Sáng nay tôi đi thuyền qua eo Bosphore. Tôi đã ngủ đêm qua trong hậu cung ở Skutari, và trở về nhà ở Stamboul, nơi tôi viết cuốn sách này. Các người chèo thuyền chèo không tiếng động, cơ bắp in vồng căng ống tay áo trắng; chiếc thuyền lướt trên mặt nước thậm chí chẳng gợn sóng.
Mặt trời đã lên cao. Nhưng một giải mây nằm ngang che khuất, ánh ban mai nom nhợt nhạt. Stamboul, giữa bầu trời mờ xỉn và biển màu xám nom giống như một thành phố phương Bắc.
Đột nhiên mặt trời xuyên thủng đám mây. Tôi cảm thấy cái vuốt ve ấm áp trên vai và sau gáy, và biển sáng rỡ lên quanh tôi cứ như có một làn tia nắng trải rộng trên mặt nước và chạy nhanh hơn thuyền tới Stamboul. Bóng râm chạy trốn về phía trước và thành phố phút chốc bị mặt trời chiếm lĩnh. Nom như một phép lạ. Các lâu đài, miếu thờ, nom như ngần ấy sinh vật sống động run rẩy trước ánh mặt trời rực rỡ. Dưới bầu trời xanh, trên các ngọn tháp nhọn, những hình trăng lưỡi liềm bằng đồng lóng lánh như những vì sao trên mặt biển xanh hơn bầu trời, toàn bộ thành phố màu trắng, xanh lá cây và tím soi bóng như một chiếc gương ngọc lam. Và phía trên dải Sừng Vàng đầy ắp thuyền bè, các ngọn đồi thiêng Eyoub, lúc nãy không nom thấy, nổi bật lên nền chân trời với dáng nét cao quý và táo bạo. Nom như một phép lạ:một cảnh phục sinh; một cảnh phục sinh chóng vánh đến mức tôi đâm kinh ngạc và thán phục. Chỉ cần một tia nắng…
Cũng vậy, tình yêu của Sélysette Sylva, chiếu sáng trái tim của Fierce, bắt đầu biến đổi cả đời anh.
Thật ra, Fierce chưa từng sống, vì chưa từng hạnh phúc cũng như chưa từng đau khổ. Anh sống kiểu thản nhiên, vả chăng mục tiền mọi nền văn minh chính là thâu tóm cái công thức thản nhiên kia; và Fierce dân văn minh, đã phó mặc cho tàn lụi đi các bản năng nguyên thủy để sẻn bớt của đời mình tất thảy những gì giống như xúc động; chẳng còn nỗi buồn chẳng còn niềm vui, các thú vui và các nỗi buồn cũng chán tương tự nhau thôi. Chuỗi cảm giác run rẩy của con người chẳng còn thấm vào xương tủy; chỉ có cái run rẩy nhất, mạnh mẽ nhất, niềm run rẩy của tình yêu, mới có thể làm anh xúc động phấn chấn lên.
Một chấn động nhẹ thôi, chắc thế; Fierce, quá thiên về lý trí, hẳn sẽ ít si mê hơn bất cứ một thủy thủ nào trên tàu. Nhưng anh chưa bao giờ cảm thấy bị chấn động, dù nhẹ; và cái chấn động này, do không có cái gì để so sánh, anh cảm thấy là mãnh liệt. Nó làm đảo lộn cái số phận đơn điệu đến lộn mửa của anh, khiến anh ngạc nhiên vui sướng. Anh thích thú với ý nghĩ thật ra không đúng là tình yêu của mình giống như của một chàng trai trẻ rất ngây thơ. Anh quên là mình vốn xưa nay hay tự phân tích tâm lý: lúc này anh sống mà không nhìn mình sống. Với trò chơi mới về này anh học nhấm nháp hương vị cuộc sống; và mặc dù vòm miệng đã khá ráo khô, anh vô cùng thích thú về cái hương vị mới mẻ kia đối với anh.
Anh say sưa biết đến niềm vui tươi trẻ của những hi vọng và ảo tưởng và nỗi lo âu tuyệt vời khiến tắc nghẹn cổ họng khi người yêu xuất hiện. Vả chăng, các ảo tưởng của anh cũng chỉ giản đơn và các hi vọng khiêm tốn: anh chỉ mong muốn nụ cười và tình bạn của Sélysette. Quá nhiều đàn bà, tất thảy bị khinh miệt, đã thay phiên nhau trên giường anh, nên anh coi là đáng ao ước đặt lên đó thần tượng duy nhất của mình.
Khi Fierce đến thăm ngôi biệt thự ở phố Mọi, anh thường rất năng đến và khôn khéo tìm cách để bà Sylva và con gái bà tại nhà – anh đi qua cánh cổng luôn luôn để mở và rẽ vào phía vườn mà không qua nhà. Khoảng bốn giờ chiều trước khi đi dạo, bà Sylva bao giờ cũng ngồi dưới gốc đa ngoài sân hít thở không khí thoáng đãng mà tán lá um tùm vẫn giữ cho mát mẻ. Ở đó bao giờ cũng nom thấy bà mẹ tọa trên cùng chiếc phô tơi bằng mây và cô con gái, người bạn trung thành của bà, ngồi cạnh trò chuyện líu lo hoặc đọc truyện cho bà nghe.
Giờ đây anh là người bạn thân nhất, người được đón chào hết sức vui vẻ và không bao giờ quấy rầy cảnh kề cận êm dịu giữa hai mẹ con. Mọi người dành chỗ cho anh, mời anh đi dạo, hoặc kéo dài cuộc trò chuyện thân mật với anh trong vườn đến tận tối. Anh kể các tin tức, hai mẹ con tâm sự với anh những khó khăn vặt vãnh trong đời sống gia đình; anh tán chuyện với Sélysette kiểu hoa mỹ tình tứ để trêu Sélysette khiến cô thích thú cười vui vẻ đáng yêu. Bà mẹ mù lòa trộn lên mọi cái đó vẻ trang nghiêm hiền dịu và vẻ khoan dung tuyệt vời của những người đàn bà cao tuổi từng chịu nhiều đau khổ, nhưng trái tim tơi tả không hề buồn bực, bao nhiêu tang lễ cùng nhẫn nại khiến cho càng tốt đẹp thanh cao.
Đôi khi đêm xuống bất chợt họ trong vườn,và bà Sylva nắm tay Fierce để trở vào nhà. Người ta thắp đèn, ánh đèn thân mật điểm lên đôi má Sélysette những màu hồng ngọc. Fierce trước khi ra về, yêu cầu cô chơi dương cầm. Cô Sylva không phải là một nghệ sỹ lớn, nhưng giọng cô, chính xác và thôn dã, nghe rung vang trong trẻo cứ như vàng vậy.
Những bài hát cổ, những truyền thống có vần đều gợi nhớ các nhà thơ rong và cảnh sắc quê hương. Fierce, vốn mỉa mai và tính tình bất thường, lắng nghe các bài ca hồn nhiên ấy với niềm xúc động khiến nước mắt rưng rưng.
Khi anh trở về nhà trong đêm, một niềm sầu muộn dâng lên trong lòng, càng trĩu nặng khi anh càng rời xa ngôi nhà thân thiết. Anh cảm thấy đường thật xa và chân mỏi rã rời, đôi khi anh gọi một chiếc xe tay vắng và ngồi thoải mái hơn trong chiếc xe lặng lẽ để mơ mộng, anh tự thú với mình không hổ thẹn là tất cả hạnh phúc của mình bị cầm tù phía sau – nơi kia, cạnh cô gái đáng yêu tuyệt vời đã chiếm mất tim anh. Xa cô, từ nay đời anh sẽ ra sao? Một hành trình không mục đích, chẳng đáng để làm lại từ đầu.
Hai bác thợ màn trướng người Tàu dân Quảng Đông béo tốt với giải đuôi sam đẹp, tất trắng trong giày vải đen đế nỉ, lắng nghe Fierce chỉ dẫn trong gian buồng hẹp tàu Bayard.
- Vứt bỏ màn lụa sáng trên tường; bỏ cả màn nhung; lấy cái này thay vào.
Cái này là thứ vải kếp Trung Quốc mỏng nhẹ, óng ánh màu xanh lá cây, đến từ Thượng Hải. Fierce đã cố công tìm ra cái màu này mà anh nhất thiết muốn phải có.
- … Bọc bình phong với cái kia.
Những ống tay áo loe tháo từ áo dài Tàu cũ: trên giải xa tanh đen hẹp, mười ngàn con bướm thêu chen nhau với những bộ cánh màu xanh da trời, những bộ cánh nhiều dáng vẻ, sắc thái. Trong tiệm buôn ở Chợ Lớn, cô Sylva nom thấy đã kêu lên đầy thán phục.
- Bây giờ làm mất dấu đinh đi; chiều nay xong kịp chứ?
Cái gật đầu,cái cười mỉm trên những gương mặt nhẵn nhụi – kịp thôi mà; từ “không thể” chẳng hề có trong ngôn ngữ buôn bán Trung Quốc. Khéo dây bẩn đấy. Bao nhiêu tiền?
Bàn tính nhanh; câu trao đổi ngắn bằng tiếng Quảng Đông: những cuốn sổ bằng giấy đỏ được rút ra khỏi túi. Ngần ấy đồng. Chẳng có gì phải mặc cả, vì đây là việc giao khoán. Fierce đã quen nên biết rõ.
Anh đồng ý và đi ra. Hoàn toàn vô ích chuyện giám sát một người Tàu đang làm việc. Anh ta làm như đã thỏa thuận, rất chu đáo, thà từ chối tiền công còn hơn là chịu tránh cứ.
Giờ đây cái phòng xám đã đổi thành xanh lá cây – màu mắt Sélysette. Fierce, mãn ý, ngắm nhìn cái màu thân thiết, rồi ngồi lại bàn. Các cuốn sách vẫn để mở ở trang đọc dở; mấy người Tàu tỉ mẩn đã đặt cái nào vào đúng chỗ ấy.
Đó là những cuốn sách chiến thuật, những danh mục đèn hải đăng, những chỉ dẫn hàng hải. Fierce rút từ ngăn kéo khóa kín các đồ án bí mật về dàn pháo và pháo đài. Anh mở bản đồ vùng Đồng Nai và bản đồ sân bay Vũng Tàu.
Đây là một kế hoạch phối hợp phong tỏa. Không phải làm việc theo lệnh trên. Fierce nghiên cứu cho mình, do ý thức lo lắng kèm với tinh thần ái quốc, các phương tiện chắc chắn nhất để bảo vệ Sài Gòn chống một cuộc tấn công của địch.
- Chúng chẳng đổ bộ vào Vũng Tàu đâu, trừ khi điên rồ và sẽ bị trừng phạt nhanh chóng – Anh lẩm nhẩm một mình. Nhưng một cuộc đổ bộ từ phía Tây thì rất có thể; Ừ, thế thì ngay đêm đầu tiên phải bẻ gãy cuộc phong tỏa; bẻ gãy phong tỏa, tất cả là ở đấy. Ta có đủ ngư lôi không ý nhỉ?
Anh ngừng lại, ngừng nhìn. Trên giá sắt dùng làm tủ sách, các cuốn sách, một bộ sưu tập khá phóng đãng, nom lạc lõng trơ trẽn với những gáy sách màu xám. Anh mỉm cười; vào cái thời anh đọc những thứ ấy, sẽ đáng kinh ngạc bao nhiêu nếu có thầy phù thủy nào đó tiên đoán một ngày kia anh sẽ thay thế ông hầu tước Sade[1] bằng ông thiếu tướng hải quân Mahan! Anh ngâm nga:
“Vì tình yêu một cô gái
Một cô gái tóc vàng mắt xanh”
Đó là một bài hát Sélysette thường hát. Anh dừng lại, nghiêm túc:
- … Cái điều hiển nhiên nhất, là mình sẽ chẳng bao giờ xa rời được nàng.
Bà Abel, vợ ông phó toàn quyền, tiếp khách vào các ngày thứ ba, từ sáu đến bảy giờ. Fierce thường đến đều đặn, trước hết vì nghĩa vụ nghề nghiệp – sỹ quan tùy tùng của đô đốc có nhiệm vụ đến thăm vị phó nguyên thủ ở Sài Gòn – và cũng do yêu thích với người đàn bà đáng mến bạn thân bà Sylva. Bà Abel vốn tính thuần hòa hơn là con gái riêng của chồng. Marthe khiến Fierce không thích vì cái vẻ lạnh lùng lịch sự dưới đó luôn luôn giấu kín một ý nghĩ xa lạ, còn bà dì ghẻ, chẳng hề ngốc nghếch hoặc ngây thơ, đối với bạn bè lại tỏ ra tin cậy thậm chí dễ dãi.
Một hôm thứ ba, Fierce xem nhầm giờ và đến quá sớm, đường phố vắng vẻ, xe cộ thường lệ chưa có mặt và anh lính gác Bắc Kì đang gà gật trong chòi canh. Fierce lơ đãng đi qua không chú ý. Dinh ông phó toàn quyền ở Sài Gòn bắt chước một ngôi đền phong cách Đức của Athènes mới: nom xấu xí và giàu có với những cây cột kiểu Corinthe cổ đại. Các chú bồi An Nam ngạc nhiên nhìn anh và để anh vào; một người bản xứ không dám ngăn cản một người châu Âu, ngay cả dưới mái nhà chủ mình; Fierce đi thẳng đến phòng khách; chỉ đến lúc đó, những chiếc ghế phô tơi trống, anh mới nhận ra mình lầm: đồng hồ trên lò sưởi giả chỉ năm giờ kém năm.
- Mình ngốc thật, anh nghĩ. Làm gì bây giờ.
Anh nghĩ chỉ có thể một người bồi sẽ đi báo với bà chủ; mọi người trong nhà này đều biết anh. Để phòng xa anh đứng đợi, sẵn sàng để xin lỗi. Các bức họa ở trên tường chẳng có gì đáng xem. Anh tới gần chiếc bàn một chân phủ đồ thêu Bắc Kì và xếp cuốn an bom rút ra khỏi hộp, một cuốn an bom đẹp, bìa sơn mài, đóng kiểu Nhật Bản; anh đưa ngón tay sờ mặt sơn mài: nom dày và không bị hoen, màu nâu, điểm lốm đốm hoa anh đào. Anh nghĩ tới Nagasaki nơi sản xuất loại sơn mài này, và tới Shyrayama San nơi chế tạo hàng này trong những xưởng màu nâu có các cô gái chuyện trò ríu rít.
… Nước Nhật Bản xinh đẹp và tinh khiết. Chắc hẳn Sélysette sẽ yêu đất nước này.
Anh giở từng cuốn an bom; đó là những bức ảnh, những bức chân dung; tay lần giở mà trí nào không chú ý đến những gương mặt quen quen chốc chốc nhận ra; anh tính chuyện bỏ về không chờ đợi,và nhìn ra cánh cửa mở.
Bỗng anh giật mình: định gập lại cuốn an bom anh chợt trông thấy một bức ảnh của Sélysette.
Anh chưa hề nom thấy ảnh này; đây là bức đầu tiên. Bức ảnh chụp trung thành và xinh đẹp: anh tưởng nom thấy chính bản thân Sélysette. Anh cảm thấy trong cổ họng cái âu lo nhẹ nhàng khiến anh bối rối mỗi lần cô xuất hiện.
Chính bản thân Sélysette đấy; chiếc áo váy với những mép lật mu xơ lin lua tua; mái tóc lồng bồng màu vàng sáng, và nụ cười của cô, vẻ mơ mộng trong đôi mắt cô…
Các bức mành buông rủ khiến căn phòng tối âm âm.
Fierce, không do dự, đánh cắp bức ảnh trong an bom. Ngón tay run run; anh cởi phăng găng tay ra, vì tấm ảnh hơi vướng trong khe trang giấy.
Sau đó, anh ngửng đầu nhìn ra cửa sổ; có tiếng bước chân phía ngoài kia. Anh tuồn bức ảnh vào trong ngực, dưới sơ mi, áp lên da: bức chân dung có thể nghe tiếng tim đập thình thịch vì sợ và vì táo bạo – và anh lui nhanh như tên ăn trộm.
Nhưng về đến tàu, trong căn phòng màu xanh lam gài chặt, anh cảm thấy một niềm vui say sưa tràn ngập trước bức chân dung vừa chiếm lĩnh – chiến tích, kho vàng, thánh tích – anh rỏ những giọt nước mắt điên cuồng trên cô nàng Sélysette tù binh, người từ nay sẽ chia sẻ cuộc đời anh mãi mãi, đến mức đâm sợ hãi kiểu mê tín và anh cất bức ảnh vào trong chiếc phong bì gắn xi, như xưa Poycrate, bạo chúa ở Samos, đã hi sinh chiếc nhẫn quý giá nhất cho Adrastéia.
❀ ❀ ❀
[1] Nhà văn Pháp (1740-1814) tác giả nhiều cuốn sách bị đánh giá là phóng đãng.