuối cùng, với vẻ quan trọng, y cất tiếng hỏi người kể chuyện lúc này vẫn chưa hết ngượng.

- Xong rồi, Foma ạ.

- Và ngài vui sướng chứ?

- Vui sướng thế nào cơ, hở Foma? - ông chú tội nghiệp của tôi trả lời với vẻ tiu nghỉu.

- Bây giờ ngài có thấy nhẹ nhõm hơn không? Ngài có thấy hài lòng vì đã làm hỏng được cuộc chuyện trò lý thú về văn chương của bạn bè bằng cách ngắt lời họ để thỏa mãn chút tự ái nhỏ nhen của mình không?

- Đủ rồi đấy, Foma ạ! Ta những muốn làm cho cả nhà vui vẻ lên một chút, vậy mà ông...

- Làm cho vui vẻ ư? - Foma quát, bất đồ nổi cơn lôi đình thịnh nộ, - nhưng ngài chỉ có thể làm người ta ngán đến mang tai, chứ có gì là vui vẻ. Làm cho vui vẻ! Nhưng ngài có biết là câu chuyện của ngài rất giống một câu chuyện đồi bại, trái với luân thường đạo lý hay không? Tôi không còn bảo là nó khiếm nhã nữa, điều đó quá rõ rồi... Với thái độ thô bỉ hiếm có, ngài vừa cho biết là ngài đã giễu cợt sự trong trắng, giễu cợt một quý bà thanh cao chỉ vì người ta không được vừa mắt ngài. Và ngài muốn ép chúng tôi cũng phải cười, có nghĩa là a dua, đồng lõa với ngài trong một hành vi lỗ mãng, và tất cả chỉ vì ngài là chủ cái nhà này! Thưa đại tá, ngài có thể tùy ý tuyển chọn cho mình những kẻ ăn bám, xu nịnh, hợp tình, hợp ý, thậm chí có thể đặt mua người từ những nước phương xa để tăng cường lực lượng tay chân nhằm hãm hại những tấm lòng ngay thẳng và khảng khái; nhưng Foma Opiskin sẽ không bao giờ có thể trở thành một đứa bợ đỡ, liếm gót, ăn bám của ngài! Chuyện gì khác thì không biết, riêng chuyện này tôi xin đoan chắc với ngài!...

- Kìa, Foma! ông chưa hiểu tôi, Foma ạ!

- Không, thưa đại tá, tôi đã hiểu thấu đáo từ lâu, tôi hiểu ngài tường tận! Lòng tự ái vô biên luôn cắn rứt ngài; lúc nào ngài cũng muốn tỏ ra sắc sảo nhưng đó là điều ngài không thể có, ngài quên rằng sự sắc sảo đâu phải cứ muốn là xuất hiện được đâu. Ngài...

- Thôi đủ rồi, Foma, lạy Chúa! Phải biết ngượng với mọi người chứ!...

- Phải chứng kiến tất cả những điều đó thì thật đáng buồn, thưa đại tá, nhưng đã thấy thì không thể không nói được. Tôi là kẻ nghèo hèn, tôi phải nương bóng thân mẫu của ngài. Biết đâu người ta còn tưởng tôi là đứa nịnh thần, suốt ngày ngậm miệng ăn tiền: có điều tôi không muốn bất cứ một đứa miệng còn hoi sữa nào dám coi tôi là kẻ ăn bám của ngài. Có thể là vừa rồi, ngay lúc mới sang đây, tôi đã tỏ ra quá ngay thẳng, thậm chí còn thô lỗ nữa, chính vì ngài đã đẩy tôi đến cái nước ấy. Ngài quá ngạo mạn với tôi mà, thưa đại tá. Mọi người có thể coi tôi là đứa nô lệ của ngài, là kẻ được ngài cưu mang bao bọc. Nhưng một khi ngài muốn hạ thấp tôi trước mặt người ngoài thì tôi phải là người ngang hàng, người bằng vai với ngài về mọi mặt, ngài nghe rõ chứ? Có khả năng việc tôi sống với gia đình ngài là chuyện ngài mắc nợ tôi, chứ không phải tôi mắc nợ ngài. Người ta dìm tôi xuống thì tôi phải tự cất cao đầu - đó là lẽ đương nhiên! Tôi không thể không nói, tôi cần phải nói, phải phản kháng tức thì và do đó tôi xin tuyên bố thẳng tuột ra với ngài rằng ngài là một kẻ chúa hay ghen tị! Ngài thấy chứ, chẳng hạn như khi thấy ai đó, trong câu chuyện thân tình cởi mở, vô tình đưa ra những nhận thức, sở thích, nói lên sự uyên bác của mình là ngài cảm thấy bực bội, rồi ngài cũng lanh chanh: “Để yên, ta cũng sẽ nói lên nhận thức, sở thích của mình đây!” Nhưng sở thích của ngài ra sao, ngài cho phép nói thật chứ? Xin lỗi đại tá, tầm tư duy của ngài giỏi lắm cũng chỉ đạt tới mức thấy được con bò trong miếng thịt bò thôi! Nói như thế là gay gắt, là thô lỗ, tôi biết chứ, nhưng chí ít cũng là nói thẳng nói thật. Những lời như vậy ngài sẽ không bao giờ nghe thấy từ miệng đám nịnh thần của ngài đâu, thưa đại tá.

- Kìa, Foma!...

- Lại “kìa Foma” rồi! Rõ ràng sự thật không khi nào dễ lọt tai. Thôi được, chúng ta sẽ còn trở lại chuyện này, còn bây giờ cho tôi được góp vui một chút. Không phải chỉ có ngài là đặc biệt đâu. Paven Semionovits! Cậu đã nhìn thấy con thủy quái đội lốt người ấy chưa? Tôi đã quan sát nó từ lâu. Cậu nhìn kỹ nó xem: nó đang định xơi tái tôi đấy! Câu chuyện chuyển sang Gavrila.

Người lão bộc đang đứng cạnh cửa ra vào, đưa mắt chăm chú nhìn ông lớn với vẻ đau đớn khổ sở, chờ đợi những lời quở trách.

- Tôi có một vở hài kịch muốn đem ra cù cả cậu nữa đấy, Paven Semionits ạ. - Ê, cái lão ngơ ngơ kia, lại đây! Làm ơn đứng gần vào đây, Gavrila Ignatiits! - Đấy, cậu thấy chưa, hở Paven Semionits, Gavrila đấy; lão can tội hỗn láo nên đang phải học thổ ngữ Pháp để đền tội đấy. Giống như Orfei, bây giờ tôi nói giọng rất nhẹ, không phải là hát, mà là tiếng địa phương của Pháp. - Ê, ông bạn người Pháp, mơ-si-ơ sô-mơ[10], ông ấy không chịu nổi khi bị gọi là mơ-si-ơ sô-mơ đấy, - lão có hiểu bài không?

- Tôi thuộc rồi, - Gavril đáp, mặt xị ra.

- Pac-lê-vu-frăng-xe[11]?

- Uy, mơ-si-ơ, giơ-lơ-pac-oong-pơ...[12]

Tôi không biết là tại bộ dạng rầu rĩ của Gavrila khi phát âm hay do mọi người đã đoán được ý định cù khán giả của Foma, nhưng Gavrila vừa chớm máy môi là tất cả đã phá lên cười ngặt nghẽo. Thậm chí tướng quân phu nhân cũng bật cười. Anfisa Petrovna ngả người lên lưng ghế đi-văng cười ré lên, đưa quạt che mồm. Buồn cười nhất là Gavrila khi thấy buổi kiểm tra đã biến thành trò nhí nhố thì cáu kỉnh nhổ bọt và buông sõng một câu: “Già đời mới biết thế nào là nhục!”

Foma Fomits giật mình.

- Cái gì cơ? Lão nói gì? Định nói láo hả?

- Chả phải thế đâu, Foma Fomits ạ, - Gavrila trả lời dõng dạc, - tôi không nói láo và lẽ nào một thằng đầy tớ như tôi lại dám tính chuyện hỗn láo với ông, một ông lớn bẩm sinh. Nhưng ở đời không ai là không mang hình bóng Chúa trên người, cả bên ngoài lẫn bên trong. Tôi năm nay đã sáu mươi ba tuổi. Bố tôi khắc sâu thù hận với tên ác ôn Pugatsiov[13] vì ông tôi cùng với ông lớn Matvei Nikitiits, - cầu Chúa cho họ được yên nghỉ trên thiên đường - bị hắn treo cổ trên cùng một cây dương, vì vậy bố tôi được mồ ma ông lớn Afanaxii Matveits ưu ái hơn người, cất nhắc lên làm sĩ quan chỉ huy và cuối đời là quản gia của ngài. Còn tôi, thưa ông, tuy chỉ là phận tôi đòi của quý vị, song từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa từng được thấy nỗi nhục nào như nỗi nhục hôm nay!

Cùng với hai tiếng cuối, Gavrila dang hai tay và khẽ nghiêng đầu. Chú tôi dõi theo lão với vẻ lo lắng.

- Thôi, đủ rồi, đủ rồi, Gavrila! - ông quát, - không phải dài dòng vô ích, đủ rồi!

- Không sao, không sao, - Foma bỗng có phần thất sắc nhưng vẫn cười khẩy. - Cứ để cho lão nói; mọi thứ đều là thành quả của ngài mà...

- Tôi sẽ kể hết, - Gavrila nói tiếp, sôi nổi hẳn lên, - không giữ kín điều gì nữa! Trói tay chứ trói thế nào được lưỡi! Thế này, Foma Fomits ạ, đối với ông thì tôi là đứa mạt hạng, nói cho nhanh là một tên nô lệ, vậy mà ông còn sỉ nhục tôi! Việc của tôi là phải luôn luôn hầu hạ và luồn cúi ông. Cái số sinh ra đã là nô lệ thì bất cứ việc gì được sai bảo cũng phải lo sốt vó mà làm. Ông ngồi viết sách thì tôi phải ngồi canh không cho người vào quấy quả, có thế mới gọi là tròn phận sự. Bất cứ việc gì cần tôi cũng sẵn lòng hầu hạ đến nơi đến chốn. Nhưng bây giờ bảo cái thằng già há mõm ra mà sủa cái thứ tiếng đâu đâu trước mặt mọi người thì than ôi nhục quá! Bây giờ tôi còn không dám đến chỗ đông người nữa cơ. “A, ông người Pháp! Ông người Pháp!” - Chúng nó ồ cả lên. Không, thưa ông, Foma Fomits ạ, không phải riêng mình tôi, một thằng ngu, mà đến cả những người tử tế cũng đã bắt đầu nói như nhau rằng ông đã trở thành một kẻ tàn bạo, rằng đối với ông thì ông lớn của chúng tôi cũng chỉ là một đứa trẻ con; họ bảo rằng ông tuy là con giòng cháu giống và là con trai một thầy tu dòng Tên và chính ông cũng suýt trở thành một giáo sĩ dòng Tên nhưng tàn bạo thì thật chẳng khác nào một con ác quỷ.

Gavrila kết thúc. Tôi thấy hởi lòng hởi dạ biết bao. Foma Fomits ngồi tái mặt vì tức giận giữa một cảnh huống rối ren nhiều mặt và dường như còn chưa thể định thần được trước sự tấn công bất ngờ của Gavrila: dường như ngay lúc đó y vẫn còn băn khoăn chưa biết nên phản ứng tới mức nào. Cuối cùng thì tiếng nổ tiếp theo đã vang lên.

- Thế đấy! lão dám đả kích tôi cơ đấy! chính tôi cơ đấy! làm loạn đấy! - Foma rít lên và rời ghế đứng phắt lên.

Tướng quân phu nhân cũng bật lên theo và vung tay ngạc nhiên. Cảnh náo loạn bắt đầu. Chú tôi lao ra đánh đuổi kẻ tội đồ Gavrila.

- Cùm lão ta lại, cùm lại! - tướng quân phu nhân quát. - Đưa lão ra thành phố và tống vào trại lính ngay tức khắc, Egoruska! Không thì đừng trách ta không cầu phúc cho anh đấy. Gông cổ lão lại và tống vào trại lính ngay tức khắc!

- Thế đấy, - Foma quát, - đồ hèn mạt! đồ khốn nạn! quân láo xược! lão dám đả kích tôi cơ đấy! Lão, lão, cái giẻ lau giày của tôi đấy! Lão dám gọi tôi là con ác quỷ cơ đấy!

Tôi bước lên phía trước với vẻ cực kỳ cương quyết.

- Tôi xin thú thật rằng trong trường hợp này tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Gavrila, - tôi vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt Foma Fomits và run lên vì tức giận.

Y tỏ ra sửng sốt trước thái độ của tôi đến nỗi thoạt tiên dường như không tin ở tai mình.

- Có chuyện gì nữa đây? - cuối cùng y cũng hét lên, điên cuồng lăn xả vào tôi, giương đôi mắt bé, đỏ ngầu nhìn tôi chằm chặp. - Mày là thằng nào?

- Foma Fomits... - chú tôi cất tiếng trong lúc đang rối ruột rối gan vì mọi nhẽ, - đấy là Serioja, cháu ta...

- Nhà trí thức! - Foma gào lên, - cu cậu là nhà trí thức đấy ư? Libectê-êgalitê - fratecnitê![14] Tạp chí đê đêba![15] Chả phải thế đâu, người anh em ạ, đừng có mà bịp bợm! Không dễ thế đâu! Đây không phải là Peterburg, không lòe nổi ai đâu! Tôi thì nhổ toẹt vào cái đê đêba của cậu! Của cậu là đê đêba thì dịch sang tiếng chúng tôi là “đồ quạ tha”! Nhà trí thức cơ đấy! Đồ ba láp, có mà học trước quên sau chứ trí thức gì!

Nếu mọi người không giữ lại thì có lẽ y đã xông thẳng vào tôi mà đấm đá như điên.

- Ông ấy say rồi, - tôi vừa nói vừa ngơ ngác đưa mắt nhìn quanh.

- Ai? Tôi ư? - Foma hét lên, lạc cả giọng.

- Đúng, ông đấy!

- Tôi say ư?

- Ông say rồi.

Foma không chịu nổi nữa. Y ré lên như đang bị ai đè ra cắt tiết và bỏ chạy ra khỏi phòng. Tướng quân phu nhân hình như đã định quay lơ ra ngất nhưng đã kịp nhận ra rằng thà chạy theo Foma Fomits còn hơn. Mọi người cùng ùa chạy theo người, còn chú tôi chạy theo mọi người. Khi tôi đã định thần được và quay nhìn về phía sau thì thấy trong phòng chỉ còn Ejevikin. Lão mỉm cười và xoa hai tay vào nhau.

- Người ta vừa hẹn nhau là sẽ giải quyết vấn đề về gã thầy tu dòng Tên đấy, - lão nói với giọng thân tình.

- Cái gì cơ? - tôi cứ ngớ ra.

- Người ta vừa hẹn nhau là sẽ thuật lại câu chuyện về gã thầy tu dòng Tên... chuyện khôi hài đấy ạ...

Tôi chạy ra ngoài thềm, rồi từ đó đi thẳng vào vườn. Mụ hết cả đầu...

❀ ❀ ❀

[1] Kiểu dành riêng cho trẻ con (tiếng Pháp).

[2] Các loại nông dân có ở Nga cho đến năm 1861.

[3] Ý nói đến tập thơ xuất bản năm 1852 ở Peterburg “Những đóa lưu li. Hình ảnh những bóng hồng qua những vần thơ Nga huyện diệu” trong đó bên cạnh thơ của Jukovski, Pushkin, Lermontov còn có tác phẩm của các nhà thơ loại 2 như I. P. Borzdny (1803-1858).

[4] Alexandra Macedon: một trong những vị vua triều đại Byzantine (Hy Lạp) (867-1056).

[5] Trích lời nói đầu của tiểu thuyết “Lời thề trước mộ” (1832) của N.A. Polevoi.

[6] Nikolai Mihailovits Karamzin (1766-1826) - nhà văn, nhà viết sử Nga, tác giả bộ “Sử ký” 12 quyển.

[7] Một tiểu thuyết không công bố tên tác giả, xuất bản năm 1847 ở Peterburg, một trong những xuất bản phẩm bắt chước quyển “Những bí mật thành Paris” của E. Su (1804-1857) nhưng dở hơn nhiều.

[8] Ý muốn nói đến “Những bức thư của một bạn đọc ở xa gửi tòa soạn” Người đương thời “về báo chí Nga” của A.B. Druyirin in trong tạp chí này vào hai năm 1849-1850.

[9] Nhân vật huyền thoại gắn liền với trận Đại hồng thủy trong Kinh thánh.

[10] Monsieur chômeur - Ngài thất nghiệp (tiếng Pháp).

[11] Parlez vous Français? - Bạn có nói tiếng Pháp không? (tiếng Pháp)

[12] Oui, monsieur, je le parle un peu - Vâng, thưa ông, tôi nói được vài câu (tiếng Pháp).

[13] Emeliian Ivanovits Pugatsiov (1742-1775), đầu lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân 1773-1775 ở Nga, lừng danh về lòng quả cảm và tài cầm quân, bị mưu phản nên đã bị Sa hoàng xử tử cùng bốn chiến hữu của mình, hai vợ và ba con bị lưu đày chung thân. Mục tiêu của Pugatsiov có phần ngây thơ: xây dựng một vương quốc của nông dân Kazan với người đứng đầu là một “đấng minh quân-mugic”.

[14] Tự do, bình đẳng, bác ái (tiếng Pháp: liberté, égalité, fraternité).

[15] Journal des Débats - Báo Tranh luận (1814-1884) một tờ báo chính trị xuất hiện sau Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.